Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập

03/10/201321:11(Xem: 9151)
Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập


Sakya_Muni_3a
Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập


Hòa thượng Thích Khế Chơn

Bài đúc kết tọa đàm của Hòa thượng Thích Khế Chơn
chủ tọa buổi thảo luận tại trú xứ An cư tập trung Ni viện Diệu Đức. (PL 2557) 2013


Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính thưa Chư tôn đức Ni Ban Điều Hành trú xứ An cư tập trung tạ Ni Viện Diệu Đức
Kính thưa Đại chúng

Qua đề tài: “Sự tương quan giữa các pháp môn hành trì Thiền – Tịnh – Luật của người tu tập” mà chiều hôm nay sau hai tiếng đồng hồ với 11 ý kiến phát biểu, chia sẻ và cùng nhau thảo luận, chúng tôi hết sức hoan hỷ và trân trọng tinh thần tham gia đóng góp ý kiến của Đại chúng. Qua đó chúng tôi xin rút gọn lại và có mấy ý kiến đóng góp them để cùng nhau chia sẻ với Đại chúng như sau:

1. Tu Thiền và Tịnh độ Niệm Phật có cần đến giới luật hay không?


Mỗi pháp môn đều thù thắng vi diệu, đều đi đến mục đích giải thoát, vì chúng sinh căn tánh sai khác, nên phải tùy cơ mà hướng dẫn. Pháp môn hướng thượng chẳng phải Thiền chẳng phải Tịnh, nhưng cũng là Thiền cũng là Tịnh.
Người tu hành tu pháp môn Tịnh độ phải tin chắc rằng “tâm này làm Phật”. Một niệm không tương ưng với Phật thì không thể gọi là niệm Phật tam muội. Niệm niệm cùng Phật không gián đoạn thì cần gì nhọc hỏi “Ai niệm Phật?”. Cho nên, chỗ cùng tột của pháp môn Tịnh độ là không có Phật ở ngoài niệm, không có niệm ở ngoài Phật. Chính lúc hạ thủ công phu thân tâm liền thể nhập. Chỉ cần niệm niệm tương tục, trở thành vô niệm thì Đức Phật A Di Đà hiện tiền, tức thời cũng thấy được vô lượng chư Phật trong mười phương; chỉ cần sanh về một cõi nước Tây phương Cực Lạc, cũng tức là sanh về các cõi Phật thanh tịnh trong mười phương. Chỉ cần tin sâu pháp môn Tịnh độ này, nương nơi lòng tin mà lập nguyện, dựa vào nguyện mà khởi hạnh thì mỗi niệm, mỗi niệm hiện ra vô lượng Đức Phật ngồi khắp các cõi nước, nhiều như vi trần trong mười phương, chuyển đại pháp luân, chiếu suốt hư không, mà chẳng ngoài bản tánh.
Cho nên khi có người đến hỏi Thiền, Tuệ Trung Thượng Sỹ liền bảo: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc san hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.) Trong “Thập mục ngưu đồ”, người chăn trâu phải trải qua mười giai đoạn chăn dắt, mới có thể “thỏng tay vào chợ”. Tức thân và tâm điều thuần thục thì thiền định mới bắt đầu có hiệu quả. Vì vậy người tu thiền hay bât kỳ pháp môn nào cũng cần đến giai đoạn trì giới để thân và tâm tự tại, lúc đó mới chuyển sang công đoạn thể nhập vào tự tánh và Phật tánh.
Thiền cốt để cho thân tâm thanh tịnh, khi thân và tâm thanh tịnh rồi thì vạn hạnh viên mãn, cứ tưởng rằng không cần hành trì giới luật, nhưng chưa thấy một thiền sư không bao giờ rời xa giới luật, mặc dù yếu chỉ của Thiền tông là “bất lập văn tự và giáo ngoại biệt truyền”.
Người tu Tịnh độ niệm Phật nhất tâm bất loạn thì thân và tâm vắng lặng, mọi sự dứt bặt, đừng nghĩ rằng bỏ qua giai đoạn hành trì giới luật, thật ra nhờ vào sự thọ giới và giới biểu đã giúp người tu tập tẩy trừ nghiệp chướng và được giới Pháp bảo vệ từ trước, đến nay nhờ vào công phu tu tập niệm Phật mới thành tựu các công hạnh tu trì về sau.
Thiền và Tịnh đều cần đến giới luật, vì không có giới luật người tu hành không có điểm xuất phát tốt, giữa và cuối ắt không lợi lạc. Bất kỳ pháp môn nào cũng phải thông qua con đường Tam Vô Lậu học – Giới Định Tuệ, nếu bỏ qua những giai đoạn này, người học đạo sẽ rơi vào tà kiến.
Thấy rõ việc hành trì giới luật có lợi như thế nào cho sự tu tập thiền định và tu Tịnh độ, chúng ta sẽ cảm nhận tất cả tự tại, bình thường, an ổn khi áp dụng Giới luật để thúc liễm thân tâm, dần dần đạt trọn Tam vô lậu học; vì khi đã an trụ trong thiền, thân tâm an tịnh rồi thì trí tuệ bát-nhã sẽ dễ bừng sáng, giúp ta chỉ một bước mà có thể từ bỏ bờ mê sang bến giác.


