Sức mạnh của Định

15/01/202606:21(Xem: 724)
Sức mạnh của Định


phat thanh dao

Sức
 mạnh của Định


Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Khi Tỷ-kheo có định sẽ như thật rõ biết (pajànati):

-“Đây là Khổ (bản chất bất an), đây là Khổ tập (nguyên nhân dẫn đến bất an) các ngươi đều như thật rõ biết!.

-"Đây là Khổ diệt (cảnh giới Niết Bàn) và đây là con đường đưa đến Khổ diệt (tám Chánh Đạo). Các ngươi hãy như thật rõ biết!.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Phát lên một cố gắng cần làm để rõ biết:

-"Đây là Khổ","Đây là Khổ tập". Cố gắng cần làm để rõ biết.

-"Đây là Khổ diệt","Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt". Cố gắng cần làm để rõ biết.

(Trích Tương Ưng bộ, chương 7, S.v 414)

Quả vậy, đoạn kinh có hai điều mà đức Phật muốn nhấn mạnh do nhờ tu tập Định.

1) Như thật rõ biết

2) Phát lên một cố gắng để rõ biết

Như thật rõ biết là cách gọi khác của Tuệ Tri. Vậy, Tuệ tri điều gì? và như thật rõ biết như thế nào? Đó là về “Khổ”, về “Nguyên nhân” dẫn đến khổ. Cũng như, tuệ tri về “Niết bàn” và “Con đường dẫn đến Niết bàn”.

Về sự Khổ:

(Trạng thái bất an)

Khổ chính là những hiện tượng, tướng trạng còn bị tác động bởi sinh và diệt. Như thân này là một pháp sinh diệt vô thường. Từ đầu đến chân, trong ra ngoài, lục phủ ngũ tạng, thịt máu gân xương….tất cả đều vận hành trong sinh diệt. Một phút trôi qua có biết bao tế bào sống chết thay nhau và hướng thân này đến già nua, bệnh tật và chết chốc. Đây là chân lý không thể chối cải.

Dù ta cố gắng o bế thân này, tô đấp cho nó bằng những dưỡng chất tốt đẹp thì nó cũng già và chết. Một đóa hoa xinh đẹp mỹ miều, cũng chỉ vài tuần là héo; những động vật quý cưng, tuổi thọ của chúng là vài chục năm. Đời người cũng vậy, 100 năm chưa gọi là dài. Nhẫn đến núi non, ao hồ, sông ngàn, mây nước nào khác gì nhau. Mọi thứ đều chung một điểm, đó chính là sinh diệt mong manh.

Về tâm hành cũng thế. Những nghĩ suy của chúng ta, dòng tâm tưởng, cảm xúc, suy tư phân biệt của chúng ta; chí đến những buồn vui giận ghét, đau khổ, mừng lo vv... đều là mọi hiện tượng, trạng tướng của tâm hành, cũng đến đi chớp nhoáng, không hề trường cữu.

Một Tỷ kheo có Định, tức đạt được trạng thái vô niệm. Tâm không hề xao lãng, dao động. Ngồi xuống là yên, cột niệm tại chỗ, vững như núi lớn, tâm lặng như mặt hồ hoàn toàn tĩnh yên.

Hoặc khi Tỷ kheo ấy co tay, duỗi chân, nghiêng người hay hướng tới thì lòng vẫn an, tâm vẫn lặng. Dù con người ấy đi vào công việc, lao tác thường ngày thì Định của vị ấy vẫn vững mạnh và an trụ. Từ đó, nó chính là nền tảng cho nguồn Tuệ bừng khai.

Tuệ bừng khai, Tuệ sáng chói sẽ thấy rõ mọi thứ hoàn toàn như chúng đang là. Đây là Khổ, rõ biết là khổ, là bấp bênh, là bất toại ý, thảy đều như thật Tuệ Tri.

