Giới Thiệu

15/12/201015:21(Xem: 17403)
Giới Thiệu

TỔNG QUAN

VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
Nguyên tác: A Survey Of The Paths Of Tibetan Buddhism
Tác giả: His Holiness Tenzin Gyatso 14th Dalai Lama of Tibet
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 19/06/2010
Làng Đậu hiệu đính

GiớiThiệu

Trong giới thiệu tổng quát vềPhật Pháp, như được thực hành bởi những người Tây Tạng, tôi đưa ra một cáchchung rằng Phật Pháp mà chúng tôi thực hành là một hình thức phối hợp từ phần hạcủa giáo lý, Bồ-tát thừa và Kim Cương thừa, gồm có những lộ trình như Đại thủ ấn.Do bởi hầu như mọi người đã tiếp nhận quán đảnh, giáo lý và v.v…họ có thể tìmthấy lợi lạc để có một sự giải thích về cấu trúc hoàn toàn [của đạo pháp tu tập].

Chúng ta nếm trải đời sốngmình một cách thật bận rộn. Cho dù chúng ta cư xử tốt hay xấu, thời gian khôngbao giờ chờ đợi chúng ta, mà nó tiếp diễn thay đổi mãi mãi. Thêm nữa, đời sốngcủa chính chúng ta tương tục đi tới, cho nên nếu điều gì đó lầm lỡ xảy đến, chúngta không thể làm lại. Cuộc đời thì luôn không đủ thời gian. Do thế, điều rấtquan trọng là thẩm tra thái độ tinh thần của mình. Chúng ta cũng cần liên tụcthẩm tra chính mình trong đời sống ngày qua ngày, điều ấy rất lợi ích để cung cấpcho chính chúng ta những sự hướng dẫn. Nếu chúng ta sống mỗi ngày với tỉnh thứcvà chính niệm[1],chúng ta có thể giữ một sự kiểm soát trên động cơ và thái độ của mình. Chúng tacó thể cải thiện và chuyển hóa chính mình. Mặc dù tôi đã thay đổi và cải thiệnchính mình rất nhiều, tôi có một mong ước tiếp tục để làm như thế. Và trong đờisống hằng ngày của chính tôi, tôi đã tìm thấy nó rất lợi ích để giữ gìn một sựkiểm soát động cơ của chính tôi từ buổi sáng cho đến tối.

Trong thời gian giảng dạynày, những gì tôi diễn tả sẽ là công cụ thiết yếu mà chúng ta nhờ đấy để cảithiện chính mình. Giống như chúng ta có thể mang não bộ của mình đến một phòngthí nghiệm để kiểm tra những chức năng tinh thần của chúng ta một cách sâu sắchơn, vì thế chúng ta có thể làm đổi mới chúng trong một phương cách tích cựchơn. Cố gắng để thay đổi chính mình tốt đẹp hơn là quan điểm mà một hành giả Phậttử nên tiếp nhận.

Người thuộc các truyền thốngtôn giáo khác, gồm những ai có một sự hứng thú với Phật giáo và những ai tìm thấycác đặc trưng của sự thực hành Phật giáo như những kỹ năng thiền [thiền tập]cho việc phát triển đặc tính hấp dẫn của từ ái và bi mẫn, đều có thể lợi lạc bằngviệc phối hợp chúng vào trong truyền thống và sự thực tập của chính họ.

Trong những kinh luận Phậtgiáo, nhiều hệ thống về tín tâm và truyền thống được giải thích. Những hệ thốngnày là những cổ xe [thừa], những cổ xe của trời và người [thiên thừa và nhân thừa]và cổ xe thấp [Tiểu thừa], những cổ xe lớn [Đại thừa], và cổ xe của Mật thừa[Kim cương thừa].