2. Tụng kinh và Niệm Phật thôi thì có thành tựu tuệ giác cho chúng ta hay không?


Câu trả lời ở đây là có. Tuệ giác ở đây chính là trí huệ giác ngộ hay Phật trí.
Nếu cứ luận biện tụng kinh đến “vô tụng”, niệm Phật đến “vô niệm” thì thế nào cũng đến lúc cho rằng thành tựu tuệ giác. Một hành giả tu tập thì không hoàn toàn như thế. Phải qua một thời gian tu tập dần dần, từ tụng tập các kinh điển cho đến niệm Phật đều đặn, mặc dầu chưa có dụng tâm; cho đến khi thấm nhuần được chút ít cho thân và tâm, mới được phép tầm cầu giới Pháp. Từ nền móng cơ bản vững chãi này, người tu tập ở bất kỳ pháp môn nào, cho dù đó là Thiền định hay niệm Phật đều phải trải qua những công đoạn như thế, mới mong có được thành quả tương ưng. Sau khi đã thành tựu các công đức trì tụng và niệm Phật, người tu học mới bắt đầu dụng công chuyên tu pháp môn mà mình lựa chọn một cách tinh tấn. Đến lúc đó, tụng kinh chuyên chú, hiểu và lý giải được yếu nghĩa của kinh, thì thân khẩu ý liền thanh tịnh, công đức thù thắng phát sinh, hay còn gọi là “Pháp sư công đức” ở trong Kinh Pháp Hoa, thì tuệ giác sẽ phát sinh.
Tu hành theo pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật cũng thế, sau khi đã hoàn thành các công hạnh tu tập và thọ trì giới Pháp, người tu tập trở nên phấn chấn và được bảo vệ bởi thành trì giới luật. Lúc này người tu tập dụng công tu tập, niệm Phật chuyên nhất, tâm không loạn động, niệm này nối niệm khác, gọi là niệm Phật Tam Muội. “Tam muội” có nghĩa là định (Samadhi). Hay còn gọi là Niệm Phật Thiền. Đến đây, tuệ giác của hành giả sẽ khai mở và chứng nhập vào vô sanh, tức vãng sanh Tịnh Độ. Đó chính là tuệ giác.
Nhìn lại tiến trình tu tập của hành giả ở trên, chúng ta thấy một chuỗi nhân quả hiện tiền, có nhân mới có quả, có công phu tu tập từ sơ khởi, đoạn giữa và cuối đều tốt đẹp. Không thần bí cũng không đốt cháy giai đoạn. Gắn liền với giáo lý Tam vô lậu học – Giới định tuệ. Vì thế cho nên việc tu học của bất kì pháp môn hay trường phái nào cũng không thể xa rời giới luật mà đức Phật đã dày công chế ra.


