49. Ăn chay

24/02/201116:04(Xem: 12345)
49. Ăn chay

PHÁ MÊ KHAI NGỘ
Lê Sỹ Minh Tùng

49. Ăn chay

Ăn chay có nghĩa là ăn những loài thảo mộc như hoa quả, rau cải, ngũ cốc và không ăn những món thuộc loài động vật như thịt cá, tôm cua, sò, ốc hay những vật hữu tình biết tham sống sợ chết như con người.

Phật dạy: ”Ăn chay là cốt yếu để nuôi dưỡng lòng từ bi và tinh thần bình đẳng”.

Nếu chúng ta vì muốn ăn cho khoái khẩu mà nhẫn tâm nhìn cảnh chặt đầu, lột da những con vật hiền lành vô tội hay nhẫn tâm bịt tai giả điếc trước những tiếng kêu la thảm thiết của những con vật đang giãy dụa trên tấm thớt, trên bàn thịt thì sao gọi là Phật tử cho được.

Nếu nói là “Vật dưỡng nhơn” thì thật là một quan niệm sai lầm cấu tạo bởi sự ích kỷ và ngạo mạn mà thôi. Bởi vì nếu con người muốn sống thì con vật đâu có muốn chết bao giờ.

Nếu không có lòng thương xót trước những cảnh giết chóc thì hạt giống từ bi mỗi ngày thêm khô héo. Như thế thì công phu tu hành, tụng kinh niệm Phật cũng trở thành vô nghĩa.

Kinh Lăng Nghiêm nói: ”Nếu giết một mạng thì phải trả lại một mạng. Tâm giết hại chẳng dứt trừ thì không thể nào ra khỏi trần lao được”. Vậy muốn tránh oan báo luân hồi thì chúng ta nên tránh các điều tội lỗi thuộc về giới sát sanh. Người Phật tử nên ăn chay, nếu ăn mặn hoài thì không thể nào dứt hết nợ thân mạng và nợ xương thịt, máu huyết được.

Vậy cách thức ăn chay như thế nào?

Đạo Phật không đòi hỏi người tu Phật phải bỏ ăn mặn hoàn toàn để ăn chay trường khi mới tu Phật. Nhưng muốn đạt đến kết quả tốt nhất là chúng ta từ từ bỏ dần bằng cách thay thế ăn mặn bằng ăn chay theo kỳ hạn và từ đó theo ngày tháng thì chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái khi trở thành trường chay.

1) Ăn chay kỳ: tức là ăn có kỳ hạn nhứt định trong mỗi tháng hay mỗi năm.

Ø Nhị trai: Ăn hai ngày chay trong mỗi tháng vào ngày rằm và ngày mồng một.

Ø Tứ trai: Ăn bốn ngày: mồng một, mồng tám, rằm và hai mươi ba.

Ø Lục trai: Ăn sáu ngày: mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, hai mươi ba, hai mươi chín hay ba mươi.

Ø Thập trai: Ăn mười ngày: mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi tám, hai mươi chín, và ba mươi.

Ø Nhất nguyệt trai: là ăn chay một tháng vào tháng giêng hay tháng bảy.

Ø Tam nguyệt trai: là ăn ba tháng chay: tháng giêng, tháng bảy và tháng chín hay tháng mười hoặc ăn liên tiếp trong ba tháng.

Nếu tập ăn chay kỳ trong một thời gian mà không gặp phản ứng nào về thân, tâm và nhận thấy có lợi ích thì có thể tiến đến trường chay.

2)Ăn chay trường: là ăn chay cho đến trọn đời.

Những điều cần phải tránh cho người ăn chay:

Nếu có phúc duyên thì chúng ta ăn chay được dễ dàng nhưng đừng sanh lòng kiêu mạn tự cho mình là hơn người. Người ăn chay là vì đạo pháp chớ không phải để cho người khen. Khi ăn chay không có nghĩa là hành hạ thân xác. Chúng ta ăn uống bình thường để nuôi thân mà tu đạo, chỉ khác là không ăn thịt mà thôi.

Gần đây có phong trào nấu đồ chay theo hình tướng của món mặn. Chẳng hạn như: gà xào xã ớt, súp măng cua, cá kho tộ, vịt Bắc Kinh ăn với bánh bao, mắm thái ăn với thit ba rọi, gà rô ti, đùi gà quay… Ngạc nhiên nhất là chúng ta thấy các chùa tại hải ngoại nấu những món nầy để quý thầy, quý ni cô và Phật tử thập phương dùng. Khi mới nhìn thì không cách nào phân biệt là đồ chay hay mặn. Nên nhớ rằng rất nhiều người bây giờ họ không muốn ăn thịt vì lý do sức khỏe chứ không phải là vì tín ngưỡng. Thành thử họ làm đủ thứ món để ăn cho ngon miệng mà không sợ đau bệnh và làm giảm lượng mở trong máu. Còn chúng ta là người tu Phật thì mình phải diệt trừ vọng tưng để tâm được thanh tịnh. Một khi ăn chay mà lòng còn tưởng nhớ đến thịt cá, món ngon vật lạ thì làm sao mà tu cho được. Tu như vậy thì biết bao nhiêu kiếp mới đạt được đạo? Tất cả những kinh sánh Phật giáo đều cấm đoán việc nầy. Nếu không thể ăn chay thì cứ ngã mặn chớ không thể nói ăn vịt quay chay mà có mang hơi hám của Phật được. Đó chỉ làm trò cười cho thế gian mà thôi.

