Sức mạnh của Định

15/01/202606:21(Xem: 542)
Sức mạnh của Định


phat thanh dao

Sức
 mạnh của Định


Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Khi Tỷ-kheo có định sẽ như thật rõ biết (pajànati):

-“Đây là Khổ (bản chất bất an), đây là Khổ tập (nguyên nhân dẫn đến bất an) các ngươi đều như thật rõ biết!.

-"Đây là Khổ diệt (cảnh giới Niết Bàn) và đây là con đường đưa đến Khổ diệt (tám Chánh Đạo). Các ngươi hãy như thật rõ biết!.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Phát lên một cố gắng cần làm để rõ biết:

-"Đây là Khổ","Đây là Khổ tập". Cố gắng cần làm để rõ biết.

-"Đây là Khổ diệt","Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt". Cố gắng cần làm để rõ biết.

(Trích Tương Ưng bộ, chương 7, S.v 414)

Quả vậy, đoạn kinh có hai điều mà đức Phật muốn nhấn mạnh do nhờ tu tập Định.

1) Như thật rõ biết

2) Phát lên một cố gắng để rõ biết

Như thật rõ biết là cách gọi khác của Tuệ Tri. Vậy, Tuệ tri điều gì? và như thật rõ biết như thế nào? Đó là về “Khổ”, về “Nguyên nhân” dẫn đến khổ. Cũng như, tuệ tri về “Niết bàn” và “Con đường dẫn đến Niết bàn”.

Về sự Khổ:

(Trạng thái bất an)

Khổ chính là những hiện tượng, tướng trạng còn bị tác động bởi sinh và diệt. Như thân này là một pháp sinh diệt vô thường. Từ đầu đến chân, trong ra ngoài, lục phủ ngũ tạng, thịt máu gân xương….tất cả đều vận hành trong sinh diệt. Một phút trôi qua có biết bao tế bào sống chết thay nhau và hướng thân này đến già nua, bệnh tật và chết chốc. Đây là chân lý không thể chối cải.

Dù ta cố gắng o bế thân này, tô đấp cho nó bằng những dưỡng chất tốt đẹp thì nó cũng già và chết. Một đóa hoa xinh đẹp mỹ miều, cũng chỉ vài tuần là héo; những động vật quý cưng, tuổi thọ của chúng là vài chục năm. Đời người cũng vậy, 100 năm chưa gọi là dài. Nhẫn đến núi non, ao hồ, sông ngàn, mây nước nào khác gì nhau. Mọi thứ đều chung một điểm, đó chính là sinh diệt mong manh.

Về tâm hành cũng thế. Những nghĩ suy của chúng ta, dòng tâm tưởng, cảm xúc, suy tư phân biệt của chúng ta; chí đến những buồn vui giận ghét, đau khổ, mừng lo vv... đều là mọi hiện tượng, trạng tướng của tâm hành, cũng đến đi chớp nhoáng, không hề trường cữu.

Một Tỷ kheo có Định, tức đạt được trạng thái vô niệm. Tâm không hề xao lãng, dao động. Ngồi xuống là yên, cột niệm tại chỗ, vững như núi lớn, tâm lặng như mặt hồ hoàn toàn tĩnh yên.

Hoặc khi Tỷ kheo ấy co tay, duỗi chân, nghiêng người hay hướng tới thì lòng vẫn an, tâm vẫn lặng. Dù con người ấy đi vào công việc, lao tác thường ngày thì Định của vị ấy vẫn vững mạnh và an trụ. Từ đó, nó chính là nền tảng cho nguồn Tuệ bừng khai.

Tuệ bừng khai, Tuệ sáng chói sẽ thấy rõ mọi thứ hoàn toàn như chúng đang là. Đây là Khổ, rõ biết là khổ, là bấp bênh, là bất toại ý, thảy đều như thật Tuệ Tri.

Ồ, đây là hạt đậu đen trong bàn tay, biết rõ như vậy. Đây là đậu đỏ, đậu trắng đều nằm trong bàn tay, biết rõ như thật. Và càng biết rõ hơn về sự có mặt của chúng vốn mong manh, sinh diệt và biến mất. Vị Tỷ kheo khi đó, tâm vẫn bình yên, hằng sáng đối với bất kỳ tình huống nào xảy ra.

Về Khổ Tập:

(Nguyên nhân dẫn đến bất an)

Do nhờ Định lực, sức mạnh của tĩnh lặng nội tại, vị Tỳ kheo tiếp tục duy trì sự quán chiếu sâu sắc đối với vận hành của các pháp. Dù là phần dao động của tâm (tâm pháp) hay tướng trạng của các pháp (sắc pháp), chúng di chuyển ra sao, vận hành thế nào thì thầy Tỳ kheo vẫn an trụ trong trí quán thuần sáng.

