- Tán thán công đức Ôn Phước An
- Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
- Hòa Thượng Thích Phước An và "Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng" ở Strasbourg
- Thầy Tuệ Sỹ và Phước An, nhũng dấu chân âm thầm trên con đường thôn dã quê hương
- Sa Môn Thích Phước An
- Tiếng Gõ Nhẹ Trên Tường Rêu…
- Thơ: Tâm Không
- Thơ: Chiều lên đồi Trại Thủy
- Thơ: Đồi Trại Thuỷ Muôn Thuở
- Thơ: Như Không
- Hòa Thượng Thích Phước An, Văn Chương Như Hộ Pháp
- Viết cho Thầy Phước An
Tác giả: Thích Phước An
Lời giới thiệu: Nguyên Không Nguyễn Tuấn Khanh
Lời bạt: Nguyên Giác Phan Tấn Hải
Bìa và trình bày: Uyên Nguyên
Lotus Media và Bodhi Media
xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2020
ISBN: 978-1-79489-959-9
Những người được trình bày trong tập sách này là những tên tuổi lớn đã tác động mãnh liệt đến văn học, thi ca và tư tưởng Việt Nam từ hậu bán thế kỷ XX đến tận ngày nay. Vì thế cho nên, tôi đã tạm mượn một câu thơ trong thi phẩm Ngày sinh của Rắn của Phạm Công Thiện để đặt tên cho tập sách này là:
Hiu hắt Quê hương bến Cỏ hồng
Tất nhiên, quê hương mà Phạm Công Thiện đã dùng trong câu thơ trên, không chỉ là Quê hương đất nước mà tôi đang sống mà còn là quê hương tâm linh mà tôi đã lên đường tìm kiếm từ thuở còn để chởm nữa.
Những người trẻ tuổi trưởng thành giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, chắc chắn không ai là không ảnh hưởng ít nhiều bởi những tên tuổi này.
Riêng tôi, trong buổi xế chiều của cuộc đời, mỗi khi ngồi hồi tưởng lại những ngày được sống bên cạnh Bùi Giáng, Phạm Công Thiện và Tuệ Sỹ giữa lòng Sài Gòn hoa lệ thì tôi lại ngậm ngùi nhớ đến đoạn văn của văn hào Pháp Saint-Exupery mà Bùi Giáng đã dịch một cách tài hoa trong cõi người ta như thế này:
“Đời vốn như thế. Ban đầu vào cuộc sống, chúng ta giàu, giàu nhiều, giàu nữa. Trong bao nhiêu năm, chúng ta trồng cây tỉa hột, nhưng ngày tháng trôi, năm sầu lại, thời gian phá vỡ mất công trình, cây rừng bị chặt, bạn hữu từng người rơi rụng. Bóng tùng quân nghìn tầm xiêu đổ, cái con người trơ trụi còn nghe rõ trong hoang liêu mối ngậm ngùi xuân xanh xa mất”.
Với Quách Tấn và Võ Hồng lại là một trường hợp khác, không “sấm sét” không “mãnh liệt”, như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện và Tuệ Sỹ, nhưng tôi có thể ví họ như rặng núi, dòng sông hay đồng lúa chín vàng nghĩa là lúc nào họ cũng sống êm đềm trong tâm hồn của tôi.
Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, thành phố Nha Trang buồn hiu hắt, nên tôi thường đến thăm Quách Tấn và Võ Hồng. Tôi còn nhớ một lần Quách Tấn tiễn tôi ra tận cổng, nhà ông nhìn ra chợ Đầm, tức là nhìn về hướng tây. Hôm ấy là buổi chiều mùa hạ, ráng đỏ rực ở phía chân trời. Ông nhìn ráng đỏ rồi cao hứng đọc cho tôi nghe một bài thơ trong Mộng Ngân Sơn của ông:
Mộng giáp ngày sen nở
Hẹn về thăm viếng nhau
Chiều chiều ra tựa ngõ
Mây ráng nghẹn bờ lau.
Bây giờ ngồi nhớ lại buổi chiều mùa hạ năm đó, tôi cứ nghĩ bâng quơ trong đầu rằng, nếu Quách Tấn còn sống đến bây giờ thì chắc ông buồn lắm, vì nhiều ngôi nhà cao tầng đã che khuất hết bầu trời Nha Trang mất rồi, đâu còn để ông ra đứng nhìn ráng đỏ vào những buổi chiều mùa hạ nữa?
Không còn hoài nghi gì nữa, đất nước càng phát triển, càng đô thị hóa thì con người lại phải sống nghẹt thở vì bị li cách với thiên nhiên bấy nhiêu.
Vì thế, chẳng phải những thi phẩm như Mộng Ngân Sơn, Đọng Bóng Chiều hay Giọt Trăng của Quách Tấn lúc này cần thiết cho chúng ta như cơn gió nồm thổi đến để xua tan đi cái oi bức của mùa hạ hay sao?
