12.Nghi thức Quá Ðường

05/04/201314:35(Xem: 9236)
12.Nghi thức Quá Ðường

KINH NHẬT TỤNG
Nghi Thức Phổ Thông

--- o0o ---

NGHI THỨCQUÁ-ÐƯỜNG

(Ðại chúng đứng xếp hàng tề chỉnh nghe tiếng khánh chắp tay đồng xá ngồi xuống, nhiếp tâm trì chú).

I.- ÐOAN TỌA (NGỒI THẲNG)

Chánh thân đoan-tọa

Ðương nguyện chúng-sanh,

Tọa bồ-đề tòa,

Tâm vô sở trước.

Án phạ tất ba ra a ni bát ra ni ấp đa da tá ha. (3 lần)

II.- TRIỂN-BÁT (GIỞ BÁT)

Như-Lai ứng lượng khí,

Ngã kim đắc phu triển,

Nguyện cúng nhứt-thiết chúng,

Ðẳng tam-luân không tịch.

Án tư ma ni tá ha. (3 lần)

III.- QUÁN KHÔNG BÁT

Nhược kiến không bát,

Ðương nguyện chúng-sanh,

Cứu-cánh thanh-tịnh,

Không vô phiền-não.

(Ðổ nước vào trán rồi lau khô để cơm vào bát).

IV. THẠNH PHẠN MẶC-NIỆM

Nhược kiến mãn bát,

Ðương nguyện chúng-sanh,

Cụ túc thạnh mãn,

Nhất thiết thiện-pháp.

(Tay trái co ngón giữa và ngón áp, còn ba ngón dựng thẳng để bát lên; tay mặt kiết ấn cam-lồ, (ngón cái bên tay phải đè lên ngón áp) để dựa ngang phía trong miệng bát, rồi đồng xướng bài cúng-dường).

IV. CÚNG-DƯỜNG

Cúng-dường Thanh-tịnh pháp thân Tỳ-Lô Giá-Na Phật.

Viên-mãn báo-thân Lô-Xá-Na Phật.

Thiên bá ức hóa-thân Thích-Ca Mâu-Ni Phật.

Ðương-lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật.

Cực-lạc Thế-giới A-Di-Ðà Phật.

Thập-phương tam-thế nhứt thiết chư Phật.

Ðại-Trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát.

Ðại-Hạnh Phổ-Hiền Bồ-Tát.

Ðại-Bi Quán-Thế-AÂm Bồ-Tát.

Chư tôn Bồ-Tát Ma-ha-tát.

Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật.

Tam đức, lục vị cúng Phật cập Tăng, pháp-giới hữu-tình, phổ đồng cúng-dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng-sanh, thiền-duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn.

(Cúng-dường rồi để bát xuống)

Ðể chén chung trong lòng bàn tay tả,

tay hữu gắp 7 hạt cơm để trong chung,

quyết ấn cam-lồ mặc niệm như sau:

VI.- XUẤT-SANH (THẦY CẢ)

Pháp lực bất tư nghì,

Từ-bi vô chướng-ngại,

Thất liệp biến thập-phương,

Phổ thí châu-sa giới,

Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)

BIẾN THỰC CHƠN-NGÔN:

Nẳm-mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần)

CAM-LỒ THỦY CHƠN-NGÔN:

Nẳm-mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần)

Nhữ đẳng quỉ thần chúng,

Ngã kim thí nhữ cúng,

Thử thực biến thập-phương,

Nhứt thiết quỷ thần cộng.

Án mục lục lăng tá ha. (3 lần)

Khảy móng tay trên chén nhỏ 3 lần đưa thị-giả.

VII.- TỐNG-THỰC (THỊ-GIẢ)

Ðại bàng kim súy điểu,

Khoảng dã quỷ thần chúng,

La sát quỷ tử mẫu

Cam lồ tất sung mãn.

Án mục lục lăng tá ha. (7 lần)

VIII.- XƯỚNG TĂNG BẠT (DUY NA)

Phật chế Tỳ-kheo thực tồn ngũ quán tán tâm tạp thoại tín thí nam tiêu.

Ðại-chúng văn khánh thinh các chánh niệm.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật.