3. Pháp môn trì giới có liên quan gì đến các pháp môn Thiền và Tịnh độ?


- Hành trì giới luật liên quan mật thiết với pháp môn Tịnh độ
Hành trì giới luật thật không đơn giản, vừa thận trọng vừa tinh chuyên mới mong thành tựu. Thế nhưng pháp môn Niệm Phật thật là quảng đại, lại vừa giản dị. Cứ nhất tâm niệm Phật thì tự nhiên khế hợp công hạnh phòng phi chỉ ác. Nếu nghĩ như vậy là chúng ta mắc vào lỗi chấp tướng và hay “tác” và “vô tác”.
Trì giới và niệm Phật, vốn dĩ chỉ là một. Tịnh giới làm nhân, Tịnh độ là quả. Nếu cho rằng, niệm Phật là con đường tắt, Luật học là con đường vòng, như vậy đã trái, làm sao thành tựu niệm Phật tam muội được? Còn nhiều phiền não chướng cấu uế thì Tịnh độ làm sao sinh đến được? Cho nên người nhất tâm niệm Phật ắt phải để tâm phòng phi chỉ ác và chuyên tinh hành trì giới luật. Người chuyên tinh về Luật học cũng có thể quyết định thệ nguyện vãng sinh và nhất tâm niệm Phật. Làm như thế, trong hiện tại thì sống an lạc, không nghi ngờ, không sợ sệt, lúc lâm chung chắc chắn được Thượng phẩm thượng sanh. Sự mầu diệu của các pháp môn, thì trong đó Trì giới và niệm Phật quả là vi diệu. Đã là vi diệu thì cớ gì chúng ta nghĩ là khác nhau.
- Hành trì giới luật liên quan mật thiết với pháp môn Thiền định
Luận Tát-bà-đa nói: “Tất cả đệ tử Phật đều nương giới mà an trú, muôn hạnh lành do đó mà sinh trưởng, nếu biết nương giới tu hành, thì các căn thù thắng, biển khổ có thể qua, bờ kia có thể tới.”
Cho nên kinh Tam-muội nói: “Phàm người cầu đạo an thiền, trước phải dứt niệm, người ta sở dĩ chẳng đắc đạo chỉ do tư tưởng niệm nhỏ nhiều nên thành cõi năm trược uế ô chẳng gọi cõi tịnh.”
Nếu trong ngày chúng ta luôn luôn hành trì giới luật, đọc các bài kệ Tỳ-ni nhật dụng thì chúng ta luôn luôn sống tỉnh giác, chánh niệm, làm việc gì ra việc nấy, không lẫn lộn, không sai trái thì có đâu sai phạm lỗi lầm. Và, một kết quả tự nhiên là chúng ta làm tâm vốn mê lầm, vọng tưởng, chấp trước, điên đảo, nhiễm ô, ngã mạn trở thành thanh tịnh. Đây chính là nhờ giới mà sanh định, nhờ định mà phát huệ. Phải chăng, đó là tất cả cái vi diệu của Luật học và Thiền học.
Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật còn dạy rất rõ: “Như thành quách được phòng hộ thế nào, tự thân các ngươi cũng phải nên phòng hộ như thế. Một giây lát cũng chơ buông lung. Hễ một giây lát buông lung là một giây lát sa đọa.” Đây chính vừa hành trì giới luật nhưng cũng chính là đang thực tập Thiền, công dụng và công hạnh có sẵn trong nhau.


4. Trong 3 pháp môn trên, pháp môn nào là chủ yếu?


Qua sự đánh giá và thảo luận, hầu hết các ý kiến đều thiên trọng pháp môn hành trì Giới luật. Điều này phản ánh đúng giá trị đích thực của Giới luật Phật giáo và sự cấp thiết của việc hành trì Giới luật trong thời đại ngày nay; vừa lợi ích cho sự thăng hoa tâm linh cá nhân, hoàn thiện nhân cách đạo đức, thân thiện môi trường và giúp cho xã hội ổn định và phát triển bền vững.


5. Tổng kết


Quá trình từ giới vào định đối với người tu sĩ sơ cơ, nhất là trong phạm vi dùng Tỳ-ni làm căn bản cho Thiền học này, cũng giống như một hài nhi trong qúa trình tập đi. Từ giai đoạn run rẩy nắm chặt tay mẹ không dám buông cho đến giai đoạn bước những bước đầu chập chững, rồi đi lại thông dong, cho đến lúc đã làm chủ được đôi chân rồi thì lúc đó đi, đứng, chạy, nhảy thế nào tùy ý. Đi mà không cần biết mình đi, chạy mà không cần biết mình chạy.
Nói tóm lại, hành trì giới luật là nền tảng cơ bản để đi vào các pháp môn, là việc tối yếu của nguyên tắc đạo đức, giúp người học Phật tỉnh giác các hành vi hàng ngày của mình như mặc áo, ăn cơm, lễ Phật, niệm Phật, ngồi thiền cho đến ra vào đi lại, đại tiểu v.v… giờ giờ, khắc khắc, kiểm thúc căn thức không cho một mảy buông lung. “Dùng kệ chú hay giới luật để kềm tâm một chỗ, đêm ngày không gián đoạn thì không việc nào chẳng xong.” Lời tổ đức trên đây quả là một minh chứng hùng hồn cho thấy Tỳ-ni là căn bản của hết thảy các pháp môn.
Tuy nhiên tất cả các pháp môn đều hướng đến mục đích tối thượng giải thoát, cho nên còn nói “Phật đạo đồng” hoặc “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Mỗi một pháp môn đều dung thông và hỗ trợ nhau không hề thiếu sót