Ồ, đây là hạt đậu đen trong bàn tay, biết rõ như vậy. Đây là đậu đỏ, đậu trắng đều nằm trong bàn tay, biết rõ như thật. Và càng biết rõ hơn về sự có mặt của chúng vốn mong manh, sinh diệt và biến mất. Vị Tỷ kheo khi đó, tâm vẫn bình yên, hằng sáng đối với bất kỳ tình huống nào xảy ra.

Về Khổ Tập:

(Nguyên nhân dẫn đến bất an)

Do nhờ Định lực, sức mạnh của tĩnh lặng nội tại, vị Tỳ kheo tiếp tục duy trì sự quán chiếu sâu sắc đối với vận hành của các pháp. Dù là phần dao động của tâm (tâm pháp) hay tướng trạng của các pháp (sắc pháp), chúng di chuyển ra sao, vận hành thế nào thì thầy Tỳ kheo vẫn an trụ trong trí quán thuần sáng.

Thầy tỳ kheo thấy như thật rằng, chính do bám víu và tham đắm vào các sắc pháp, như trần cảnh bên ngoài, sắc tướng bên trong, tấm thân thịt máu, lớn hay nhỏ, liệt hay thắng, xa hay gần đi nữa, vị ấy vẫn thấy rõ như nhìn lòng bàn tay: “Ồ, do tham ái mà có khổ, do bám víu mới đầy ắp đau thương.” Thật vậy, ai cho thân này là trường tồn bất hoại, là chỗ dựa của tự ngã linh hồn, thì họ đã rơi vào tà kiến về thân, lạc vào khổ xứ.”

Định lực ấy, sức mạnh của tĩnh tâm, luôn là nền tảng duy nhất cho Tuệ giác giải thoát. Bởi hàng ngàn cái thấy, cái biết của thế gian vẫn bị đóng khung trong bản ngã tự tôn vậy. Từ lâu, áng mây vô minh dầy đặc đã che lấp “tánh giác” trong sáng trong ta, nên sự sự dù bày ra trước mắt nhưng chúng ta không bao giờ thấu triệt được bản chất hiện hữu trong kiếp sống mong manh.

Biết giả tạm mà vẫn mong, rõ hư huyễn mà vẫn bám, người ta cứ mãi ném mình vào thế giới khổ đau, thà chấp nhận một cách mù quáng miễn đạt được danh, được lợi, thì dù có bị cột trói, kiềm hãm đến đâu cũng sẳn lòng nếm cho bằng được những giọt mật trên đầu một lưỡi dao sắc bén.

Vị tỳ kheo đã hành đúng pháp, trì đúng cách và tự nói lên rằng: “Tham ái là gốc khổ, là tập đế dẫn đến khổ đế, biết rõ như vậy, tuệ tri như vậy. Ái là cội nguồn của sinh diệt, là động lực đưa đến luân hồi bất tận, vị Tỳ kheo tuệ tri như thật, rõ biết như vậy, không dính mắc hay can thiệp bất kỳ điều gì.”

Về Khổ Diệt:

 

(Niết bàn)
Chính
 là người đã dứt trừ hoàn toàn khổ đau và đạt được thánh quả giải thoát. Dù còn mang thân này, nhưng tâm của họ đã tự tại, không còn vướng mắc thế gian. 
Họ nhìn vào cuộc sống bằng tuệ giác siêu việt, không bị đóng khung bởi ngã chấp hoặc sự bám víu đối với cuộc đời. 
Cái gọi là danh, là lợi, là những thứ mà thế gian tôn thờ, muôn người chạy theo từ tiền tài, địa vị, tận hưởng vinh hoa vv… nhưng, người thánh trí tuyệt đối không còn si mê hay tham ái nữa. 
Họ chính thức ra khỏi bóng đêm và tháo gỡ hoàn toàn tất cả những cột trói. Vì cuộc sống này, vạn sự đều là vô thường, sinh diệt, đắp đổi mong manh. Nói đúng hơn, các pháp vốn trống rỗng, hư vô; không hề có một thể tính cố định, trường tồn. 
Vị tỷ kheo đã chứng được sự diệt khổ, còn gọi là Niết bàn quả vị, trí tuệ viên thông, năng lực giác tuệ hoàn toàn hùng hậu. Họ đã cắt lìa mạng lưới chằng chịt của vô minh, phá tan thành trì bản ngã, mọi khổ đau từ nay đã dứt hẳn. 
Họ đi ngang cuộc đời bằng nụ cười tự tại, xem sống chết nhẹ như bông tơ, tuyệt không còn sợ hãi và vượt lên tất cả sầu ưu, điên đảo của thế gian vậy.

