Dẫn nhập

14/05/201311:05(Xem: 20227)
Dẫn nhập

Phat_Thich_Ca_7


Hai Thời Công Phu

Dẫn nhập

HT. Thích Trí Quang dịch giải

Nguồn: HT. Thích Trí Quang dịch giải

Ghi Sau Khi Duyệt Hai Thời Công Phu


Sau khi cẩn trọng dịch âm, dịch nghĩa và lược giải 2 thời công phu rồi, tôi mới đặt vấn đề như dưới đây. Biết rằng đặt vấn đề thì gây rắc rối, nhưng nghĩ vẫn phải đặt. Ấy là nên có 1 hội đồng lâm thời nhưng đủ mọi cẩn trọng để xét đến 2 thời công phu. Dưới đây là mấy điều nên xét đến.
Công phu buổi sáng, sau khi tụng lời phát nguyện thì tụng 21 lần chú Lăng nghiêm (Án, a na lệ, tì xá đề, bệ ra bạt xà ra đa rị, bàn đà bàn đà nễ, bạt xà ra báng ni phấn, hổ hộng, đô rô ung phấn, sa bà ha). Rồi lạy Hồng danh 53 vị Phật, nhưng với nghi thức trước sau đầy đủ (chỉ 10 nguyện Phổ hiền là tỉnh giảm mà thôi). Tiếp theo, tụng chú Đại bi, chú Bát nhã, niệm Phật, phát nguyện theo nguyện Phổ hiền, và tam tự qui.
Công phu buổi chiều, sau khi tụng Di đà thì lạy Hồng danh 35 vị Phật, nhưng cũng với nghi thức đầy đủ. Rồi tụng chú Đại bi, chú Bát nhã, niệm Phật, phát nguyện theo nguyện Phổ hiền, và tam tự qui.
Đề nghị như trên đây không cốt ý đơn giản mà muốn nhất quán, tinh tiến với công việc và thì giờ vừa phải.
Trong một lời ghi thì không thể nói hết lý do. Nhưng vẫn ghi lại để xin chất chính cùng các bậc Lương đạo, Thiện tri thức.
Sau hết, rất cần nhắc lại mục đích của 2 thời công phu. Mục đích ấy, như đã nói ở sau, là cầu sinh Cực lạc. Sinh Cực lạc có 2: một là sinh về Cực lạc để rồi trở lại Sa bà trước hết, hai là sinh Cực lạc ngay nơi Sa bà. Đằng nào cũng là vì chúng sinh Sa bà cả. Mà muốn sinh Cực lạc thì phải niệm Phật -- phải nắm lấy hồng danh của Phật ở trong tâm và ở nơi miệng, làm những gì Phật làm, không làm những gì Phật không làm. Niệm Phật, và trì tụng 2 thời công phu, là phải biết "Khi tâm tưởng nhớ đến Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật" (Quán kinh, Chính 12/343).

Mồng 8 tháng 4, 2537
Trí Quang

Vài Ghi Chú Cần Thiết


a. Tài liệu chính là Thiền môn nhật tụng Huế, tiểu bản. Các bản để tham khảo đối chiếu là Chư kinh nhật tụng tập yếu quyển hạ (Trung hoa đại tạng kinh, tập 2 sách 37 trang 30071-30083), Triêu mộ khóa tụng của Phật giáo Hương cảng, Nhị khóa hợp giải.
b. Tài liệu phụ thì có Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu (ký hiệu là Chính) và Tục tạng kinh bản chữ Vạn (ký hiệu là Vạn).
c. Khi nói nguyên bản là chỉ cho Chư kinh nhật tụng tập yếu quyển hạ, còn nói truyền thống là chỉ cho Thiền môn nhật tụng Huế.