Những cổ xe của trời và ngườiở đây là hệ thống mà nó phát họa những phương pháp [phương tiện] và kỹ năng choviệc mang đến một sự cải thiện tốt hơn nội trong đời sống này hay đạt đến một sựtái sinh thuận lợi hơn trong tương lai như một con người hay một vị trời. Một hệthống như thế nhấn mạnh tầm quan trọng đến việc duy trì một thái độ tốt lành. Bằngsự thực hành những hành động thiện nghiệp và tránh xa những hành vi tiêu cực,chúng ta có thể hướng dẫn đời sống giới đức của mình và có khả năng đạt đến mộtsự tái sinh thuận lợi trong tương lai.

Đức Phật cũng nói về một cổxe đặc trưng khác, Phạm-thiên thừa, mà nó bao gồm những kỹ năng của thiền tậpmà nhờ đấy một người có thể thu rút sự chú ý của mình khỏi những đối tượng bênngoài và đưa tâm thức vào bên trong, cố gắng cải thiện sự tập trung nhất tâm.Qua những kỹ năng như thế chúng ta có thể đạt đến một hình thức cao nhất khả dĩcủa sự sống trong vòng luân hồi.

Từ quan điểm của Đạo Phật,do bởi những hệ thống khác nhau đem đến lợi ích lớn lao cho nhiều chúng sinh,nên tất cả đều đáng được tôn trọng. Tuy thế, những hệ thống này không cung ứngbất cứ một phương pháp nào để đạt đến giải thoát, đấy là, sự giải thoát khỏi khổđau và sinh tử luân hồi. Những phương pháp để đạt đến một thể trạng giải thoátnhư thế có thể làm cho chúng ta vượt thắng si mê, là nguyên nhân cội rể của sựtrôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi của chúng ta. Và hệ thống bao hàm nhữngphương pháp cho việc đạt đến tự do khỏi vòng sinh tử được gọi là Thinh Văn thừahay Độc Giác thừa.

Trong hệ thống này, quan điểmvề vô ngã được giải thích chỉ trong dạng thức của con người [nhân vô ngã] khôngphải đối với hiện tượng, trái lại trong Đại thừa, quan niệm về vô ngã không chỉgiới hạn trong con người mà thôi, mà bao quát trong tất cả mọi hiện tượng [phápvô ngã]. Khi quan điểm về vô ngã này làm sinh khởi một sự thấu hiểu thậm thâm,thì chúng ta có thể loại trừ không chỉ vô minh và những cảm xúc phiền não sinhkhởi từ chúng, mà kể cả những dấu vết nghiệp [tập khí nghiệp] lưu lại cũng đượcxóa sạch. Hệ thống này được gọi là Đại thừa hay cổ xe lớn.

tongquan-02
Ảnh: Phật Thích-ca Mâu-ni

Cổ xe cao cấp nhất được biếtlà Kim Cương thừa bao gồm không chỉ những kỹ năng cho sự tăng cường sự thực chứngcủa chính chúng ta về tính Không hay tâm giác ngộ [Bồ-đề tâm], mà còn gồm những kỹ năng xác địnhcho sự thâm nhập [khai mở] nhữngđiểm [huyệt hay luân xa] quan trọng của thân thể. Bằng việc sử dụng những yếu tốvật lý của thân thể, chúng ta có thể đẩy nhanh tiến trình thực chứng, loại trừvô minh và những dấu vết của nó. Đây là chức năng chính của Kim Cương thừa.

Tôi sẽ giải thích những điểm này trong chi tiếtsâu rộng hơn từ một quan điểm tiến hóa hay lịch sử.

Theo quan điểm của KashmiriPandit Shakyashri, người đã đến Tây Tạng, thì đức Thế Tôn đã sống ở Ấn Độ hơn2.500 năm trước đây. Điều này căn cứ trên quan điểm phổ biến củaPhật giáo Nguyên Thủy, nhưng theo một số học giả Tây Tạng, đức Phật xuất hiệntrên thế gian này hơn 3.000 năm trước. Một nhóm khác nói rằng hơn 2.800 năm. Nhữngngười đề xuất khác biệt này cố gắng hỗ trợ giả thuyết của họ với những lý dokhác nhau, nhưng cuối cùng họ hầu như mơ hồ.