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/201520:51(Xem: 7871)
rang mạng Buddhaline.net, một trang mạng Phật giáo rất uy tín vừa phổ biến lá thư số 139 (tháng 10/2015) với chủ đề "Thiền Định", nhằm đánh dấu 15 năm thành lập trang mạng này, và đồng thời kêu gọi những người Phật tử khắp nơi hãy hưởng ứng chương trình "24 giờ thiền định cho Địa cầu" ("24 heures de méditation pour la Terre") sắp được tổ chức trên toàn thế giới.
28/12/201209:52(Xem: 9251)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
30/01/201103:37(Xem: 9566)
Rõ ràng hơi thở là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm soát cảm xúc và hành vi của ta.
15/01/201109:42(Xem: 10852)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựa ở Đức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
22/07/201119:28(Xem: 2013)
Ngày nay, Thiền tông đang phát triển nhanh ở nước Mỹ; ở những quốc gia phương Tây khác, thiền cũng được nhiều người quan tâm hơn, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, dù có nhiều người cảm thấy thích thú đối với thiền ngay từ lúc đầu, nhưng chỉ có một số ít người theo đuổi cho đến mục đích cuối cùng. Tại sao như vậy? Tại vì sự quan tâm của họ không được xây dựng trên nền tảng vững chắc, nhiều người đã từ bỏ sự theo đuổi đối với thiền giữa chừng. Sự quan tâm của họ chỉ đơn thuần là sự tò mò, đến rồi đi, vào rồi lại ra một cách dễ dàng như là sự thay đổi áo quần vậy. Để kiên trì theo con đường của thiền, thì ngay từ đầu cần phải biết và rèn luyện ba nhân tố cốt lõi của thiền tập.
23/07/201116:30(Xem: 2891)
Khi chấp nhận thực hành thiền, chúng ta phải có niềm tin sâu sắc vào khả năng của tâm chúng ta ngay từ lúc khởi đầu, và phải duy trì niềm tin ấy...
02/12/201409:08(Xem: 16296)
Bản dịch tiếng Việt Ba Trụ Thiền do chúng tôi thực hiện lần đầu tiên vào năm 1985 tại Sài gòn, Việt nam, và được nhà xuất bản Thanh Văn ấn hành lần đầu tiên vào năm 1991 tại California, Hoa kỳ đã được nhiều độc giả tiếng Việt hâm mộ. Chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả quí độc giả và hành giả tu tập thiền nhiệt tình, và nhà xuất bản Thanh Văn.
12/01/201120:16(Xem: 4551)
Pháp Sư Thái Hư cũng như Hòa Thượng Thích Minh Châu đều dùng các từ Như Lai Thiền để chỉ Thiền Nguyên Thủy và Tổ Sư Thiền để chỉ các hình thức Thiền Phát Triển sau này do các Tổ Sư các Thiền phái nổi danh đề xướng và truyền lại cho các đệ tử của mình. Cũng có người dùng các từ Thiền Tiểu Giáo (tức Thiền Tiểu Thừa) và Thiền Đại Giáo (tức Thiền Đại Thừa) như Trần Thái Tôn trong bài "Tọa Thiền Luận " của Khóa Hư Lục.
30/04/201103:17(Xem: 5152)
Vào năm 1986-1987 Hòa Thượng giảng Kinh Nguyên Thủy; đối chiếu Kinh Pali (dịch ra Việt Ngữ) và A Hàm tại Thường Chiếu giúp cho Thiền sinh thấy rõ nguồn mạch Phật Pháp từ Nguyên Thủy đến Đại Thừa và Thiền Tông.
20/01/201102:20(Xem: 3472)
Làm sao tôi có thể hành thiền khi quá bận rộn với công việc và gia đình? Làm sao tôi có thể phối hợp hoạt động với ngồi yên một chỗ? Có các nữ tu sĩ không?