Mục Đích 2 Thời Công Phu


Công phu đây là của người xuất gia. Nội dung 2 thời công phu có khá rõ và nhất quán về mục đích của người xuất gia. Mục đích ấy là chí nguyện mà thuật ngữ gọi là phát bồ đề tâm. Phát bồ đề tâm có nhiều nghĩa, từ giai đoạn mở đầu cho đến giai đoạn kết cục của sự tu hành: 1. phát giác tuệ giác vô thượng bồ đề của Phật chính là bản giác của tâm chúng ta, gọi là phát bồ đề tâm; 2. phát khởi chí nguyện cầu đạt cho được tuệ giác ấy, gọi là phát bồ đề tâm; 3. phát huy dần dần tuệ giác ấy, gọi là phát bồ đề tâm; 4. phát hiện hoàn toàn tuệ giác ấy, gọi là phát bồ đề tâm. Trong 4 giai đoạn như vậy, nội dung 2 thời công phu có cả, nhưng có đủ nhất là giai đoạn 2. Phát bồ đề tâm ở giai đoạn 2 này thuật ngữ hay nói là thượng cầu Phật tuệ, hạ hóa chúng sinh: trên thì cầu tuệ giác vô thượng, bằng cách dưới thì giáo hóa chúng sinh.
Nhưng mục đích 2 thời công phu chưa dừng ở đây, mà còn nói "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc". Cầu sinh Cực lạc có 2 mặt: một là cầu vãng sinh Cực lạc quốc của đức Bổn tôn cho đủ khả năng để trở lại ngũ trược ác thế trước tiên mà giáo hóa; hai là cầu thực hiện Cực lạc quốc ngay trong ngũ trược ác thế với thần lực của đức Bổn tôn. Riêng mặt thứ hai, Di đà đại bản nói, "Có người vốn nguyện độ sinh mau chóng, thì đem công đức của cái nguyện ấy mà tự trang bị, nhập vào thế giới sinh tử, tự tại thuyết pháp giáo hóa. A di đà phật dùng thần lực làm cho người này giáo hóa chúng sinh phát khởi chánh tín cho đến thành tựu bồ đề, nhưng từ đầu đến cuối, người này không bị cái khổ của các đường dữ ..., dẫu sống trong ngũ trược ác thế mà không khác gì sống trong thế giới của người ấy là Cực lạc quốc độ" (Chính 12/337).
Trong 2 thời công phu, lời nguyện của ngài A nan mở đầu công phu sáng, hiểu thị đủ cả 2 mặt của chí nguyện "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc". Rồi từ đó, mọi sự trì tụng suốt 2 thời công phu, cũng như mọi sinh hoạt suốt 24 giờ sau đó, toàn là lặp lại và thực thi chí nguyện này. Do vậy, suốt 24 giờ sau đó, nếu có trì tụng kinh chú gì khác ngoài 2 thời công phu hay trì niệm danh hiệu nào khác ngoài hồng danh đức Bổn tôn, cũng là pháp hạnh thực hiện chí nguyện "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc".

Nội Dung 2 Thời Công Phu


Như đã thấy, chí nguyện "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc" là chủ não của 2 thời công phu. Công phu sáng là mỗi sáng sớm lặp lại chí nguyện ấy để rồi sau đó làm theo cả ngày. Nhưng biết rằng trở ngại của chí nguyện ấy là dục vọng, là bao nhiêu ma chướng: thiếu thốn, tật bịnh, tai nạn, khổ báo ... Vì vậy mà phải trì chú Lăng nghiêm và các phẩm thần chú khác. Sau phần trì chú là phần hồi hướng, niệm Phật, phát nguyện theo hạnh nguyện Phổ hiền tức nguyện sinh Cực lạc, và tự qui y Tam bảo, toàn là để bảo vệ và tăng trưởng cho chí nguyện "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc".
Chiều tối, đem bao nhiêu việc làm cả ngày hồi hướng cầu sinh Cực lạc. Kinh Di đà để biết cái thế giới mà mình cầu sinh. Sám Hồng danh để tịnh trừ nghiệp chướng. Mở đóng vòng đơn ở đây là văn Thí thực để làm tịnh thí pháp thực cho quỉ thần. Rồi y như sáng sớm, công phu chiều tối cũng niệm Phật, cũng nguyện sinh Cực lạc, cũng tự qui y Tam bảo, hồi hướng tất cả 2 thời công phu cùng với hết thảy việc làm cả ngày vào mục đích "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc".
Đặc biệt công phu chiều tối còn cảnh giác về sự vô thường và sách tiến về sự nỗ lực, văn ý rõ ràng, chính yếu, chí thiết và rất gọn, cho 2 thời công phu ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cho cả đời người xuất gia, quyết tâm "thử thân bất hướng kim sinh độ, cánh hướng hà sinh độ thử thân", thân này không tự độ bằng đời này thì còn hướng vào đời nào nữa mới tự độ thân này?