Cá nhân tôi cảm thấy rất hổthẹn rằng không ai, kể cả trong những Phật tử biết vị Thầy của chúng ta, đức ThếTôn Thích-ca Mâu-ni thực sự sống vào lúc nào. Tôi đã từng quan tâm một cáchnghiêm chỉnh rằng liệu có một nhà khoa học nào khả dĩ làm sáng tỏ điều này haykhông. Những ngọc xá lợi sẳn có ở Ấn Độ và Tây Tạng, mà vốn mọi người tin tưởnglà phát xuất từ chính đức Phật. Viên ngọc xá lợi này được kiểm nghiệm với nhữngkỹ thuật hiện đại, chúng ta có thể xác lập được các ngày tháng chính xác, điềunày sẽ rất hữu ích.

Chúng ta biết một cách lịchsử rằng đức Phật đã sinh ra như một con người bình thường như chính chúng ta.Ngài đã lớn lên như một hoàng tử, kết hôn và có một con trai. Rồi thì, sau khiquán sát sự khổ đau của con người, tuổi già, bệnh tật, và chết chóc, Ngài hoàntoàn từ bỏ lối sống thế tục. Ngài đã trải qua những khổ hạnh cực kỳ khốc liệtvà với một nổ lực to lớn thực hành thiền định dài lâu, cuối cùng Ngài đã giácngộ hoàn toàn.

Tôi cảm thấy rằng cung cáchmà Ngài đã chứng minh làm thế nào để trở nên hoàn toàn giác ngộ đã làm nên mộtthí dụ tuyệt hảo cho môn đồ của Ngài, vì đây là cung cách mà qua đó chúng tanên theo đuổi lộ trình tâm linh của chính mình. Tịnh hóa tâm thức của chínhchúng ta là điều hoàn toàn không dễ; nó cần rất nhiều thời gian và thực hànhchăm chỉ. Do thế, nếu chọn lựa để đi theo giáo huấn này, chúng ta cần năng lựcý chí vô vàn và quyết định đúng đắn ngay từ lúc khởi đầu, chấp nhận rằng sẽ có rất,rất nhiều chướng ngại, và giải quyết điều đó bất chấp tất cả chướng ngại, chúngta sẽ tiếp tục sự thực hành. Loại quyết tâm này là rất quan trọng. Đôi khi, tưởngchừng như đối với chúng ta thì do đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã đạt đến giác ngộqua những sự hy sinh và thực hành gian khó vô cùng, chúng ta, các môn đệ củaNgài, có thể đạt đến giác ngộ Phật quả mà không phải qua những gian khổ cùngkhó khăn như Ngài đã trải qua. Do vậy, tôi nghĩ rằng chính câu chuyện của đứcPhật đã nói lên điều gì đấy với chúng ta.

Theo truyền thuyết được nhiều người biết tới, saukhi Ngài hoàn toàn giác ngộ, đức Phật đã không thuyết giảng gì trong bốn mươichín ngày. Ngài đã ban bố sự thuyết pháp lần đầu tiên cho năm người nguyên từnglà bạn đồng tu khi ngài sống như một khất sĩ. Vì Ngài đã bỏ ngang khổ hạnh, họđã từ bỏ Ngài và ngay cả khi Ngài đã trở thành một vị giác ngộ hoàn toàn, họcũng không nghĩ đến sự hòa hiệp đối với Ngài. Tuy vậy, gặp gở đức Phật trongcung cách của Ngài, họ tự nhiên và tự động bày tỏ sự tôn kính đối với Ngài, nhưmột kết quả Ngài đã chuyển pháp luân lần đầu tiên để giáo hóa họ.

tongquan-03
Tháp Dhamekh tại vườn Lộc Uyển được xây dựng từ thời vua A-Dục(249 TCN)
đánh dấu nơi đức Thích-ca chuyển Pháp Luân lần thứ nhất.



[1]Chính niệm[toàn tâm] ở đây được hiểu như là kỹ năng trong đó sự chú ý của hành giả khôngbị phân tán khỏi sự vật nào vốn nó có được như là đối tượng ban đầu.