Về Khổ Diệt Đạo:

(Con đường Bát Chánh).”

Sức mạnh của Định đã kiên trì thì sự quán chiếu sẽ sáng hơn trên từng đề mục. Hành giả đã nhận thức được rằng, mọi sự vận hành đều nội hàm tính biến hoại và sinh diệt. Như một đoá hoa lớn lên, là một chuỗi vận hành tương tục sinh hoại, gọi là Khổ Đế. Thân trạng con người cũng vậy, liên tục sinh, liên tục hoại để tạm hình thành và tan biến theo thời gian, đó cũng là sự khổ.
Sự thật này được đức Phật nghiệm chứng bằng con đường thiền định rất thực tiễn. Ngài thấy rõ chúng là hữu vi pháp thuộc về tâm tướng và chỉ là những vận hành giả danh, không thật. Cái này tiếp nối cái kia để có mặt, để hoại tan một cách tạm bợ. Con đường ấy, khổ đạo thánh đế, đã được ngài chỉ dẫn thật rõ ràng trên từng pháp hành cụ thể.
Thầy tỳ kheo cũng học như vậy, nương theo dấu bước của Ngài bằng chí nguyện vững chắc để phát tấn hành trì không lung lay. Vị ấy đã tỏ thông con đường thánh đạo tám chi, từ chánh kiến, chánh tư duy đến chánh niệm, chánh định một cách minh tường và tỷ mỷ. Giống như người lực sĩ co duỗi cánh tay thật mạnh khoẻ và dễ dàng để nâng một vật khỏi vị trí mà anh muốn. 
Vị hành giả đêm ngày hằng quán như sau:
“Nhờ vào Chánh Kiến mà sự thật về Khổ đã được Tuệ Tri. Nhờ vào Chánh kiến mà sự thật về nguyên nhân tạo ra Khổ, đã được Tuệ Tri….” Và nhờ Tuệ tri như thật trong các pháp, không bám víu, không chạy theo, không ném đời mình vào những thăng trầm được mất. 
Ồ, sầu ưu đang chiếm hữu tâm tôi; hỷ nộ, ái ố đang vận hành trong tôi; kể cả lòng tham, sự ái luyến cũng từng nối tiếp theo nhau tác động tiêu cực đến đời sống tôi. Nay nhờ hành trì mà tôi đã vượt thắng mọi đau thương phiền não. Tôi hoàn toàn tuệ tri như thật đối với chúng. Từ đó, thầy Tỳ kheo trong từng phút giây cảm nghiệm trạng thái Niết bàn (Diệt đế) và con đường thánh đạo (Đạo đế) hằng tương thông, tương hành, không hề gián đoạn.”