Thầy tỳ kheo thấy như thật rằng, chính do bám víu và tham đắm vào các sắc pháp, như trần cảnh bên ngoài, sắc tướng bên trong, tấm thân thịt máu, lớn hay nhỏ, liệt hay thắng, xa hay gần đi nữa, vị ấy vẫn thấy rõ như nhìn lòng bàn tay: “Ồ, do tham ái mà có khổ, do bám víu mới đầy ắp đau thương.” Thật vậy, ai cho thân này là trường tồn bất hoại, là chỗ dựa của tự ngã linh hồn, thì họ đã rơi vào tà kiến về thân, lạc vào khổ xứ.”

Định lực ấy, sức mạnh của tĩnh tâm, luôn là nền tảng duy nhất cho Tuệ giác giải thoát. Bởi hàng ngàn cái thấy, cái biết của thế gian vẫn bị đóng khung trong bản ngã tự tôn vậy. Từ lâu, áng mây vô minh dầy đặc đã che lấp “tánh giác” trong sáng trong ta, nên sự sự dù bày ra trước mắt nhưng chúng ta không bao giờ thấu triệt được bản chất hiện hữu trong kiếp sống mong manh.

Biết giả tạm mà vẫn mong, rõ hư huyễn mà vẫn bám, người ta cứ mãi ném mình vào thế giới khổ đau, thà chấp nhận một cách mù quáng miễn đạt được danh, được lợi, thì dù có bị cột trói, kiềm hãm đến đâu cũng sẳn lòng nếm cho bằng được những giọt mật trên đầu một lưỡi dao sắc bén.

Vị tỳ kheo đã hành đúng pháp, trì đúng cách và tự nói lên rằng: “Tham ái là gốc khổ, là tập đế dẫn đến khổ đế, biết rõ như vậy, tuệ tri như vậy. Ái là cội nguồn của sinh diệt, là động lực đưa đến luân hồi bất tận, vị Tỳ kheo tuệ tri như thật, rõ biết như vậy, không dính mắc hay can thiệp bất kỳ điều gì.”

Về Khổ Diệt:

 

(Niết bàn)
Chính
 là người đã dứt trừ hoàn toàn khổ đau và đạt được thánh quả giải thoát. Dù còn mang thân này, nhưng tâm của họ đã tự tại, không còn vướng mắc thế gian. 
Họ nhìn vào cuộc sống bằng tuệ giác siêu việt, không bị đóng khung bởi ngã chấp hoặc sự bám víu đối với cuộc đời. 
Cái gọi là danh, là lợi, là những thứ mà thế gian tôn thờ, muôn người chạy theo từ tiền tài, địa vị, tận hưởng vinh hoa vv… nhưng, người thánh trí tuyệt đối không còn si mê hay tham ái nữa. 
Họ chính thức ra khỏi bóng đêm và tháo gỡ hoàn toàn tất cả những cột trói. Vì cuộc sống này, vạn sự đều là vô thường, sinh diệt, đắp đổi mong manh. Nói đúng hơn, các pháp vốn trống rỗng, hư vô; không hề có một thể tính cố định, trường tồn. 
Vị tỷ kheo đã chứng được sự diệt khổ, còn gọi là Niết bàn quả vị, trí tuệ viên thông, năng lực giác tuệ hoàn toàn hùng hậu. Họ đã cắt lìa mạng lưới chằng chịt của vô minh, phá tan thành trì bản ngã, mọi khổ đau từ nay đã dứt hẳn. 
Họ đi ngang cuộc đời bằng nụ cười tự tại, xem sống chết nhẹ như bông tơ, tuyệt không còn sợ hãi và vượt lên tất cả sầu ưu, điên đảo của thế gian vậy.

Về Khổ Diệt Đạo:

(Con đường Bát Chánh).”