“The Great Treaties onthe Stage of the Path to Enlightenment”. Vol3. P48. Tsongkhapa. The LamrimChenmo Committee. Tibetan Buddhist Learning Center. 2002. ISBN 1559391669

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/08/2019(Xem: 13841)
Lần đầu tiên chùa Đức Viên (2440 McLaughlin Avenue, San Jose, California) hội đủ duyên lành cung thỉnh chư Tăng tu viện Namgyal (Ithaca, New York) kiến tạo một đàn tràng thiêng liêng bằng cát màu tuyệt đẹp trong hai tuần (từ ngày 12/8 đến ngày 24/8/2019). Đó là Kalachakra Mandala Thời Luân (Bánh Xe Thời Gian), biểu tượng cho vũ trụ để cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Thời Luân là cung trời an lành, nơi trú xứ của các vị Thánh Hộ Phật, mang lại nguồn an lạc, có năng lực gia trì mạnh mẽ của chư Phật, và thanh tịnh hóa tại địa điểm khởi tâm cung thỉnh. Trong Thời Luân có 28 con thú trên lưng nở hoa sen là: 7 con heo, 7 con ngựa, 7 con voi và 7 con sư tử kéo xe chở các vị Thánh Hộ Phật.
07/08/2019(Xem: 7100)
Tỉnh Thức Rực Rỡ: Đọc Sách “Vivid Awareness”, Bài này sẽ giới thiệu và tóm lược tác phẩm “Vivid Awareness: The Mind Instructions of Khenpo Gangshar” (sẽ viết tắt là: VA) của đại sư Khenchen Thrangu, dựa vào bản Anh dịch của David Karma Choephel, ấn bản 2011, nhà xuất bản Shambhala. Sách này nói về một Thiền pháp của Kim Cang Thừa. Lý do chọn sách này vì qua đây có thể hiểu được và thâm nhập được Thiền Tông – tức là Thiền Trúc Lâm của Việt Nam.
24/05/2019(Xem: 7491)
Sau 12 năm học tập và làm việc tại nước Nga, năm 1995 tôi về Việt Nam và vào làm việc tại công ty FPT. Chân ướt chân ráo chưa hiểu nhiều về công việc và cuộc sống trong nước, may thay tôi được anh Phan Ngô Tống Hưng, lúc đó là phó Chủ tịch HĐQT kiêm phó Tổng giám đốc dẫn đi đảnh lễ Thượng tọa Thích Viên Thành. Và thế là Thượng tọa trở thành người thầy sơ tâm đầu tiên của tôi cho đến ngày Thầy viên tịch năm Nhâm Ngọ -2002. Thượng tọa Thích Viên Thành là Tổ thứ 11 của Tùng Lâm Hương Sơn và luôn là người thầy tôn kính của tôi.
04/09/2018(Xem: 9464)
Bất cứ ai may mắn có dịp viếng thăm Tu Viện Kopan trong 40 năm qua, có thể đã nhìn thấy được nụ cười từ hòa của Khensur Rinpoche Lama Lhundrup Rigsel, người đã phụng sự cho Tu Viện Kopan trong các vai trò khác nhau trong gần bốn thập niên qua. Ngài đã được Văn Phòng của Đức Dalai Lama thụ phong chức trụ trì tu viện năm 2001, mặc dù Ngài đã không chính thức giữ chức vụ này từ khi Lama Yeshe viên tịch vào năm 1984. Vào tháng Bảy năm 2011, Lama Lhundrup không tiếp tục vai trò này nữa, vì bệnh ung thư ở giai đoạn tiến triển của Ngài.
04/09/2018(Xem: 6586)
Kyabje Lama Zopa Rinpoche Tu Viện Kopan, Nepal Kyabje Lama Zopa Rinpoche giải thích cách phát khởi thực chứng về các giai đoạn của đường tu giác ngộ trong Khóa Tu Kopan Thứ Mười Hai, được tổ chức ở Tu Viện Kopan, Nepal, năm 1979. Bài này là trích đoạn trong Bài Thuyết Pháp thứ 9 trong khóa tu. Sandra Smith hiệu đính sơ.