Còn đối với Võ Hồng thì từ khi ba người con của ông lần lượt đi định cư ở nước ngoài, chỉ còn lại một mình ông heo hút trong căn nhà xưa. Trong bài thơ có tên là Di Ngôn, ông đã nói cho các con ông biết cái cảm tưởng của ông như thế nào đối với ngôi nhà mà trước đó ông đã từng sống với các con mình:
Mình cha căn nhà xưa
Trông vừa quen vừa lạ.
Còn đời sống hằng ngày của ông thì sao? Ông không quên cho các con ông biết:
Không còn ngày gian khổ
Chỉ dư ngày tiêu điều.
Đọc bài thơ Di Ngôn khiến tôi lại nhớ đến truyện ngắn Giã Từ Tuổi Thơ có đoạn Võ Hồng viết:
“Trong sự im vắng của đêm nay, màu đỏ và màu vàng của nét chữ bất động như tăng thêm niềm cô đơn. Tội nghiệp thay là những tĩnh vật. Mỗi ngày mỗi hoen úa, mỗi tàn phai, màu sắc mờ đi, mưa gió gặm mòn đi, những hàng chữ không còn sắc sảo, rộn rã như ngày mới trình diện lần đầu”.
Chắc chắn do quá nhiều đêm dài mất ngủ vì tuổi già một mình trong căn nhà xưa đầy ắp những kỷ niệm, nên ông mới cảm nhận được hết nỗi tàn phai không phải chỉ kiếp người thôi, mà còn lắng nghe được cả tiếng thở dài não ruột của những tĩnh vật vô tri vô giác kia nữa.
Sở dĩ tôi đem chuyện cô đơn của Võ Hồng ra nói ở đây, vì tôi nghĩ rằng bất cứ một nghệ sĩ đúng nghĩa nào cũng đều cô đơn. Không hẳn sống một mình mới gọi là cô đơn mà đôi khi ôm ấp một hoài bão, một ước mơ nào đó mà không có ai để chia sẻ, để tâm sự thì cũng rơi vào cô đơn.
Trong truyện ngắn Lá Vẫn Xanh, Võ Hồng kể rằng, một hôm vô tình đọc được một dòng tin ngắn trên một tờ báo, báo viết rằng, có một nhà tiên tri người Ý tiên đoán rằng vào ngày 14 tháng 7 là ngày tận thế. Tác giả thì tính từng ngày, nhưng ông ngạc nhiên, tại sao trước một tai họa khủng khiếp sắp giáng xuống trên đầu của nhân loại như thế mà mọi người vẫn vui chơi nô đùa, ngay cả những đứa con của ông:
“Trưa hôm đó, chàng nhìn lũ con ăn uống ngon lành mà thương hại. Có lẽ nên cho chúng biết rằng, ngày mai là tận thế đi, để chúng tùy nghi sửa soạn lấy”.
Vậy là tất cả những con người sáng tạo đều cô đơn, vì họ đã giành quá nhiều tình thương và ước mơ cho con người và cuộc đời nhưng đau đớn thay con người và cuộc đời không hiểu họ nên họ đành phải ôm nỗi cô độc đó gửi vào trong các sáng tác của mình.
Những bài viết trong tập sách này không hẳn là những bài nghiên cứu về văn học, thi ca hay tư tưởng của họ, mà mục đích của tôi giản dị chỉ là ghi lại những năm tháng mà tuổi trẻ tôi đã may mắn được gần gũi và nhất là được chia sẻ một chút vui buồn trên hành trình đi tìm cái đẹp của họ mà thôi.
Sau cùng, nếu có sai lầm hay khuyết điểm nào thì xin các bậc thức giả và bạn đọc rộng lượng bỏ qua.
Nha Trang mùa Xuân Kỷ Hợi
(2019)
Thích Phước An

Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
của Sư ông Thích Phước An
Minh An (TH)
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng là một câu thơ trong bài Hiu hắt quê hương của thi sĩ tài năng Phạm Công Thiện, được Sư ông Thích Phước An chọn làm tựa đề cho tác phẩm thứ ba của mình - một cuốn tùy bút về chân dung người cùng thời - dày dặn, sang trọng và tao nhã
Lời thưa trước đầu cuốn sách rằng, “... những bài viết trong tập sách này không hẳn là những bài nghiên cứu về văn học, thi ca hay tư tưởng của họ. Mục đích của tôi giản dị chỉ là ghi lại những năm tháng mà tuổi trẻ tôi đã may mắn được gần gũi và nhất là được chia sẻ một chút vui buồn trên hành trình đi tìm cái đẹp của họ mà thôi”. Cứ vậy, theo dòng thời gian, những chân dung lần lượt hiện lên, khiêm cung mà lộng lẫy, khổ ải mà thoát tục bao dung.
Cuốn sách chính là dịp may hiếm có để bạn đọc ngày nay diện kiến các nhân vật trong giới trí thức miền Nam. Từ Sư ông Huyền Không đến Quách Tấn, Bùi Giáng, Võ Hồng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn... họ đều là huyền thoại một thời với những ai từng sống và yêu văn chương miền Nam từ thập niên 60 song song với sự thăng trầm của Phật giáo đi cùng thời cuộc. Sư ông Thích Phước An là hậu bối “may mắn được gần gũi”, từ một cậu bé ngây thơ mồ côi cha vì quá nghèo khổ phải theo sư chú vào chùa cho đến khi xuất gia trở thành trưởng lão hòa thượng như hiện nay. Bàng bạc cả tác phẩm đạo và đời hòa quyện nâng đỡ nhau, cứu rỗi và thanh lọc.
