Lời Tác Giả

11/12/201016:13(Xem: 11411)
Lời Tác Giả

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC

Tâm Minh Lê Đình Thám

LỜI TÁC GIẢ

Chư Phật theo căn cơ của chúng sanh mà thuyết pháp. Căn cơ của chúng sanh có sai khác. Đối với những người chỉ mong muốn hưởng phúc thế gian, trong cõi người hoặc trên các cõi trời, thì Phật dạy về Nhân thừa và Thiên thừa. Đối với những người mong cầu chóng được giải thoát khỏi sự sống chết, thì Phật dạy về Thanh Văn thừa hoặc Duyên giác thừa. Riêng đối với những người có lòng từ bi rộng lớn, mong muốn độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo, thành Phật dạy về Bồ-tát thừa, tức Đại thừa.

Nhưng mặc dầu theo căn cơ, Phật dạy những pháp môn thích hợp, Phật vẫn không rời bản nguyện, muốn cho tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo, nên cả những phép Nhân thừa, Thiên thừa của đạo Phật, cũng rất khác với lối tu của ngoại đạo và đều là một bước trên con đường tu hành, đi đến quả Phật.

Sự khác nhau giữa năm thừa lả ở các thừa dưới, Phật phát triển nhiều những đạo lý thông thường và chỉ nói lược về những đạo lý cao sâu. Ngược lại, ở các thừa trên, Phật phát triển nhiều những đạo lý cao sâu và chỉ nói lược về những đạo lý thông thường.

Vì thế, những người có căn cơ Đại thừa, cũng có thể tu hành theo Nhân thừa, Thiên thừa, đi sâu vào những đạo lý vi diệu của các thừa ấy và chứng được những quả vị Tam hiền Thập thánh của Bồ-tát thừa, ví dụ như thọ phép Tam quy và nhất tâm quy y tự tính Tam bảo, hoặc tu phép thập thiện mà đoạn trừ si mê đến cỗi gốc, thì vẫn có thể minh tâm kiến tánh.

Ngược lại, cũng có người tu học Bồ-tát thừa, nhưng căn cơ quá thấp kém thì cuối cùng cũng chỉ được những quả Nhân thừa mà thôi. Lại có những vị tu học Bồ-tát thừa, nhưng cứ hiểu chữ nào nghĩa nấy, không đi sâu vào Đệ nhất nghĩa đế, thì cũng chỉ chứng được những quả vị Thanh Văn, vì chính hai chữ Thanh Văn cũng có nghĩa là: “Nghe tiếng nói chứ không nghe đạo lý”. Lại cũng có vị tu tập theo đạo lý “Pháp giới trùng trùng duyên khởi” mà chỉ chứng được những quả vị của Duyên Giác thừa, vì quá thiên về tự giác, mà không giác được đại nguyện giác tha rộng lớn.

Xét như vậy thì rõ việc chia ra năm thừa chỉ là phương tiện, chứ không phải có những ranh giới nhất định, giữa thừa này và thừa khác. Huống nữa, việc học hỏi chu đáo Nhân thừa và Thiên thừa, cũng là cơ sở để hiểu rõ đạo lý các thừa trên, thì càng nhận biết Nhân, Thiên thừa cũng là một bước, trên con đường viên thành Phật đạo.

Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi. Các bạn sẽ thấy Phật pháp là một giáo lý hoàn chỉnh, đi từ chỗ thấp đến chỗ cao và nếu chưa hiểu rõ về Nhân thừa, Thiên thừa thì cũng khó lòng hiểu được những đạo lý cao xa của các thừa trên. Chúng tôi đặc biệt chú ý các bài Nhân quả và nghiệp báo, vì các bạn khó tìm những đoạn tổng hợp đầy đủ những đạo lý nào trong các kinh điển.

Chúng tôi trông mong sự giới thiệu sơ lược đạo lý của Phật trong các bài Phật học thường thức sẽ giúp đỡ các bạn sơ cơ học hiểu dễ dàng hơn Tam tạng kinh điển của Phật giáo, làm cho chúng tôi được dịp báo ơn Tam bảo trong muôn một.

