Sơ Thiền, Giải Thoát

12/12/202107:51(Xem: 6121)
Sơ Thiền, Giải Thoát


duc phat thanh dao
SƠ THIỀN, GIẢI THOÁT



Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận—chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy.

(Trung Bộ Kinh. 8 Đoạn Giảm, Hòa Thượng Thích Minh Châu)




Thế Tôn là bậc tuệ tri mọi pháp, bậc y vương, thầy của trời người trong tam giới. Vì thế, Đấng Thiện Thệ trong 45 năm thuyết pháp đã để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo, là những diệu dược tùy theo bệnh (tham sân si) của chúng sanh mà kê toa thích ứng nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, niết bàn. Riêng trong tạng Pali, ngoài tứ niệm xứ, minh sát tuệ, Thế Tôn từ mẫn với trí tuệ toàn giác (tuệ tri mọi pháp) đã 'có nhiều phác đồ điều trị khác nhau trên nền tảng của đạo đế: Bát Chánh Đạo' diệu dụng mà theo đó tùy theo căn cơ (tùy pháp, hành pháp), sẽ đến bờ giải thoát, hoặc bậc hữu học vv.

Thế Tôn đã nhìn thấu sự việc ba thời: quá hiện vị lai nên biết trước tương lai trong thời mạt pháp, giáo pháp của Ngài sẽ có những kiến giải sai lệch (theo cái thấy hạn hẹp, chấp trước) nên trước thời khắc nhập vô dư niết bàn, Như Lai từ mẫn ân cần để lại di giáo tối thượng, "Pháp và Luật của ta là thầy của các con, đừng nương tựa vào bất kể điều gì khác" (Trường Bộ Kinh Nikàya, Đại Bát Niết Bàn).

Hơn nữa chân ngôn của Như Lai để lại trong "Khởi Thế Nhân Bổn" (Trường Bộ Kinh Nikàya) như Tiếng Hống của Sư Tử làm cho đại địa rúng động, khiến mười ngàn thế giới chấn động: "Đệ tử của Như Lai sinh ra từ miệng Như Lai, do pháp sinh ra, do pháp tạo ra, là con cháu thừa tự pháp. Những đệ tử nào sinh ra từ miệng của Như Lai, do pháp sinh ra, do pháp tạo ra sẽ không bị phá hoại bởi Sa-môn (Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ni), Bà-la-môn, Ma vương, Phạm Thiện, chư thiên, và bất kể ai trên đời".

Giáo pháp của Ngài (chỉ riêng tạng Pali) giúp chúng sanh sống được an lạc, tương lai được an lạc, đặc biệt giúp chúng sanh được giải thoát, niết bàn. Vì thế, đối với tám loại thiền: Hiện tại lạc trú: sơ thiền đến tứ thiền; và Tịch Tịnh Trú: Không vô biên xứ đến phi phi tưởng xứ trong giáo Pháp của Ngài, là phương tiện để giúp hành giả tăng thượng tâm, đặc biệt với tứ vô ngại giải đạo, khi các hành giả thành tựu một trong 8 loại thiền này, ngài 'gia thêm' vào phác đồ điều trị bằng loại thuốc bất tử 'quán vô thường, khổ và vô ngã' của những pháp hữu vi này để rồi ly tham, đoạn diệt, giải thoát, niết bàn. Quý đạo hữu có thể thấu rõ điều này trong kinh “Đoạn Giảm” số 8 Trung Bộ Kinh với đoạn trích dẫn về cách xả ly những sở kiến để được giải thoát hoàn toàn như sau:

Này Cunda, những loại sở kiến này khởi lên trên đời, hoặc liên hệ đến ngã luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận—chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, có vậy thời có sự đoạn trừ những sở kiến ấy, có sự xả ly những sở kiến ấy.

(Trung Bộ Kinh. 8 Đoạn Giảm, Hòa Thượng Thích Minh Châu)

Tuy nhiên, trong thời mạt pháp, việc tập trung phát triển các loại thiền này có thể nói là rất khó vì căn cơ chúng sanh rất hạ liệt, và nếu thành tựu rất mất nhiều thời gian và công phu. Trong 8 tầng thiền trên, có thể nói, sơ thiền là dễ dàng nhất, vì chỉ cần hướng tâm đến một đối tượng tịnh tướng (Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng, Niệm Giới, Niệm Thí (bố thí), Niệm Thiên như Tăng Chi Bộ Kinh, Chương 6 Sáu Pháp vv), khi hành giả chánh niệm, tỉnh giác và tinh cần, có thể vào được sơ thiền. Chỉ sơ thiền là đủ, vì khi thành tựu, hành giả quán tánh ly tham, đoạn diệt, thì sẽ đoạn tận mọi kiết sử, thành tựu chánh trí giải thoát.

(Sơ Thiền, Ly Dục, Ly Bất Thiện Pháp, Đúng Sai Tự Minh Định, Tâm Tịnh).

 

Tương tự như vậy, những hành giả nào có hạt giống từ bi phát triển mạnh, nên trưởng dưỡng cho đến thành tựu và từ đây quán tánh ly tham, đoạn diệt tâm hỷ lạc do thành tựu từ tâm giải thoát, hoặc bi tâm giải thoát, thì gánh nặng sẽ được đặt xuống, cứu cánh giải thoát...