Khi nhà sư viết sách
Ở Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng, Sư ông Thích Phước An đã từ chỗ trân trọng mối duyên bút mực trên nền suy tư của đạo lý, của tư tưởng... viết ra như một cách trải lòng cùng những người bạn thiết. Nhờ vậy, người đọc hôm nay như tự thấy mình được cùng trở về với không gian của một thời bình yên trong tao loạn, về với những tấm lòng gắn bó sắt son giữa lúc quê hương tan rã, về với những tư tưởng vượt thoát khỏi nhu yếu đời thường...
Về, bắt gặp Tuệ Sỹ không chỉ là một tâm hồn thơ "thâm viễn u u" như cách nói của Phạm Công Thiện. Mà Tuệ Sỹ trong mối thâm tình với tác giả ở đồi Trại Thủy có chất men của chữ nghĩa thánh hiền, có nguồn nước của triết lý Phật giáo, có ngọn lửa nhập thế và cả tinh thần trầm tư mà quyết liệt chọn cho mình một cách sống trước biến động của quê hương.
Đọc từng câu chữ Sư ông Thích Phước An viết ra, cảm giác như những người bạn của sư ông đã phiêu dạt tận nơi nào, đóng góp và dấn thân, tiến thoái và thành bại tận đâu đâu... Duy chỉ còn nhà sư tuổi ngày một cao ngồi nơi đồi Trại Thủy, tỉ mẩn lần giở tàng thư và lần giở từng dòng hồi tưởng, để viết lại những gì sâu lắng nhất.
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng là một câu thơ trong bài Hiu hắt quê hương của thi sĩ tài năng Phạm Công Thiện, được sư ông Thích Phước An chọn làm tựa đề cho tác phẩm thứ ba của mình.
Đó là Quách Tấn trong mối quan tâm về những huyền thoại khai sơn lập địa tạo thành nơi chôn nhau cắt rún của dân quê.
Là Phạm Công Thiện uyên áo một bộ óc suy tư và thâm thúy một tấm lòng dâng cả cho quê hương đất nước.
Là Hoài Khanh trong cuộc lữ của đời mình đã tình nguyện vướng vào nhiều mảnh đời khác nữa, để rồi cảm nhận về thân phận khiến ông buột ra câu thơ tuyệt tác: "Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng / Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu".
Là Võ Hồng với những thao thức về quê hương, người tha thiết muốn nắm bắt cho kỳ hết những nét đẹp của quê hương để đem vào tác phẩm chia sẻ cho người đời...
Đọc, rồi trộm nghĩ cái nỗi niềm thao thức trong những người trí thức như ở sách này chẳng biết ngày nay có còn không?
Cảm thức quê hương đến mức thấy quê nhà thiêng liêng như Phạm Công Thiện đến nay có còn ai chia sẻ? Bùi Giáng với cuộc đời và tác phẩm quyện nhau thành ngọc quý, hiện giờ có ai bước tiếp được chăng?...
Trong lúc mọi thứ đang dường như bị sa mạc hóa từ nhiều phía, người có tấm lòng kết nối với tiền nhân qua tư tưởng và ngữ nghĩa văn thơ như Sư ông Thích Phước An là trường hợp quý lạ.
Cuốn sách như một đốm lửa hồng vùi sâu giữa tàn tro một đêm cuối thu tịch mịch...
Vậy mà có lúc, cũng không giấu được nỗi đớn đau trước thực tại hiện tiền: "ngày nay, nền văn minh hiện đại đã cung cấp cho chúng ta nhiều thú vui thấp hèn quá, nên dường như tâm hồn của chúng ta đã nguội lạnh...". Phải chăng điều ấm áp còn lại chỉ có thể tìm trong những trang sách, với rất nhiều tâm sự về học giới một thời không dễ gì có được.
“Những điều ghi được từ mùa thu”, “Ngôi chùa trong tâm tưởng” mới thực sự lay động tới thẳm sâu tâm hồn con người vì ký ức tuổi thơ trong trẻo mà ai cũng có. Hình ảnh chú bé gầy gò co ro trong cơn mưa tối trời bên bờ sông hoang vắng đợi mẹ đi mượn gạo về nấu cơm, căn nhà của ngoại tràn ngập nắng vàng nay chỉ còn lại trong ký ức mịt mù, chiếc sõng xoay tròn giữa dòng nước chảy xiết, tiếng mang tác giữa đêm báo điềm dữ, tiếng cọp rống bên vách thảo am làm kinh động cả núi rừng thâm u... hiện lên sống động và thân thuộc đến rưng rưng.
Và cuốn sách ấy như một đốm lửa hồng vùi sâu giữa tàn tro một đêm cuối thu tịch mịch...