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Viết xong tại chùa Quảng Bá, Hà Nội

Ngày 18 tháng 10 năm 1965

Tâm minh Lê Đình Thám

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2025(Xem: 1705)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 3738)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2099)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
25/04/2025(Xem: 3455)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
15/01/2025(Xem: 1456)
Thiền Tông dạy rằng người nào sống với Vô tâm là giải thoát. Trần Nhân Tông, vị Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng viết rằng khi gặp cảnh, giữ được vô tâm, thì không cần hỏi tới Thiền nữa. Đức Phật trước đó đã dạy pháp Vô tâm trong Kinh Phật Tự Thuyết Ud 1.10. Bài này sẽ viết theo nhiều bản Anh dịch trên Sutta Central. Một đạo sĩ tên là Bahiya cư trú ở thị trấn Supparaka. Bahiya được cư dân tôn kính, cúng dường y phụ, nhà ở và nhiều thứ. Bahiya tự tin rằng đã chứng quả A la hán, hoặc sắp thành A la hán. Một vị cõi trời, kiếp trước từng là người thân của Bahiya, muốn điều tốt lành cho Bahiya, nên hiện ra, nói với Bahiya rằng Bahiya chưa phải là A la hán, và cũng chưa tu đúng con đường để trở thành A la hán.
15/01/2025(Xem: 1462)
Trong rất nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam, cũng như truyện cổ của nhiều quốc gia khác trên thế giới, có một niềm tin vững chắc rằng mỗi người chúng ta đều có một kiếp sau ở tương lai. Không chỉ riêng với Phật giáo dân gian, hầu hết (và có thể là tất cả) các tôn giáo khác, đều tin rằng có một kiếp sau, hay một đời sau. Chuyện kiếp sau này cần được phân tích minh bạch, để không rơi vào một niềm tin nhầm lẫn.
15/01/2025(Xem: 1493)
Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi. Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.
15/01/2025(Xem: 1215)
Bài này sẽ nói về vai trò của người cư sĩ với nhiệm vụ nên học nhiều về Kinh điển, nên hiểu Phật pháp cho thâm sâu, nên tu tinh tấn để làm gương cho người đời thường, và nên sống đơn giản nhằm thích nghi với mọi hoàn cảnh cần để hoằng pháp. Không phải ai cũng có cơ duyên để học nhiều về Kinh điển. May mắn, thời nay chúng ta đã có kinh điển dịch ra tiếng Việt rất nhiều. Các Kinh điển, Bộ Nikaya và Bộ A Hàm đều đã dịch ra tiếng Việt. Trong khi đó, các buổi giảng Kinh do nhiều vị tăng ni thực hiện đã phổ biến nhiều trên YouTube và các trang web về Phật học. Những gì thắc mắc, có thể hỏi trên mạng Google hay các mạng trí tuệ nhân tạo, như ChatGPT hay Gemini, đều có thể được giải thích ở mức độ tổng quát. Tuy nhiên các giải thích này đều khả vấn, có khi là trích dẫn theo sự giải thích của các học giả Ky Tô Giáo hay không phải Phật tử, cần kiểm chứng.
15/01/2025(Xem: 1362)
Trong khi học Phật, chúng ta thường đọc thấy ba pháp ấn là vô thường, khổ, và vô ngã. Đôi khi, chúng ta đọc thấy trong kinh nói về bốn pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết Bàn. Tùy theo dị biệt bộ phái, mỗi vị thầy ưa nói cách này hay cách kia. Thực tế, nói cách nào cũng đúng, cũng phù hợp kinh điển. Trong khi đó, theo cách nhìn của Thiền tông Việt Nam, tất cả các pháp tự thân đã là tịch diệt, bời vì lìa phiền não thì không có bồ đề, lìa sanh tử thì không có Niết bàn. Cũng như sóng không lìa nước, và ảnh không lìa gương. Do vậy, Thiền tông nêu lên ý chỉ là phải nhìn thấy để sống với pháp tánh, với Niết bàn tự tâm.
15/01/2025(Xem: 1386)
Trong nhiều kinh, Đức Phật khi giải thích về vô thường đã hỏi rằng có phải mắt và cái được thấy là vô thường hay không, rồi hỏi có phải tai và cái được nghe là vô thường hay không, và rồi vân vân. Như thế, đối với nhiều người tu, quán sát nơi con mắt sẽ là bước đầu để học đạo giải thoát. Tuy nhiên, đối với Thiền Tông Việt Nam, có một số vị thầy dạy rằng hãy nhìn như một người mù nhìn, và hãy nghe như một người điếc nghe. Lời dạy về con đường giải thoát này là như thế nào?