(Trung Bộ Kinh, 52 Bát Thành, Hòa Thượng Thích Minh Châu)


Nguyện đem công đức này

Hướng về chúng sanh khắp pháp giới

Đồng sanh Tây Phương Tịnh Độ

Tâm Tịnh


                              

               

                   

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2013(Xem: 6993)
Thiền duyệt có nghĩa là sự an vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải có một sự cố gắng vất vả ghê gớm lắm. Tôi còn nhớ trong khóa tu thiền đầu tiên, tâm tôi cứ suy nghĩ lung tung và chu du đi khắp mọi nơi. Ðến một lúc bực mình quá, tôi tự nhủ là nếu nó xảy ra lần nữa thì tôi sẽ đập đầu vào tường cho biết!
22/04/2013(Xem: 9702)
Trong một vài thập niên vừa qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều tiến bộ lớn lao trong việc tìm hiểu một cách khoa học về não bộ và cơ thể con người nói chung. Hơn nữa, với sự xuất hiện của ngành di truyền học hiện đại, kiến thức của khoa thần kinh học về hoạt động của những cơ cấu sinh học giờ đây đã đạt đến mức độ vi tế nhất của các di truyền tử riêng biệt.
22/04/2013(Xem: 6280)
Stress : có nghĩa là sự dồn nén, cưỡng ép trên cả hai mặt sinh lý và tâm lý, một trạng thái căng thẳng thần kinh, gây ra lo âu, sợ sệt và sau cùng là sự suy nhược cơ thể. Một nhân vật nêu lên trong bài viết này cho biết chữ stress không có trong ngôn ngữ Tây tạng, người dịch cũng nghĩ rằng không có trong ngôn ngữ Việt Nam.
22/04/2013(Xem: 6136)
Theo kinh Dhammapada (Pháp Cú) và lời chú giải, sự hiện hữu cuối cùng của con người là đạt đến tầng cuối cùng ( A-la-hán hay Thanh Văn), với một đối tượng giản dị làm đề tài cho thiền định, để nhận biết sự vật như nó là. Họ có thể hiểu về ba đặc điểm của tất cả mọi vật hiện hữu, tính chất vô thường, đau khổ, và vô ngã.
22/04/2013(Xem: 10721)
Bài này chỉ bàn thuần túy về chuyện Thiền ứng dụng trong xã hội hiện đại, và một số rắc rối liên hệ đang xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ, kể cả cuộc tranh luận giữa các chuyên gia giaó dục về... những bất trắc mà chúng ta sẽ phân tích nơi đây. Ðừng vội nghĩ rằng đây là chuyện của các chuyên gia hay của người quan tâm về Thiền, bởi vì những người con của bạn có thể cũng đang đọc, đang tìm hiểu và đang dò tìm thực tập. Rủi mà tập nhầm các pháp môn giáo phái đầy bất trắc, thì vừa có hại cho sức khỏe, mà lại mang tiếng oan cho các pháp môn Thiền của nhà Phật.
22/04/2013(Xem: 7983)
Xưa nay ai cũng biết Thiền là tìm về cõi tĩnh và lặng để cho tâm được an tịnh. Thãt ra Tĩnh là lúc nào cũng biết rõ ràng, còn lặng là yên lặng; tức là trong trạng thái như là thân tâm bất động, dừng mọi hoạt động của thân tâm. Làm thế nào để thân và tâm bất động? Phải biết điều thân là làm cho thân yên ổn không di động, cách ngồi cho chắc nịch như kiết gíà, bán già, hay sao cho việc ngồi thiền lâu.
22/04/2013(Xem: 9391)
Bài nầy sẽ trình bày tại sao con người không uống “thuốc tiên” không dùng các thức ăn trường sanh bất tử, nếu có, mà chỉ ngồi yên tĩnh mắt nhắm lim nhim ngày hai lần tổng cọng vài chục phút, mà có thể trị được bệnh và có được các lợi ích thiết thực khác?
22/04/2013(Xem: 11155)
Con người ai cũng muốn khỏe mạnh không bệnh hoặc ít bệnh, nhưng không ai tránh khỏi hiểm họa nầy. Bác sĩ, Y tá được đào luyện, bệnh viện được xây cất, y dược được chế biến cũng nhằm phục vụ sức khoẻ con người. Nhưng bệnh viện không phải là nơi miễn phí mà bệnh nhân luôn luôn được tự do đến đó, và thuốc cũng không phải là thần dược trị được bá bệnh và an toàn không bị phản ứng phụ (side effect).
22/04/2013(Xem: 9588)
Khoa học nhìn về thiền Phật Giáo như thế nào? Dưới đây là một cuộc nghiên cứu khoa học tại Đạị Học New York University, do phóng viên Matt Danzico tường thuật, đăng trên BBC News ngày 24-4-2011. Bản dịch Việt ngữ toàn văn như sau. Não bộ của các vị sư Phật Giáo được chụp lại bởi máy scan (máy quét) trong cuộc nghiên cứu về thiền.
22/04/2013(Xem: 9884)
Phật giáo Việt Nam, từ khi Tổ Tỳ Ni Na Lưu Chi sang truyền Đạo Phật (580-2011) tại VN, nay đã nghót nghét 1429 năm, gần 15 thế kỷ. Đạo phật là Đạo Phổ Độ chúng sanh, cứu nhân độ thế cho nên các triều đại huy hoàng Việt Nam, Đinh, Lê, L‎ý, Trần, Hậu Lê ,Tây Sơn: Mổi chùa đều có một bệnh xá Đông Y, Thuốc nam, châm cứu để giúp đỡ cho nhân dân gặp khi trở trời, gió nghịch, nhất là dân bệnh nhân nghèo.