Văn Tế Siêu Độ Âm Linh

10/01/201706:37(Xem: 6750)
Văn Tế Siêu Độ Âm Linh

mam cung co hon

Văn Tế Siêu Độ Âm Linh

 

 
Kính đảnh lễ mười phương Chư Phật
Kính tán dương Bồ Tát, Thánh Hiền
Đàn Tràng Siêu Độ Âm Linh
Thùy từ quang giáng chứng minh độ trì
 
Chúng sinh khổ kể từ vô thỉ
Bởi si mê nghiệp dĩ trầm luân
Ba đường, Sáu nẻo xoay vần
Tam đồ, Bát nạn phong trần xưa nay
 
Mãi xa lánh lòng ngay, dạ thẳng
Luôn đắm say đen trắng, gian ngoa
Nghiệp dữ như núi xây tòa
Nghiệp lành như lụa gió lùa đêm đông
 
Chiếc bào ảnh đèo bồng, trau chuốt
Đạo Thánh Hiền chẳng thiết tiến tu
Vô minh, tăm tối, mịt mù
Biển sông không lội, ao tù lại vô
 
Lúc còn sống tỉnh bơ, trân tráo
Khi chết đi ảo não hồn ma
Thất tha, thất thểu, không nhà
Không hương, không khói, trông mà xót thương
 
Hết vất vưởng đầu đường, cuối ngõ
Lại chập chờn bóng xó, đêm đen
Đói ăn, khát uống, nhịn thèm
Thoáng trông chút sáng ánh đèn thất kinh
 
Kể sao xiết Sinh linh nghìn loại
Nói sao cùng muôn kiếp Âm hồn
Sống thời điên đảo sinh tồn
Chết thời tàn tạ, não buồn than van
 
Bất luận kẻ giàu sang, phú quý
Hay vua, chúa, tướng, sĩ, chính quyền
Quan viên, trí thức, dân thường
Hãy mau thức tỉnh vô thường qua nhanh
 
Đài bèo bọt lợi danh quyền thế
Đảo rong rêu mặt mũi ngã nhân
Xát xây đày đọa bao lần
Bức tranh vân cẩu phù vân ra gì!
 
Không tự biết vụng tu, thiếu phước
Chẳng mong cầu tích đức, tu thân
Gây nhân tạo nghiệp ngàn cân
Lưới trời lồng lộng giải phân được nào?
 
Tiếc chi nữa nhà cao, cửa rộng
Luyến thương gì mái dột, lều tranh
Khù khờ, tài trí, khôn lanh
Trước sau ai chẳng mồ xanh để về
 
Ai cũng chết: Chết nhà, chết chợ
Chết ở quê, chết ở châu thành
Anh hùng, nữ kiệt, liệt oanh
Công, thương, nông, sĩ cũng quanh một gò
 
Chết phương xa, chết bờ, chết bụi
Chết binh đao, chết núi, chết sông
Chết phơi xương trắng ruộng đồng
Chết tan da thịt chất chồng hơn non
 
Chết tai nạn, trên không, dưới đất
Chết thiên tai, động đất, sóng thần
Đường bộ, đường thủy, đường hầm
Chết chung hàng loạt hãi hùng oái ăm
 
Chết đau bịnh, chết đâm, chết chém
Chết dịch nhiễm, dịch cúm, dịch lao
Nát tan xương trắng máu đào
Không toàn thi thể, lệ nào không rơi?
 
Chết lũ lụt cuốn trôi mất tích
Chết giá băng, hạn hán khốc khô
Chết cháy, núi lửa thành tro
Đèo chùi, đất sụt, nấm mồ đâu chôn?
 
Bao thai nhi nằm trong bụng mẹ
Chưa kịp mang tiếng khóc chào đời
Xót thương tuổi bé thơ ơi
Thôi rồi một kiếp luân hồi tử sinh
 
Nhiều con trẻ vừa sinh lại bỏ
Mẹ cha ơi sao nỡ hại con
Hài nhi cũng có Thức hồn
Chớ nên ôm nỗi giận hờn mẹ cha
 
Chết khủng bố xảy ra nối tiếp
Gây kinh hoàng khủng khiếp Đông - Tây
Mạng người quá nhỏ thương thay
Chết thua cỏ rác diễn bày khắp nơi
 
Biết bao kẻ thất thời, lỡ vận
Hay trái ngang, oan vọng, bạc tình
Nỡ toan kết liễu đời mình
Người thân ở lại nặng tình cưu mang
 
Bao kẻ chết điếm đàng, lừa đảo
Xã hội đen, ma túy, học đường
Cũng thân tứ đại vô thường  
Chẳng làm bè thoát sáu đường tử sinh?
 