03/09/2018(Xem: 10310)
Lama Zopa Rinpoche đã sáng tác một pháp tu Kim Cang Tát Đỏa ngắn, được ấn tốngtheo khổ sách bỏ túi. Nhờ vậy, bất cứkhi nào phạm giới, hay tạo ra bất kỳ nghiệp xấu ác nào khác thì ta có thểtịnh hóa điều tiêu cựcấy bằng bốn lực đối trị, không hề chậm trễ một phút giây.
15/03/2018(Xem: 21877)
Nhẫn nại là 10 pháp hành Ba la mật cho các vị Bồ Tát có ý nguyện trở thành Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác hoặc Phật Thinh Văn Giác. Những pháp hành đó là : 1- Bố thí 2- Trì giới 3- Xuất gia 4- Trí tuệ 5- Tinh tấn 6- NHẪN NẠI 7- Chân thật 8- Quyết tâm 9- Từ bi 10- Tâm xả
20/02/2018(Xem: 6329)
Đây là pho tượng đồng Tổ Sư Tống Khách Ba do Luật Sư Nguyễn Tân Hải (pháp danh: Thiện Vân) cúng dường Tu Viện Quảng Đức vào chiều ngày 19-02-2018 trong dịp Thượng Tọa Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng ghé nhà thăm Luật Sư vừa về nhà sau thời gian điều trị tại bệnh viện. Luật Sư Tân Hải là đệ tử của Hòa Thượng Chùa Phổ Quang, Phú Nhuận, anh có duyên tiếp cận và nghiên cứu về Phật Giáo Tây Tạng, Nhật Bản… do vậy mà anh sở hữu nhiều tài liệu và pháp khí quý hiếm, mà một trong số đó là pho tượng này (xem văn bản đính kèm). Thành tâm niệm ơn và tán thán công đức bảo vệ và hộ trì Chánh pháp của anh chị Luật Sư Tân Hải – Bích Thi. Nam Mô A Di Đà Phật
12/10/2017(Xem: 19159)
Cầm quyển sách trên tay với độ dày 340 trang khổ A5 do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-Trung Tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang ấn hành và nhà xuất bản Hồng Đức tái bản lần thứ 2 năm 2015. Sách này do Phật Tử Nguyên Đạo Văn Công Tuấn trao tay cho tôi tại khóa tu Phật Thất từ ngày 24 đến 31.09.2017 vừa qua tại chùa Bảo Quang, Hamburg, Đức Quốc. Tôi rất vui mừng được đọc tác phẩm thứ hai của Giáo Sư Lê Tự Hỷ. Ngắm nhìn bìa sách cũng như cách in ấn của Việt Nam trong hiện tại đã tiến được 8 phần 10 so với Đài Loan hay Đức, nên tôi lại càng vui hơn nữa. Bởi lẽ từ năm 1975 đến cuối năm 2000 tất cả những kinh sách được in ấn tại Việt Nam, kể cả đóng bìa cứng cũng rất kém về kỹ thuật và mỹ thuật, nhưng nay sau hơn 40 năm, nghề in ấn Việt Nam đã bắt đầu có cơ ngơi vươn lên cùng với thế giới sách vở rồi và hy vọng rằng nghề ấn loát nầy sẽ không dừng lại ở đây.
20/08/2016(Xem: 14252)
Ai là người trí phải nên khéo điều phục cái tâm của mình phải luôn quán sát Tánh Không (sumyata) và Diệu Hữu (Amogha) của bản tâm và vạn pháp. Không ai có thể cứu chúng ta khỏi cảnh giới khổ đau, phiền não, nếu chính bản thân chúng ta cứ mãi bo bo ôm ấp, nâng niu chìu chuộng cái vỏ Ngã Pháp được tô điểm bởi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Tà Kiến, và Đố kỵ.