Các loại trứng có thể ấp nở thành con và có mùi tanh thì người ăn chay thanh tịnh tốt nhất là không nên ăn. Tuy trứng mua ngoài chợ thì phần nhiều không có sinh mạng nhưng chúng rõ ràng không phải là thực vật. Do đó nếu đứng trên lập trường sát sinh mà nói thì ăn trứng nầy không gọi là phạm giới cũng không tổn lòng từ bi. Còn theo thói quen ăn chay thì nên tránh vậy.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2025(Xem: 1740)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 3757)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2110)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
25/04/2025(Xem: 3480)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
15/01/2025(Xem: 1459)
Thiền Tông dạy rằng người nào sống với Vô tâm là giải thoát. Trần Nhân Tông, vị Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng viết rằng khi gặp cảnh, giữ được vô tâm, thì không cần hỏi tới Thiền nữa. Đức Phật trước đó đã dạy pháp Vô tâm trong Kinh Phật Tự Thuyết Ud 1.10. Bài này sẽ viết theo nhiều bản Anh dịch trên Sutta Central. Một đạo sĩ tên là Bahiya cư trú ở thị trấn Supparaka. Bahiya được cư dân tôn kính, cúng dường y phụ, nhà ở và nhiều thứ. Bahiya tự tin rằng đã chứng quả A la hán, hoặc sắp thành A la hán. Một vị cõi trời, kiếp trước từng là người thân của Bahiya, muốn điều tốt lành cho Bahiya, nên hiện ra, nói với Bahiya rằng Bahiya chưa phải là A la hán, và cũng chưa tu đúng con đường để trở thành A la hán.
15/01/2025(Xem: 1469)
Trong rất nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam, cũng như truyện cổ của nhiều quốc gia khác trên thế giới, có một niềm tin vững chắc rằng mỗi người chúng ta đều có một kiếp sau ở tương lai. Không chỉ riêng với Phật giáo dân gian, hầu hết (và có thể là tất cả) các tôn giáo khác, đều tin rằng có một kiếp sau, hay một đời sau. Chuyện kiếp sau này cần được phân tích minh bạch, để không rơi vào một niềm tin nhầm lẫn.
15/01/2025(Xem: 1495)
Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi. Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.
15/01/2025(Xem: 1219)
Bài này sẽ nói về vai trò của người cư sĩ với nhiệm vụ nên học nhiều về Kinh điển, nên hiểu Phật pháp cho thâm sâu, nên tu tinh tấn để làm gương cho người đời thường, và nên sống đơn giản nhằm thích nghi với mọi hoàn cảnh cần để hoằng pháp. Không phải ai cũng có cơ duyên để học nhiều về Kinh điển. May mắn, thời nay chúng ta đã có kinh điển dịch ra tiếng Việt rất nhiều. Các Kinh điển, Bộ Nikaya và Bộ A Hàm đều đã dịch ra tiếng Việt. Trong khi đó, các buổi giảng Kinh do nhiều vị tăng ni thực hiện đã phổ biến nhiều trên YouTube và các trang web về Phật học. Những gì thắc mắc, có thể hỏi trên mạng Google hay các mạng trí tuệ nhân tạo, như ChatGPT hay Gemini, đều có thể được giải thích ở mức độ tổng quát. Tuy nhiên các giải thích này đều khả vấn, có khi là trích dẫn theo sự giải thích của các học giả Ky Tô Giáo hay không phải Phật tử, cần kiểm chứng.
15/01/2025(Xem: 1373)
Trong khi học Phật, chúng ta thường đọc thấy ba pháp ấn là vô thường, khổ, và vô ngã. Đôi khi, chúng ta đọc thấy trong kinh nói về bốn pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết Bàn. Tùy theo dị biệt bộ phái, mỗi vị thầy ưa nói cách này hay cách kia. Thực tế, nói cách nào cũng đúng, cũng phù hợp kinh điển. Trong khi đó, theo cách nhìn của Thiền tông Việt Nam, tất cả các pháp tự thân đã là tịch diệt, bời vì lìa phiền não thì không có bồ đề, lìa sanh tử thì không có Niết bàn. Cũng như sóng không lìa nước, và ảnh không lìa gương. Do vậy, Thiền tông nêu lên ý chỉ là phải nhìn thấy để sống với pháp tánh, với Niết bàn tự tâm.
15/01/2025(Xem: 1388)
Trong nhiều kinh, Đức Phật khi giải thích về vô thường đã hỏi rằng có phải mắt và cái được thấy là vô thường hay không, rồi hỏi có phải tai và cái được nghe là vô thường hay không, và rồi vân vân. Như thế, đối với nhiều người tu, quán sát nơi con mắt sẽ là bước đầu để học đạo giải thoát. Tuy nhiên, đối với Thiền Tông Việt Nam, có một số vị thầy dạy rằng hãy nhìn như một người mù nhìn, và hãy nghe như một người điếc nghe. Lời dạy về con đường giải thoát này là như thế nào?