(Ðại-chúng đồng tiếp tụng)

"Tam bạt ra dà da" (7 lần)

(Hai tay bưng bát ngang trán, thầm đọc):

Chấp trì ứng khí,

Ðương nguyện chúng-sanh,

Thành-tựu pháp-khí,

Thọ thiên nhơn cúng.

Án chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra. (3 lần)

X.- LƯU PHẠN KỆ CHÚ

(Ðể ít cơm ra chén, bưng chén cơm lên thầm đọc)

Dĩ kim sở tu phúc,

Phổ triêm ư quỉ chúng,

Thực dĩ miễn cực khổ,

Xả thân sinh lạc xứ,

Bồ-tát chi phước-báo,

Vô tận nhược hư không,

Thí hoạch như thị quả,

Tăng trưởng vô hưu tức.

Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)

(Ðể chén xuống)

XI.- TAM ÐỀ

Muổng thứ nhất:

Nguyện đoạn nhứt thiết ác.

Muổng thứ hai:

Nguyện tu nhứt thiết thiện.

Muổng thứ ba:

Nguyện độ nhứt thiết chúng-sanh.

(Trong khi thọ thực, phải tưởng ngũ-quán)

1. Kể công nhiều ít so chỗ kia đem đến.

2. Xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu mà thọ của cúng-dường.

3. Ngừa tâm xa lìa các tội lỗi: Tham, sân, si là cội gốc.

4. Chính là vị thuốc hay để chữa lành bịnh khô gầy.

5. Vì thành đạo-nghiệp nên thọ cơm nầy.

XII.- TẨY BÁT KỆ-CHÚ

(Xơi cơm xong đổ nước vào tráng bát, trút ra chén lại)

Dĩ thử tẩy bát thủy,

Như thiên cam-lồ vị,

Thí dử chư quỷ thần,

Tất giai hoạch bảo mãn.

Án ma hưu ra tất tá ha. (3 lần)

XIII.- THỦ DƯƠNG CHI KỆ-CHÚ

(Tay cầm tăm xỉa răng)

Thủ chấp dương chi,

Ðương nguyện chúng-sanh,

Giai đắc diệu-pháp,

Cứu-cánh thanh-tịnh.

Án tát ba phạ thuật đáp, tát lị ba đáp lị mo, tát ba phạ, thuật đáp phấn, án lam tá ha. (3 lần)

XIV.- TƯỚC DƯƠNG CHI KỆ-CHÚ

(XỈA RĂNG)

Tước dương chi thời,

Ðương nguyện chúng-sanh

Kỳ tâm điều tịnh,

Phệ chư phiền-não.

Án, a mộ dà di ma lê, nhĩ phạ ca ra, tăng du đà nể, bát đầu ma câu ma ra, nhĩ phạ ca ra tăng thâu đà da, đà ra dà ra, tố di ma lệ, tá phạ ha. (3 lần)


XV.- ẨM THỦY KỆ-CHÚ

Phật quán nhứt bát thủy

Bát vạn tứ thiên trùng,

Nhược bất trì thử chú,

Như thực chúng-sanh nhục.

Án phạ tất ba ra ma ni tá ha. (3 lần)

XVI.- KIẾT TRAI KỆ-CHÚ

Nam-mô tát đa nẫm, tam-miệu tam bồ-đề, cu chi nẫm, đát điệt tha.

Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. (7 lần)

Sở vị bố-thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích, Nhược vị nhạo bố-thí hậu tất đắc an-lạc. Phạn thực dĩ ngật, Ðương nguyện chúng-sanh. Sở tác giai biện, Cụ chư Phật-Pháp.

PHỤC NGUYỆN

Thân phi nhứt lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Phổ nguyện hiện tiền tứ-chúng phước-huệ song tu, một hậu đắc Di-Ðà thọ ký; âm siêu dương thới, pháp-giới chúng-sanh tề thành Phật-đạo.

Ðại chúng đồng niệm:Nam mô A-Di-Ðà Phật, nghe khánh cùng đứng dậy chắp tay xá và lui ra.

--- o0o ---

Vi tính : Hải Hạnh Ngọc Dung
Trình bày :
Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9481)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 28251)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7571)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 7022)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 15050)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5241)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5177)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20672)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6829)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 11125)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.