Kiếp du lữ nhục vinh sự thế
Mặc nổi trôi không nhớ luân hồi
Thấp cao, hơn thiệt, đổi ngôi
Dòng sông sinh tử ai bơi cho mình?
 
Không với sắc thinh thinh rộng lớn
Sắc với không vô thỉ vô chung
Cõi chết mà nói vô cùng
Cõi sống cũng chẳng cáo chung bao giờ
 
Khung cửa hẹp đôi bờ khép mở
Hỡi Hương hồn thôi chớ kêu than
Lắng trong phiền não ngập tràn
Tĩnh tâm dứt nghiệp, Tây Phương hướng về
 
Hãy dừng hết não nề, bi cảm
Chớ than van, khóc thảm, thương sầu
Đàn Tràng Siêu Độ nhiệm mầu
Âm linh bốn biển năm châu tựu về
 
Tránh khổ lụy Tam đồ Bát nạn
Chẳng vất vơ Sáu nẻo Ba đường
Ngưỡng mong Tam Bảo Pháp Vương
Từ bi tế độ thảm thương Âm hồn
 
Muốn hết khổ lên thuyền Bát nhã
Mau dứt mê bờ Giác là đây
Phật Pháp huyền nhiệm sâu dày
Ân thâm nghĩa nặng, ơn này khắc ghi
 
Kính nguyện Đức Từ Bi gia hộ
Nhũ thâm Ân Tam Bảo từ nghiêm
Sinh linh khổ não vô biên
Hàm ân cứu vớt mọi miền trần gian
 
Ân Phật Tổ vô vàn mầu nhiệm
Pháp Đàn Tràng không luận nghĩ bàn
Dung thông thế giới ba ngàn
Câu kinh tiếng kệ ngân vang độ đời
 
Văn chiêu thỉnh muôn loài, vạn loại
Mọi Âm hồn uổng tử linh thiêng
Mau mau câu hội Đàn tiền
Chuyển tâm, hóa nghiệp, kiền thiền hồi quy
 
Trên, Tam Bảo từ bi gia hộ
Dưới, Đàn Tràng cúng tế trang nghiêm
Lễ vật thượng hưởng an nhiên
Nghe Kinh giải thoát về miền Lạc Bang
 
Phật Di Đà phóng quang tiếp dẫn
Đức Quán Âm, Thế Chí soi đường
Sen vàng chín phẩm ngát hương
Vãng sanh Cực Lạc Tây Phương an lành.
 
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. (30 lần trở lên)
 