Cách Tụng 2 Thời Công Phu


Đã nói là công phu của người xuất gia thì người xuất gia phải ngày ngày trì tụng cho liên tục, đúng giờ, đúng cách. Trì tụng 2 thời công phu thì phải thuộc lòng, phải có chí nguyện "vì tuệ giác bồ đề mà cầu sinh Cực lạc", phải giữ giới, phải chí thành và thâm tín. Miệng không ăn thịt, ăn đồ cay nồng, uống rượu, nói chơi, nói tục, ăn ở nhà bất tịnh. Thân không dâm dục, chạm tay vào chỗ dơ, không tắm rửa, y áo dơ bẩn. Chỗ trì tụng phải tôn nghiêm. Giọng và tiếng trì tụng phải rõ ràng, về âm điệu cũng như văn tự. Mức độ trì tụng thì không quá mau quá chậm, không quá lớn quá nhỏ. Phải tụng sao cho tự nghe rõ ràng. Điều kiện này cũng ấn định tâm trí có chuyên chú hay không. Trì tụng khá công phu sẽ thấy một vài điềm tốt: cấm khoe, nhất là khoe để mưu lợi, cầu cung kính. Rồi cũng có thể có vài điềm xấu, như bỗng phát sợ, hay giận hay ngủ, lưỡi không bình thường, phát nghi, thắc mắc và suy diễn: đừng sợ, định tĩnh mà lướt tới sẽ tan biến hết.
Riêng việc tụng chú, phải tụng đề chú để biết chủ ý của chú ấy. Phải tụng đủ số tối thiểu đã ghi, nhất là văn Thí thực. Đừng nghĩ rằng phải tụng đúng âm Phạn tự. Việc ấy ngày nay không khó gì, chỉ vì không linh nghiệm bằng tụng như bình thường. Nhiều thí nghiệm kiên nhẫn cho thấy như vậy.
Còn sám Hồng danh thì chỗ nào ghi lạy là phải lạy. Không được tụng không. Cũng không được chỉ quì mà tụng. Lại càng không được nói mỗi tháng lạy 2 lần rồi thôi. Nếu lạy không hết 53 + 35 đức Phật một lúc thì thà phân ra, ngày này lạy 53 đức Phật, ngày khác lạy 35 đức Phật. Đầu và cuối thì như nhau, ngày nào cũng tụng và lạy cho hết.
Trì tụng 2 thời công phu mà thôi, một đời xuất gia cũng đẹp, khá đẹp. Có nhiều người đã và đang tự chứng minh như vậy.

