Chiếc Mõ Chùa Quê, Khảo cứu và phục hưng

03/07/202518:53(Xem: 2175)
Chiếc Mõ Chùa Quê, Khảo cứu và phục hưng


mo gia tri (3)mo gia tri (2)

CHIẾC MÕ CHÙA QUÊ

Khảo cứu và phục hưng

Bài của Đinh Công Thanh Minh



Trong tất cả các pháp khí thiền gia, chiếc Mõ là một trong những pháp khí quan trọng, được sử dụng thường nhật trong các thời khoá công phu của tự viện. Khi tiếng mõ được cất lên, hết thảy đại chúng đều nhất tâm xướng tụng theo đúng nhịp trường canh của vị duyệt chúng. Từ đó, cùng với các khí cụ khác đã tạo nên không khí trong buổi lễ thêm phần trang nghiêm, trầm hùng.

Mõ là tiếng gọi thân thuộc của người Việt chúng ta, âm Hán là Mộc Đạc (木鐸). Từ Đạc 鐸, trong chữ có bộ Kim 金, thể hiện đó là môt nhạc khí bằng kim loại. Ban đầu theo từ điển Thiều Chửu là cái chuông lắc, ngày xưa khi nào ra tuyên mệnh lệnh thì lắc chuông. Đó là khởi nguyên khi chúng ta thấy được hình ảnh chiếc chuông lắc cổ với dáng vẻ tròn, có quai và thêm phần rảnh xẻ ngang, khi rung lắc thì phần thanh kim loại được bỏ vào bên trong sẽ phát ra tiếng. Sau quá trình giao thoa văn hoá trong thời gian dài đã hình thành nên chiếc mõ bằng gỗ dựa trên kiểu dáng như chiếc chuông vậy, và người ta đã thêm chữ Mộc 木vào trước chữ Đạc 鐸. Hình thành nên cụm từ Mộc Đạc (木鐸).




mo gia tri (1)mo gia tri (4)mo gia tri (5)mo gia tri (6)mo gia tri (7)mo gia tri (8)mo gia tri (9)mo gia tri (10)mo gia tri (11)mo gia tri (12)mo gia tri (13)

pdf icon-2
Chiếc Mõ Chùa Quê, Khảo cứu và phục hưng_Bài của Đinh Công Thanh Minh


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/2013(Xem: 8812)
Xin thỉnh Chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đảnh núi núi khơng liền, hoặc nơi hư khơng; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn.
04/04/2013(Xem: 29535)
Con đem hết lòng thành kính, làm lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán, đấng Chánh Biến Tri (3 lần).
03/04/2013(Xem: 9397)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. Nội dung phân ra từ mục: Từ quyển thứ nhứt đến quyển thứ bảy để giải nghĩa, nên gọi là “Nhị Khóa Hiệp giải”.
03/04/2013(Xem: 7300)
Năm 1939 , Cư Sĩ Lê Đình Thám viết : "Tam-tạng kinh điển trong xứ ta toàn là chữ Hán, trong các thời đại Hán học thạnh hành xưa, ai ai cũng có thể đọc nguyên văn, không cần phải phiên-dịch, nhưng ngày nay Hán học đình đốn, bên tai đã vắng nghe những tiếng "Tử viết", thì còn mấy ai đọc được Hán-văn, nên sự phiên-dịch ra quốc-văn đã thành một vấn-đề rất trọng yếu cho nền Phật-giáo tương-lai ở xứ ta."
03/04/2013(Xem: 22581)
Ở VN ta các chùa thường hay thờ Phật, thờ Tổ, thờ Thánh. Nhờ Phật độ nên mỗi năm tôi về VN một lần, mà lần nào tôi cũng đi từ Nam ra Bắc hầu hết thời gian tôi đều dành cho việc đi tham quan các chùa, do đó tôi thấy.
03/04/2013(Xem: 7789)
Kính gởi: Chư Tôn Thiền Đức cũng như các giới tử cầu thọ giới pháp ở tại Âu Châu và ngoài Âu Châu.
29/03/2013(Xem: 8530)
Niết bàn một thuở ra đi, Cân bình nữa gánh Tây quy nhẹ nhàng Rừng thiền vắng bóng hạc vàng, Biển trần vượt khỏi muôn ngàn phong ba Người đi dấu vết chưa nhòa, Bát y truyền lại sương pha lạnh lùng Tam sanh hẹn kiếp tao phùng, Tôn phong Tổ ấn gởi cùng non sông.
17/03/2013(Xem: 5476)
Đạo nghiệp Tôn sư in góc biển, Bóng vang Hoàng hạc khuất chân mây. Thương người vì đạo quên thân thể, Mến tiếc âm thầm dạ khó khuây!
21/02/2013(Xem: 9319)
Theo GS Trần Văn Khê loại nhạc này vốn xuất phát từ nhã nhạc cung đình Huế, Phật Giáo đã sử dụng để làm nhạc thỉnh trong các Trai đàn Chẩn tế. Nay xin được giới thiệu với Đại chúng để tùy nghi sử dụng. Thích Hạnh Tuệ sưu tầm
08/02/2013(Xem: 8654)
Rừng thiền vắng bóng hạc vàng, Biển trần vượt khỏi muôn ngàn phong ba, Người đi dấu vết chưa nhoà,