Sức mạnh của Định đã kiên trì thì sự quán chiếu sẽ sáng hơn trên từng đề mục. Hành giả đã nhận thức được rằng, mọi sự vận hành đều nội hàm tính biến hoại và sinh diệt. Như một đoá hoa lớn lên, là một chuỗi vận hành tương tục sinh hoại, gọi là Khổ Đế. Thân trạng con người cũng vậy, liên tục sinh, liên tục hoại để tạm hình thành và tan biến theo thời gian, đó cũng là sự khổ.
Sự thật này được đức Phật nghiệm chứng bằng con đường thiền định rất thực tiễn. Ngài thấy rõ chúng là hữu vi pháp thuộc về tâm tướng và chỉ là những vận hành giả danh, không thật. Cái này tiếp nối cái kia để có mặt, để hoại tan một cách tạm bợ. Con đường ấy, khổ đạo thánh đế, đã được ngài chỉ dẫn thật rõ ràng trên từng pháp hành cụ thể.
Thầy tỳ kheo cũng học như vậy, nương theo dấu bước của Ngài bằng chí nguyện vững chắc để phát tấn hành trì không lung lay. Vị ấy đã tỏ thông con đường thánh đạo tám chi, từ chánh kiến, chánh tư duy đến chánh niệm, chánh định một cách minh tường và tỷ mỷ. Giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay thật mạnh khoẻ và dễ dàng để nâng một vật khỏi vị trí mà anh muốn. 
Vị hành giả đêm ngày hằng quán như sau:
“Nhờ vào Chánh Kiến mà sự thật về Khổ đã được Tuệ Tri. Nhờ vào Chánh kiến mà sự thật về nguyên nhân tạo ra Khổ, đã được Tuệ Tri….” Và nhờ Tuệ tri như thật trong các pháp, không bám víu, không chạy theo, không ném đời mình vào những thăng trầm được mất. 
Ồ, sầu ưu đang chiếm hữu tâm tôi; hỷ nộ, ái ố đang vận hành trong tôi; kể cả lòng tham, sự ái luyến cũng từng nối tiếp theo nhau tác động tiêu cực đến đời sống tôi. Nay nhờ hành trì mà tôi đã vượt thắng mọi đau thương phiền não. Tôi hoàn toàn tuệ tri như thật đối với chúng. Từ đó, thầy Tỳ kheo trong từng phút giây cảm nghiệm trạng thái Niết bàn (Diệt đế) và con đường thánh đạo (Đạo đế) hằng tương thông, tương hành, không hề gián đoạn.”


