Rơi tro trên thân Phật

26/07/201208:37(Xem: 15044)
Rơi tro trên thân Phật
RƠI TRO TRÊN THÂN PHẬT
Thiền Sư Sùng Sơn
Nguyên tác tiếng Anh: Dropping Ashes On The Buddha
Dịch Việt: Thích Giác Nguyên
Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 2001


roitrotrenthanphat_tgiacnguyenjpg

“Rơi Tro Trên Thân Phật” nguyên tác tiếng Anh: “Dropping Ashes On The Buddha” của Thiền sư Sùng Sơn khai thị trong thời gian ngài mới đến Hoa Kỳ hoằng pháp vào những năm đầu thập kỷ 70. Sách xuất bản vào năm 1976 tại Mỹ và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đại Hàn, Đức, Pháp, Ba Lan, Nga, Tây Ban Nha, Hoa....

Giáo pháp Thiền giống như một cánh cửa sổ. Trước nhất chúng ta mới nhìn vào chỉ thấy bề mặt phản ánh lờ mờ. Nhưng khi chúng ta tu hành thì khả năng nhìn thấy trở nên rõ ràng. Giáo pháp cũng trở nên rõ ràng. Cho đến khi đạt đến tối hậu, chúng ta nhìn thấu suốt, sẽ thấy tất cả mọi vật: Bản lai diện mục chính mình.
Cuốn sách này là sự góp nhặt những lời đối thoại, những mẩu chuyện, những cuộc gặp gỡ, những Pháp ngữ, và những bức thư qua lại giữa Thiền sư Sùng Sơn với các môn sinh trong lúc ngài hoằng pháp tại Hoa Kỳ.
Ngôn thuyết phát sanh, khiến hoàn cảnh phát sanh. Mỗi hoàn cảnh là một trường du hí, cũng là một vấn đề của sanh tử. Tên của sách này đặt ra do Thiền sư Sùng Sơn khai thị cho những đệ tử tu tập. Nội dung như sau:

Có một người đàn ông đến Trung tâm Thiền hút thuốc, Ông ta lại gần tượng Phật phà khói thuốc vào mặt Phật và khảy rơi tro trên bắp vế của ngài. Nếu bạn đứng đó, sẽ xử trí ra sao?
Người này đã hiểu rằng chả có gì là phàm thánh cả. Vạn vật trong vũ trụ đồng một thể, và Một đó là chính anh ta. Cho nên các pháp không ngăn ngại. Tro là Phật; Phật là tro. Điếu thuốc khảy. Tro rơi.
Nhưng sự hiểu biết của anh ta chỉ là một phần, chứ chưa hiểu suốt tất cả mọi vật như chúng đang là: Thánh là thánh; Phàm là phàm. Tro là tro; Phật là Phật. Anh ta bị vướng mắc về tướng “Không” với quan điểm “thấy biết” của mình. Anh ta nghĩ rằng tất cả mọi lời nói chữ nghĩa đều vô dụng….

Xem tiếp nội dung toàn cuốn sách phiên bản PDF: Rơi Tro Trên Thân Phật, Thiền sư Sùng Sơn