Thích Thiện Lợi




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/12/2013(Xem: 37754)
Nói về kiếp người Đức Lão Tử đã thốt lên rằng: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân, Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?” Dịch : “ Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân, Nếu ta không thân thì đâu có khổ gì ?”
06/12/2013(Xem: 17809)
Trong lịch sử Thiền Tông Việt Nam, vị thiền sư ni đầu tiên, người trưởng lão ni tuyệt vời, còn lưu lại bài kệ thị tịch, những lời nói sau cùng, những lời nhắn bảo cuối cùng, những lời nói thật, gây chấn động mãnh liệt nơi nội tâm, thức tỉnh chúng ta trên dòng sinh tử, để lại dấu ấn đậm sâu, thắm đượm mãi trong lòng người đến tận hôm nay và mai sau. Ni Sư Diệu Nhân, và cũng là vị nữ sĩ ban đầu trong nền Văn Học Việt Nam
16/11/2013(Xem: 36608)
Tên tục của tôi là Trai. Dòng họ xuất thân từ Lan Lăng là hậu duệ của vua Lương Võ Đế. Gia tộc cư ngụ tại tỉnh Hồ Nam, huyện Tương Lương. Cha tên Ngọc Đường, mẹ tên Nhan Thị. Năm đầu đời nhà Thanh, cha làm quan tại tỉnh Phú Kiến. Năm mậu tuất và kỷ hợi làm quan tại châu Vĩnh Xuân. Cha mẹ đã ngoài bốn mươi mà chưa có mụn con. Mẹ ra ngoài thành nơi chùa Quán Âm mà cầu tự. Bà thấy nóc chùa bị tàn phá hư hoại, lại thấy cầu Đông Quan nơi thành không ai sửa chữa nên phát nguyện trùng hưng kiến lập lại. Đêm nọ, cả cha lẫn mẹ đều nằm mơ thấy một vị mặc áo xanh, tóc dài, trên đỉnh đầu có tượng Bồ Tát Quán Thế Ấm, cưỡi hổ mà đến, nhảy lên trên giường. Mẹ kinh sợ, giật mình thức dậy, liền thọ thai. Cuối năm đó cha đi nhậm chức tại phủ Nguyên Châu.
05/11/2013(Xem: 14099)
Một hôm, nhạc sĩ Dương Thụ mời tôi đến Cà phê thứ 7 của anh trò truyện một bữa cho vui. Được thôi. Tôi vẫn thỉnh thoảng đến chỗ anh để uống cà phê và nghe chuyện trò mà. Đề tài gì? Thiền và sức khỏe. Vấn đề đang rất được giói trí thức quan tâm. Căn phòng nhỏ xíu, nhưng trang nhã, ấm cúng. Một, chỗ chơi nhạc thính phòng, họp mặt bạn bè, kiểu salon thế kỷ 18 – chỉ thiếu một nữ bá tước – để chuyện trò thân mật, cách biệt với ồn ào nhộn nhịp ngoài kia.
31/10/2013(Xem: 21671)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
24/10/2013(Xem: 22026)
Thiền định là một phương tiện chủ yếu vô song của Phật Giáo giúp người tu tập trực tiếp đạt được Giác Ngộ. Đức Phật đã nhắc đến phép luyện tập này ngay trong bài thuyết giảng đầu tiên về Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế) khi Ngài nói về Sự Thật Cao Quý thứ tư và Con Đường Của Tám Điều Đúng Đắn (Bát Chánh Đạo). Tuy nhiên không phải vì thế mà tất cả những người tự nhận mình là Phật tử đều luyện tập thiền định.
15/10/2013(Xem: 18370)
Thông báo Khóa Thiền Vipassana 10 ngày ở Sydney, Úc Châu
14/10/2013(Xem: 11449)
Bài viết này là của Paturel Amy, chuyên viết về các đề tài sức khỏe, cân bằng trọng lượng cơ thể, thức ăn, rượu, và du lịch cho nhiều thành phần độc giả. Tác phẩm của cô thường xuất hiện trên những tạp chí gồm Glamour, Health, Eating Well, Wine Enthusiast and Marie Claire cũng như các tạp chí Lupus Now, Neurology Now, Arthritis Today and Momentum.
04/10/2013(Xem: 11696)
Tôi là một người tha hương đang sống nhờ ở đậu trên xứ người. Tôi có thể nói được tiếng nước người, thích ứng được vào cuộc sống nước người, và đi lại bình thường như một người bình thường trên đất nước người. Nhưng trong tận cùng sâu thẳm, vẫn có một cái gì đó không bình thường, một thứ tiếng gì đó không vỡ nghĩa, một nỗi đau nào đó không rõ tên, như những đợt sóng ngầm, bất kỳ lúc nào, có thể bất thần dâng lên như mưa lũ gió cuồng, xô tôi vào thế giới của hụt hẫng và mộng mị.