Thích Thiện Lợi




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/2019(Xem: 7980)
Narayan Helen Liebenson, Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche và Blanche Hartman chia xẻ lời khuyên của họ về việc làm sao để ứng phó với các giai đoạn trầm cảm.Narayan Helen Liebenson là nữ giáo sư hướng dẫn tại Trung Tâm Thiền Cambridge Insight Meditation Center. Geshe Tenzin Wangyal Rinpoche là người nắm giữ truyền thừa của truyền thống Bön Dzogchen tradition của Tây Tạng. Ông là tác giả của cuốn sách “Spontaneous Creativity: Meditations for Manifesting Your Positive Qualities” [Sự Sáng Tạo Tự Phát: Thiền Để Thể Hiện Phẩm Chất Tích Cực Của Bạn] (xuất bản năm 2018).Zenkei Blanche Hartman (1926-2016) là Pháp Sư Cao Cấp và là phụ nữ đầu tiên Trú Trì Trung Tâm Thiền San Francisco.
24/08/2019(Xem: 15713)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
21/08/2019(Xem: 7842)
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem độc tố này là gì. Xao lãng là xu hướng của tâm thức nhảy hết chuyện này sang chuyện khác. Đó là trường hợp của những người có một tâm thức tương tự như con cào cào hay con bướm, không sao có thể dừng lại với bất cứ một thứ gì, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Câu thơ nổi tiếng của T.S. Eliot (Thomas Stearns Eliot, 1888-1965, thi hào người Anh gốc Mỹ, đoạt giải Nobel văn chương năm 1948) : « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng » có thể nói lên điều đó. Câu thơ này nêu lên một cách ngắn gọn cuộc sống ngày nay trong xã hội : đó là một quá trình liên tục – hết ngày này đến tuần khác – của sự « xao lãng bởi sự xao lãng của sự xao lãng ». Liều thuốc hóa giải sự xao lãng trong hoàn cảnh đó – ít nhất là đối với lãnh vực tâm thần – là sự chú tâm vào hơi thở. Một sự tập trung thật mạnh hướng vào quá trình hô hấp của mình là một phương pháp rất hiệu nghiệm, có thể hóa giải được tất cả mọi hình thức xao lãng.
09/08/2019(Xem: 7471)
‘Khổ và sự diệt khổ’ là trọng tâm của lời đức Phật dạy, được diễn đạt qua Kinh Chuyển Pháp Luân.[2] ‘Idaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ’ pariññeyyan-ti ‘Chính sự thật về khổ’, cần được con người am hiểu, rõ biết tường tận.[3] Nhận định này có thể tư duythông qua bài kinh ‘Ví Dụ Tấm Vải’[4] như sau: Ví như tấm vải bị hoen ố, vấy bẩn và người thợ nhuộm đã cố gắng làm đẹptấm vải bằng cách nhúng nó vào thuốc nhuộm loại tốt này hay loại tốt khác, nhưng kết quả cho ra không được như ý. Bởi vì thực chất của tấm vải là dơ bẩn, không sạch, uế nhiễm.
06/08/2019(Xem: 5290)
Trong toán học, muốn giải một bài toán cơ bản luôn cần có một mẫu số chung, đó là con số quan trọng cần thiết để đưa đến kết quả chính xác cho bài toán. Ngoài ra vì tính khoa học, những con số còn giúp cho mọi việc được mạch lạc, rõ ràng thứ lớp hơn mà chính Đức Thế Tôn của chúng ta cách đây 2600 năm cũng đã sử dụng nó để nói đến trong toàn bộ những bài giảng của Ngài. Khi giảng nói về các loại tâm vô hình, trừu tượng khó nhớ Đức Phật đã dùng những con số cụ thể trong Vi diệu pháp (Duy thức học). Chính nhờ vậy việc tìm hiểu về các loại Tâm vương, Tâm sở đầy phức tạp đã được Ngài hướng dẫn, phân loại rõ ràng cho từng loại tâm khác nhau. Tuy nhiên đây chỉ là những học thuyết sâu rộng của triết lý Phật giáo dành cho lãnh vực nghiên cứu.
02/08/2019(Xem: 6024)
Vào sáng Chủ Nhật 14 tháng 7 2019, tại hội trường báo Người Việt (Westminster, Little Saigon) đã có một cuộc hội thảo với chủ đề tìm cách đem sự thực tập chánh niệm tỉnh thức đến với giới thanh thiếu niên gốc Việt tại Quận Cam.
02/08/2019(Xem: 5998)
"Lý tưởng nhất là các lớp học không có cảm giác sợ hãi và căng thẳng làm việc dạy và học trở nên nặng nề. Lý tưởng nhất là giáo viên tạo dựng được nề nếp học trong không khí êm ả và chú tâm của lớp học. Tuy nhiên, không khí trong các lớp học công lập của Hoa Kỳ thường xuyên không được như vậy,…" Đó là lời phát biểu của Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ khi anh thuyết trình về lợi ích của việc thực tập hơi thở trong tỉnh thức ở học đường. Phương pháp này giúp con người trị được nhiều căn bệnh về tâm lý và đối đầu được những cảm giác hồi hộp, căng thẳng, sợ sệt, bất an, trầm cảm, thường xảy ra cho các học sinh và cả trong giới giáo chức.
20/07/2019(Xem: 8755)
Các bộ kinh Nikāya ghi nhận tầm quan trọng của thiềnna (jhana) trong cấu trúc của con đường hành trì trong Phật giáo. Trong bài kinh Sa-môn quả (Sāmaññaphala Sutta, DN 2), Tiểu kinh Dụ Dấu Chân Voi (Cūḷahatthipadopama Sutta, MN 27) và nhiều bài kinh khác về sự tu tập tiệm tiến (anupubbasikkhā) của một tu sĩ Phật giáo, Đức Phật luôn đề cập đến thiền-na để minh họa cho việc tu tập tâm định. Khi vị tỳ-khưu hoàn tất tu tập về căn bản giới đức, vị ấy tìm nơi thanh vắng, sống độc cư và thanh lọc tâm, loại trừ “năm triền cái”. Khi tâm vị ấy được thanh lọc, vị ấy nhập và an trú vào bốn tầng thiềnna, được mô tả rất nhiều trong kinh tạng Nikāya qua một công thức kiểu mẫu:
03/07/2019(Xem: 5460)
Bài này sẽ viết về Thiền, phần lớn sẽ ghi về một số lời dạy của Đức Phật trong thiền pháp Thiền Tông, còn gọi là Thiền Đông Độ, hay Thiền Đạt Ma, hay Thiền Tổ Sư, và riêng tại Việt Nam còn gọi là Thiền Trúc Lâm. Chủ yếu nơi đây dựa vào kinh điển, và người viết không phải là tiếng nói thẩm quyền nào. Tất cả những gì viết nơi đây đều rất dễ hiểu; độc giả có thể ngưng ở bất kỳ dòng nào để thử nghiệm tự nhìn lại tâm. Với các bất toàn tất nhiên sẽ có, xin thành kính sám hối trước Tam Bảo.
01/07/2019(Xem: 5567)
Tâm là chủ thể tiếp nhận các đối tượng từ bên ngoài lẫn bên trong. Khi đang ngủ say, thì tâm được cho là trống rỗng, hay nói cách khác, đó là trạng thái vô thức ( bhavaïga, tiềm thức, tâm hộ kiếp). Chúng ta luôn kinh qua một trạng thái tiêu cực như vậy khi tâm mình phản ứng lại các đối tượng bên ngoài. Dòng chảy vô thức (bhavaïga) này bị gián đoạn khi các đối tượng thâm nhập vào tâm. Kế đó, tâm vô thức (bhavaṅga) rung động trong một chóc lát ý tưởng và biến mất.