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/2010(Xem: 21829)
Sách này có hai phần: Đạt-lại Lạt-ma tại Harvard, bao gồm các khóa trình được thực hiện tại đại học Harvard, được giáo sư Jeffrey Hopkins dịch từ Tạng sang Anh ngữ...
01/11/2010(Xem: 16826)
Bồ Tát Hạnh của Shantideva là một tác phẩm đã từng được nhiều người trong chúng ta biết đến. Bồ đề tâm và Bồ tát hạnh chúng ta cũng từng biết với chi tiết qua những bộ kinh phổ biến rộng như kinh Hoa Nghiêm. Trong Một Tia Sấm Chớp Sáng Trong Đêm Tối chúng ta được đức Dalai Lama giảng dạy cho nghe về Bồ Tát Hạnh trong trọn một tuần lễ vào tháng Tám 1991 ở Dordogne, miền tây nam nước Pháp.
30/10/2010(Xem: 5526)
Người viết ghé thiền lâm này tu hai lần. Lần nào cũng ngắn ngủi, không đủ thời gian để lãnh hội và thẩm thấu hết lộ trình tu tập của truyền thống thiền quán này. Ai cũng có thể đọc trong sách vở, hoặc nghe vị khác nói lại về tông chỉ của nó là như vầy, như vầy, nhưng tất cả những điều đó quả thật không thể so sánh được với những gì mình tự thể nghiệm từ sự tu tập của chính mình.
16/10/2010(Xem: 6499)
Lịch sử Chùa Nguyên Thuỷ thành lập năm 1970do cố Hoà thượng Hộ Tôngthực hiện. Chủ trương của Hoà thượng là thành lập Đại Học Phật Giáo và Trung tâm thiền định Phật Giáo Nguyên Thủy trong diện tích đất chùa Nguyên Thủy, nhưng vì nhân duyên chưa đủ nên công trình chỉ hoàn thành hai hạng mục chánh điện và tăng xá. Chánh điện có diện tích ngang 18m, dài 24m và một pho tượng Thích ca bằng chất liệu ximăng, ngang 3,3m, cao 6,3m rất hùng vĩ và trang nghiêm. Công trình kiến trúc khá độc đáo, mang đậm tính truyền thống Phật giáo Nguyên thuỷ và dân tộc Việt, mái cổ lầu, hoa văn đơn giản, nhẹ nhàng tươi mát. Chùa từ ngày thành lập đến nay đã trải qua 5 đời trụ trì: cố Hoà thượng Hộ Tông, Thượng toạ Thiện Giới, Thượng toạ Giác Chánh, Đại đức Giác Thiền và Thượng toạ Pháp Chất. Mỗi đời trụ trì đều có sự đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát huy chùa Nguyên Thuỷ.
12/10/2010(Xem: 18631)
Thật là một ích lợi lớn khi có thể đối diện với cuộc sống bằng một tâm thức tích cực và khá quân bình. Chúng ta hoàn toàn có lợi khi quen với một tâm thái đúng đắn, nhưng thói quen nhường bước cho những xúc động xung đột như giận dữ dựng lên những chướng ngại có tầm cỡ. Tuy nhiên, có thể vượt khỏi chúng. Chúng ta đạt đến đó bằng cách chánh niệm nhận ra mỗi một phiền não này ngay khi chúng biểu lộ và chữa lành nó tức thì. Khi người ta nắm lấy mọi cơ hội để thực tập như vậy, những phiền não thôi ngự trị chúng ta trong vòng vài năm. Về lâu về dài, ngay người dễ nổi giận nhất cũng đạt được sự gìn giữ tính bình thản.
11/10/2010(Xem: 5932)
Tinh Yếu Lâm Tế Lục bình giảng
11/10/2010(Xem: 12959)
Ngày nay người ta đi hàng trăm ngàn dặm để được trông thấy các thiền sư, trực tiếp gặp họ để tham vấn. Nhưng rất ít người có dịp để đặt câu hỏi: tôi phải làm sao với những nỗi giận dữ, ghen tuông, thù ghét, sợ hãi, buồn sầu, tham vọng, si mê trong tôi - tất cả những rắc rối thường xâm chiếm tâm tư con người? Tôi phải cư xử với công việc, cha mẹ, con cái, vợ hoặc chồng, tôi tớ, xếp của tôi như thế nào, tất cả những tương giao làm nên đời sống ấy? Thiền có cách nào giúp tôi không?
08/10/2010(Xem: 20927)
Phật nói : Lấy Tâm làm Tông, lấy không cửa làm cửa Pháp. Đã không cửa làm sao đi qua ? Há chẳng nghe nói : “Từ cửa vào không phải là đồ quý trong nhà. Do duyên mà được, trước thì thành, sau thì hoại.” Nói như thế giống như không gió mà dậy sóng, khoét thịt lành làm thành vết thương. Huống hồ, chấp vào câu nói để tìm giải thích như khua gậy đánh trăng, gãi chân ngứa ngoài da giầy, có ăn nhằm gì ? Mùa hạ năm Thiệu Định, Mậu Tý, tại chùa Long Tường huyện Đông Gia, Huệ Khai là Thủ Chúng nhân chư tăng thỉnh ích bèn lấy công án của người xưa làm viên ngói gõ cửa, tùy cơ chỉ dẫn người học. Thoạt tiên không xếp đặt trước sau, cộng được 48 tắc gọi chung là “Cửa không cửa”. Nếu là kẻ dõng mãnh, không kể nguy vong, một dao vào thẳng, Na Tra tám tay giữ không được. Tây Thiên bốn bẩy (4x7=28) vị, Đông Độ hai ba (2x3=6) vị chỉ đành ngóng gió xin tha mạng. Nếu còn chần chờ thì giống như nhìn người cưỡi ngựa sau song cửa, chớp mắt đã vượt qua.