Ngày 30-12-2016

TNT Mặc Giang

(Ghi chú: Do cảm kích tấm lòng của người bạn già QB, để vài ngày vì đang rất bận, xem lại bài Phụng Cúng Âm Hồn vượt Biển vượt Biên, nếu được sẽ cúng Siêu độ Âm Linh vào Rằm tháng Giêng Đinh Dậu, nên tôi mới soạn bài này, bởi bài kia mang nội dung cô đọng dành cho Vượt Biển Vượt Biên. Đa tạ và nhờ ông bạn tôi mới soạn bài này).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/08/2013(Xem: 21010)
Mao_HiepChuongNói đến pháp phục của Phật giáo, chúng ta thường đề cập đến pháp phục của người xuất gia, bao gồm pháp phục nghi lễ và pháp phục thường nhật. Pháp phục Phật giáo được xem là hình thức thể hiện thân giáo, đó là pháp tướng bên ngoài của người xuất gia nên các chế tài trong luật nghi quy định rất rõ về các hình thức của pháp phục.
25/07/2013(Xem: 29747)
Bộ Hồng Danh Lễ Sám nầy được dịch từ bản chữ Hán trong Tục Tạng Kinh – Tập I, Ấn Độ soạn thuật. Bản chính mang danh tựa là “Phật Thuyết Phật Danh Kinh,” gồm 30 quyển. Trong đó, từng đoạn từng đoạn, Phật thuyết nhơn quả báo ứng, nghiệp lực, tội khổ của chúng sanh đã tạo, đương tạo… rồi nói đến Hồng Danh các đức Phật, Bồ Tát, La Hớn, Tổ Sư v.v… Về các bài kinh văn trường hàng, chư Tổ về sau có thêm vào văn sám nguyện, trong Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, trong Lương Hoàng Sám, trong Dược Sư Sám… Chúng tôi nhận xét nếu đề “Phật Thuyết Phật Danh Kinh” thì phải thuần là danh hiệu Phật, nhưng trong ấy lại có nhiều danh hiệu Bồ Tát, La Hớn, Tổ Sư… do đó, nên chúng tôi xin đổi lại là “Đức Phật Nói Kinh Hồng Danh Lễ Sám quyển thứ nhất, quyển thứ hai v.v… ”
25/07/2013(Xem: 27774)
Đời hiện tại thường xuyên bị sự khó khăn, tai nạn, bịnh hoạn trầm trọng, như thế là do đâu? Chính do mỗi người tạo nhiều nhơn ác trong đời quá khứ, hoặc nhiều kiếp về trước đã gieo nhơn đen tối, nặng nề khổ đau, nên đời hiện tại mang thân mạng nầy mới chịu nhiều tai biến, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc. Trong Kinh Nhơn Quả, đức Phật đã dạy: “Muốn biết nhơn đời trước của mình ra sao thì cứ nhìn thẳng những việc mình đang lãnh thọ trong đời này; muốn rõ quả báo kiếp sau của mỗi người thế nào, thì cứ xem các nhơn mỗi người tạo tác trong đời nầy.” Nguyên văn: “Dục tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả thị; yếu tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.”
25/07/2013(Xem: 38003)
Chúng sinh sanh trưởng trong đời mạt phát hầu hết nghiệp nặng phước nhẹ, chướng sâu huệ cạn, trọn cuộc đời gặp nhiều khổ đau, thân tâm loạn động, ngay cả hàng xuất gia cũng lại như vậy. Thế nên trên đường đời, đường đạo đều gặp rắc rối giống nhau, thân tâm khổ lụy. Trong Kinh Địa Tạng có câu “Mạt thế chúng sinh nghiệp lực thậm đại, năng địch Tu Di, năng thâm cự hải, năng chướng thánh đạo…” nghĩa là chúng sanh ở đời rốt sau của giáo pháp, sức nghiệp vĩ đại, so sánh có thể cao như núi Tu Di, sâu rộng như biển cả, nó thường hay ngăn chận con đường lên quả Thánh…
22/06/2013(Xem: 19722)
Tại Hoa Kỳ, nhiều người xem bồ công anh là thần dược có tác dụng điều trị bệnh sưng loét bao tử, ung độc, đặc biệt là ung thư vú. Ở nước ta, bồ công anh mọc hoang dại ở các vùng như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa và cũng được trồng để lấy lá làm thuốc. Bồ công anh còn chứa nhiều chất sắt tương đương trong rau dền, hàm lượng vitamin A cao gấp bốn lần rau diếp và rất giàu các nguyên tố vi lượng như manhê, potassium, calcium, sodium và nhất là vitamin C, B.Ngoài ra bồ công anh còn chứa protein, chất béo, tinh bột... Theo y học cổ truyền, một số dược tính của bồ công anh như sau:
05/06/2013(Xem: 26296)
Từ “Công văn” trước đây được dùng trong công việc hành chánh của nhà nước gồm những văn kiện của các Bộ, Ty, Sở đối với chính quyền thuộc địa, hay dưới các chế độ quân chủ chuyên chế. Cho tới ngày nay không ai rõ từ này đã ảnh hưởng vào trong sinh hoạt Phật giáo từ lúc nào.
05/06/2013(Xem: 15523)
Nguyện dâng hương mầu nầy Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói
29/05/2013(Xem: 13269)
Chúng ta đang sống trong những ngày rộn ràng của đại lễ Phật Đản, một lễ hội văn hoá tâm linh mang tầm thế giới. Nhân dịp này, tôi xin lược ghi một số nhận xét về sự liên quan giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc, xem như góp một bông hoa nhỏ kính mừng ngày lễ hội tôn giáo trọng đại mà cả nước đang nô nức đón mừng.
22/04/2013(Xem: 29112)
Bộ sách này có thể gọi là kinh "Khóa Hư" vì là cả một đời thực nghiệm về chân lý sinh tồn của tác giả. Tác giả là một vị vua khai sáng ra triều đại nhà Trần, oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc, ba phen đánh đuổi quân xâm lăng Mông Nguyên, từng chinh phục thế giới từ Á sang Âu "đi đến đâu cỏ không mọc lên được".
11/04/2013(Xem: 28881)
Cúng Quá Đường là một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong mùa an cư kiết hạ hay kiết đông của hàng đệ tử xuất gia. Năm nay, Canh Dần 2010, mùa An Cư Kiết Đông kỳ thứ 11 của Giáo Hội Úc Châu được tổ chức từ ngày 6 đến 16-7 năm 2010 tại Thiền Viện Minh Quang, ở thành phố Canley Vale, cách trung tâm thành phố Sydney 30 phút lái xe, người viết xin ghi lại đôi nét về lễ nghi quan trọng này để giúp quý Phật tử mới vào đạo hiểu thêm về nghi thức này.