Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

PHẦN THỨ HAI-CHƯƠNG I : TU THIỆN PHÁ ÁC

14/05/201319:34(Xem: 3232)
PHẦN THỨ HAI-CHƯƠNG I : TU THIỆN PHÁ ÁC

 

Kinh lời vàng

Tác giả: Dương tú Hạc

Dịch giả: HT Thích Trí Nghiêm

---o0o---

PHẦN II
NGÔN HÀNH
--- o0o ---
CHƯƠNG I
TU THIỆN – PHÁ ÁC
--- o0o ---

Lời nói, việc làm, trung thực đức tin; trong ngoài phải thuận hợp với nhau.

Kinh Vô Lượng Thọ

Dùng nhiều ví dụ đễ rộng nói ngôn giáo.

Kinh Pháp Hoa

Kỳ Bà nói: bề tôi này nghe Phật thường nói tu một niệm lành phá được trăm điều ác.

Phật dạy: Đại vương, ví như chút kim cang, có thể phá núi tu di; cũng như lửa có thể đốt cháy tất cả; như chút thuốc độc, có thể hại mạng chúng sanh. Chút lành cũng vậy, tuy gọi chút lành, kỳ thật là lớn, vì sao vậy? Vì có thể phá đại ác vậy.

Đừng khinh ác nhỏ cho là không tội, giọt nước tuy ít chứa dồn đầy lu.

Kinh Niết Bàn

Vững tâm chánh ý, trai giới trong sạch trong một ngày đêm, hơn ở bên cõi vô lượng thọ tu hành trăm năm, sao thế? Vì bên nước Phật kia vô vi tự nhiên nghĩa là các điều lành đều chứa nhóm, không có mảy may điều ác vậy.

Ở cõi này tu hành mười ngày đêm hơn ở các cõi nước các đức Phật khác tu hành ngàn năm. Tại vì sao? Vì các cõi các đức Phật kia nhiều kẻ làm lành mà ít người làm ác, phước đức tự nhiên, không có điều kiện tạo ác vậy.

Kinh Vô Lượng Thọ

Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc: Hỡi Đại vương, nay phỏng có người thân tín đến bảo với nhà vua rằng có bốn núi lớn ở bốn phương sắp sập, sẽ đè hại nhân dân thì nhà vua có kế và phương sách chi để đối phó không?

Vua thưa: Thưa Thế Tôn, nếu quả có việc ấy xảy ra, thật không nơi lánh nạn. Nhưng chỉ chuyên tâm trì giới và tu bố thí mà thôi.

Phật khen: Hay thay Đại vương, ý Ta nói bốn núi là muốn chỉ bốn món sanh, lão, bịnh, tử của chúng sanh. Nó thường hay đến cướp mất mạng người, làm sao chẳng tu giới và bố thí được. Vua nói: Thưa đức Thế Tôn, trì giới và bố thí được những quả báo gì?

Phật đáp: sanh về cõi người hoặc cõi trời được hưởng nhiều vui sướng.

Kinh Niết Bàn

Rõ biết lỗi phiền não, chẳng chạy theo phiền não, hay nhẫn chịu ác khổ, chẳng sanh lòng sợ hãi, ai đủ bốn pháp này, chẳng làm điều ác, ưa tu pháp lành, phân biệt lành dữ, gần gũi chánh pháp, thương xót chúng sanh, rõ biết kiếp trước, đủ năm món này chẳng bị lay động.

Nếu nghe người chê, thì an nhẫn lòng, hoặc nghe người khen, thì nên hổ thẹn; tu đạo chẳng kiêu thấy người chia lìa, khiến họ hòa hiệp, nêu điều hay của người, che việc dở của người, đừng nói xấu của người. Đối với phiền não nên nghĩ như kẻ oán; đối với thiện pháp, nên tưởng như người thân thuộc. Tuy cúng dường cha mẹ, thầy bạn chẳng nên nhơn đó mà khởi kiêu mạn.

Kinh Ưu Bà Tắc Giới

Phật bảo Xá Lợi Phất: Bồ tát đối tất cả chỗ, thà chịu mất thân mạng, xa lìa các hạnh tà dục, xa lìa lời giả dối, hai lưỡi, xa lìa lời thêu dệt, giận dữ, tà kiến, thường trọn nên hạnh trong sạch hơn hết.

Kinh Bồ Tát Chánh Pháp

Người có được hành vi công quả, chỉ bởi bỏ dục lạc thế gian mà sanh.

Kinh Tăng Nhứt A Hàm (Văn Ba Lị)

Phước nghiệp như trái chín, chẳng phải nhờ cúng thần mà được. Duy người nào cỡi xe trì giới, được sanh trên trời. Phải biết tất cả việc do làm mà thành, chớ chẳng phải nhờ cúng cầu mà được.

Kinh Tạp Bảo Tạng

--- o0o ---


Trình bày :Nhị Tường

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/201215:10(Xem: 2339)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
28/09/201119:32(Xem: 1595)
Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩalà nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giácngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
14/01/201109:32(Xem: 2307)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
23/04/201316:02(Xem: 3134)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
27/05/201309:42(Xem: 4303)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Hoàng Lộ,Bệ Lan Nhã, bấy giờ Vua Thần (Vua A Tu La) có tên là Bà La La và Thái Tử Thần tên Mâu Lê Già có tướng sắc uy nghi, ánh sáng chói lọi, vào lúc quá nửa đêm đến chỗ đức Phật đảnh lễ rồi đứng một bên. Khi ấy, đức Phật hỏi: -Này Bà La La, có phải mọi Thần đều không bị suy thoái về tuổi thọ, hình sắc,vui vẻ, sức mạnh, cho nên các Thần thích sống trong biển lớn chăng?
27/03/201321:15(Xem: 1468)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
16/02/201323:12(Xem: 2483)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.