Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

LỜI NÓI ĐẦU

03/01/201109:46(Xem: 5379)
LỜI NÓI ĐẦU


LỜI NÓI ĐẦU


Thế nào gọi là Phật Lý Căn Bản? – Giáo lý chính yếu của Phật giáo, tóm lược các quan điểm trong ba tạng (Tripitaka). Thích Ca Thế Tôn (Sakyalokajyestha) sau khi chứng thành đạo quả, Ngài đi chu du khắp xứ Ấn Độ thuyết pháp độ sanh 45 năm trường, hơn 300 hội. Giáo lý của Ngài có chia ra 84, 000 pháp môn, vô lượng diệu nghĩa. Yếu điểm trong giáo lý của đức Phật là để thuyết giảng cho các tầng lớp chúng sanh: nhận rõ thể tướng của vũ trụ và nhân sinh, hiểu thấu đâu là bến mê, đâu là bờ giác, thế nào là chơn, thế nào là vọng. Giáo lý của đức Phật mặc dù có chia ra nhiều pháp môn như thế, nhưng điểm cốt yếu, chúng ta phải hiểu biết tường tận về căn bản, Phật Lý Căn Bản là nền tảng duy nhất để mọi người đạt đạo giải thoát (moksa). Nó là con đường giúp ta tiến đến Niết Bàn (Nirvana). Cũng như thế, muốn xây dựng toà lầu đài vững chắc, điều kiện trước tiên, chúng ta phải lo xây đắp nền móng cho thật kiên cố.

Chúng sanh trong thế giới đầy tham dục, luyến ái nầy, hằng ngày gây tạo tội lỗi rất dễ dàng và đọa lạc cũng không khó. Mọi nỗi phiền não trong thế giới Ta Bà (Saba lokadhatu) nầy hoặc do đời trước con người đã tạo, hoặc do đời nầy đã và đang gây ra, thì con đường trầm luân sau khi chết thật đáng lo đáng sợ! Chúng sanh bị chìm đắm trong bể khổ sanh tử đã lâu đời lâu kiếp, vì không thấu rõ giáo lý căn bản vả không chịu thật hành Phật Lý Căn Bản. Người sinh vào nhân luân thì rất ít, nhưng kẻ bị đọa vào ác thú thì quá nhiều, nhân quả xoay vần, khổ não khó mà tránh khỏi. Chúng ta không cố tâm tìm hiểu giáo lý và áp dụng giáo lý để vượt qua bể kổ sanh tử trong đời nầy thì muôn kiếp nghìn đời về sau khó mà tìm đường giải thoát. Trước kia chúng ta bị bức màn vô minh (avidya) che lấp chân tánh (Buđhata) nên phải trôi lăn trong biển sanh tử, hôm nay được hiểu giáo lý của Phật, biết được đâu là khổ, đâu là vui, ngoài thế giới đau khổ triền miên nầy còn có nhiều thế giới khác thanh tịnh trang nghiêm, quang minh quảng đại.

Tâm muốn bốn ngàn pháp môn, ba tạng kinh điển của Phật truyền lại, mặc dù giải thích rộng rãi sâu xa, nhưng không ngoài Phật lý căn bản trong tập sách nầy, Giáolý căn bản chỉ cho ta thấy lời Phật thuyết pháp không sai, dẫn chứng cho ta thấy bánh xe luân hồi (samsara) không bao giời ngừng quay trong dục giới (kamavacara) nầy. Nhờ giáo ly căn bản chúng ta biết chắc rằng họa hay phước do mình tự tạo. Phật Ly Căn Bản nói cho chúng ta biết mỗi người đều có thể thành Phật, vì ai cũng đều có Phật tánh. Các vấn đề giải thích trong tập sách nầy chúng tôi không chú trọng phần lý thuyết suông, mà điểm cốt yếu là hy vọng mỗi người phải hiểu rõ rồi thật hành, có thật hành mới thấy chân giá trị của nó.

Sách nầy là một tập tài liệu căn bản, giúp cho các Giảng sư, Giáo sư cũng như sinh viên trong phân khoa Phật học và các Viện Cao Đẳng Phật Giáo, nhất là Giảng sư đoàn, khi đi giảng đạo các nơi. Tài liệu viết tập sách nầy, các điểm chính yếu, chúng tôi dựa theo trong tạng Phạn ngữ, về thể thức trình bày, chúng tôi theo các bài thuyết pháp của chư vị Đại Pháp Sư Trung Quốc, đã giảng giải qua nhiều Pháp hội đạo tràng.

Trong khi soạn viết và ấn hành tập sách nầy, với Phật sự đa đoan, nhất là việcv Hoằng Pháp và Giáo Dục, chúng tôi biết thế nào cũng không tránh khỏi mọi điều sơ sót từ hình thức lẫn nội dung. Vậy có chỗ nào sai lầm mong các vị cao minh vui lòng chỉ giáo, để kỳ sau tái bản được hoàn bị hơn.

Mùa an cư năm Quí Sửu, P.L 2517

Ấn Quang, ngày 14 tháng 06 năm 1973

THÍCH HUYỀN VI

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/201215:10(Xem: 2562)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
28/09/201119:32(Xem: 1695)
Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩalà nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giácngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
14/01/201109:32(Xem: 2617)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
23/04/201316:02(Xem: 3346)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
27/05/201309:42(Xem: 4432)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Hoàng Lộ,Bệ Lan Nhã, bấy giờ Vua Thần (Vua A Tu La) có tên là Bà La La và Thái Tử Thần tên Mâu Lê Già có tướng sắc uy nghi, ánh sáng chói lọi, vào lúc quá nửa đêm đến chỗ đức Phật đảnh lễ rồi đứng một bên. Khi ấy, đức Phật hỏi: -Này Bà La La, có phải mọi Thần đều không bị suy thoái về tuổi thọ, hình sắc,vui vẻ, sức mạnh, cho nên các Thần thích sống trong biển lớn chăng?
27/03/201321:15(Xem: 1593)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
16/02/201323:12(Xem: 2592)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.