Dịch Giải 2 Thời Công Phu


Việc dịch 2 thời công phu thì đủ cả dịch âm và dịch nghĩa. Còn việc giải thì có 3: 1. lược ghi về Lăng nghiêm, Đại bi và Thí thực; 2. lược giải về Di đà, Hồng danh và Bát nhã; 3. chú thích những chỗ cần trong tất cả việc dịch giải trên đây.
28.1.2528 (1984)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/04/2013(Xem: 28957)
Cúng Quá Đường là một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong mùa an cư kiết hạ hay kiết đông của hàng đệ tử xuất gia. Năm nay, Canh Dần 2010, mùa An Cư Kiết Đông kỳ thứ 11 của Giáo Hội Úc Châu được tổ chức từ ngày 6 đến 16-7 năm 2010 tại Thiền Viện Minh Quang, ở thành phố Canley Vale, cách trung tâm thành phố Sydney 30 phút lái xe, người viết xin ghi lại đôi nét về lễ nghi quan trọng này để giúp quý Phật tử mới vào đạo hiểu thêm về nghi thức này.
10/04/2013(Xem: 6411)
Hồng chung khấu thỉnh lần thứ hai, Bảo kệ ngâm cao giọng ngân dài, Trên thấu thiên đường trời niệm Phật Dưới thông địa ngục ngục tiêu tai. ! (0). *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).
08/04/2013(Xem: 37158)
Sau khi cẩn trọng dịch âm, dịch nghĩa và lược giải 2 thời công phu rồi, tôi mới đặt vấn đề như dưới đây. Biết rằng đặt vấn đề thì gây rắc rối, nhưng nghĩ vẫn phải đặt. Ấy là nên có 1 hội đồng lâm thời nhưng đủ mọi cẩn trọng để xét đến 2 thời công phu. Dưới đây là mấy điều nên xét đến.
08/04/2013(Xem: 28817)
Sở hữu thập phương thế giới trung Tam thế nhất thiết nhân sư tử Ngã dĩ thanh tịnh thân ngữ ý Nhất thiết biến lễ tận vô dư Phổ hiền hạnh nguyện oai thần lực Phổ hiện nhất thiết như lai tiền Nhất thân phục hiện sát trần thân Nhất nhất biến lễ sát trần Phật Ư nhất trần trung trần số Phật Các xử bồ tát chúng hội trung Vô tận pháp giới trần diệc nhiên Thâm tín chư Phật giai sung mãn.
08/04/2013(Xem: 19899)
Khể thủ Tây phương an lạc quốc, Tiếp dẫn chúng sinh đại đạo sư, Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
08/04/2013(Xem: 6912)
Nhất tâm quy mạng, Cực lạc Thế giới A Di Đà Phật. Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngã Từ thệ nhiếp ngã Ngã kim chánh niệm Xưng Như Lai danh Vị Bồ đề đạo Cầu sanh Tịnh độ Phật tích bổn thệ: "Nhược hữu chúng sanh, . . .
08/04/2013(Xem: 19555)
Quy-mạng mười-phương Vô-Thượng-Giác, Pháp-mầu vi-diệu đã tuyên-dương, Thánh-Tăng bốn Quả ba thừaThừa độ, Duỗi tay vàng nguyện xót-thương, Ngược dòng Chơn-tánh từ lâu, Chúng con trôi-nổi biển đầu sông mê.
08/04/2013(Xem: 13175)
Quy mạng lễ muời phương Chư Phật Diễn Pháp mầu như thật sâu xa Quy y Thánh chúng Tăng già Xin thương đoái tưởng hằng xa hữu tình Chúng con những tự mình phản bội Lỡ sa chân chìm nổi sông mê Bao phen sanh tử não nề Lại theo danh sắc mà mê đắm hoài, . . .
08/04/2013(Xem: 20078)
Khể thủ nhất thiết xuất thế gian Tam giới tối tôn công đức hải Trí giả năng thiêu phiền não cấu Chánh giác ngã kim quy mạng lễ. Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới, vi trần sát độ trung, quá hiện vị lai, nhứt thiết chư Phật.
08/04/2013(Xem: 7250)
Kính lạy Phật! Con từ vô lượng kiếp, Mây vô minh che lấp tánh viên minh, Tạo bao việc ác, bỏ hết việc lành, Quanh quẩn luân hồi, vào ra sinh tử, Đổi xác thay hình, biết bao khổ sở! Nhờ chút duyên lành đời trước, nay được làm người.