Tử quán và Bạch cốt quán

06/07/201815:51(Xem: 7653)
Tử quán và Bạch cốt quán

quan niem ve cai chet
Tử quán và Bạch cốt quán

 

"Bạch cốt": xương trắng

"Quán": dùng tâm mà xem xét

 

Trong Phật giáo, một trong những phép quán mà chư tăng ni thường hành là phép Tử Quán (quán về sự chết) nhằm diệt trừ dâm dục. Sáng và chiều, họ phải thường tự răn nhắc mình về sự bấp bênh của mạng sống, cái chết có thể đến đối với họ bất cứ lúc nào. Lại phải nghĩ tới tình trạng ô nhiễm của bản tâm còn chưa được giải quyết có thể dẫn tới sự tái sanh bất hạnh nếu tử thần đến bất chợt. Như vậy, họ phải dùng tất cả sự quyết định, năng lực, cố gắng, nhẫn nại, không lay chuyển, sự chú tâm với tâm thức trong sáng của mình để diêt trừ các tình trạng xấu ác của bản tâm - chớ không thể chần chờ hay lơ đãng.

 

Đức Phật Thích-ca từng dạy rằng Dâm là cội rễ của Sanh Tử và Dâm dục là kẻ thù nguy hiểm nhất của người tu. "Rất may chỉ có một thứ như Dâm dục, nếu có đôi ba thứ nguy hiểm như nó thì trên thế gian nầy không có một người tu hành nào có thể đắc quả thánh". Do đó Ngài dạy chúng ta pháp môn Bạch cốt quán, là phương tiện mạnh mẽ nhất để diệt trừ lòng dâm.

 

Bạch cốt quán" nghĩa là 'Quán xương trắng', một phép quán trong Lục chủng Tam-muội (sáu phép tu Định) thuộc về Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo.

 

Hành giả quán một tử thi từ lúc mới chết đến lúc thành xương tàn cốt rụi, trải qua 9 giai đoạn sau đây:

 

1) Quán thấy thân xác của người chết từ một ngày đến bốn ngày, bị vất bỏ ở bãi tha ma, tím bầm rồi sình chương, chảy nước vàng hôi thúi.

 

2) Quán thấy thân ấy bị diều quạ, kên kên, chó nhà, chó rừng cắn xé - hoặc bị ruồi lằn bu đầy, giòi bò lúc nhúc ở mũi miệng - ai đi ngang qua cũng phải bịt mũi và quay mặt không dám nhìn vì quá kinh tởm.

 

3) Quán thấy cái thân ấy chỉ còn vài mảng thịt túa máu bao lấy bộ xương có gân chịu lại.  

 

4) Quán thấy cái thân chỉ còn là một bộ xương không có thịt, rướm máu và có gân chịu lại.   

 

5) Quán thấy bộ xương còn vài mảng da bọc, hết thịt hết máu và có gân chịu lại.

 

6) Quán thấy bộ xương đã rã rời: đây là xương bàn tay, bàn chân, bả vai - đó là xương đùi bàn tọa - đàng kia là xương sọ, các đốt cột sống, vv...

 

7) Quán thấy bộ xương lâu năm đã tàn rụi, chỉ còn lại những mảnh vụn khô khan trắng hếu như vỏ sò ốc lâu ngày.

 

8) Quán thấy nhiều bộ xương và đầu lâu, chất đống từ năm nầy qua năm kia.

 

9) Quán thấy mớ xương cốt tan thành tro bụi vì đã quá lâu.

 

Trong khi quán tưởng, hành giả xét rằng thân mình và của mọi người, mọi chúng sanh khác - thảy đều chung số phận như thế. Nhờ đó, lòng tham dục nguội dần. Thời đức Phật có nhiều vua chúa, trưởng giả, phú hào nhờ phép quán nầy mà thấy giai nhân mỹ nữ như những thây ma hôi thúi, những bộ xương khô đáng ghê sợ - nhờ đó mà có thể dứt bỏ để xuất gia tu đạo.

 

Tuy nhiên phép quán nầy cũng như các phép quán bất tịnh khác, đều có nguy hiểm: nếu hành quá mức có thể đưa tới chán đời và tự sát - như đã xảy ra cho vài ông tăng thời đức Phật. Sau khi thành công, thì phải quán Không (không dơ không sạch) hay Trung đạo (không ưa không chán) để quân bình tâm thức trở lại.

 

(Thích Phước Thiệt – Nhu liệu Phật học Từ điển Anh-Việt – 6/7/2018

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 9865)
Từ khi Tổ Bồ-đề-đạt-ma qua Trung quốc truyền tâm ấn đạo lý giác ngộ theo truyền thuyết thì sơ Tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền cho vị đệ tử kế thừa là ngài Thần Quang Huệ Khả bộ kinh Lăng-già tâm ấn. Nhưng phải chờ đến hơn ba trăm năm sau và qua sáu vị Tổ thì đạo giác ngộ mới nở hoa kết trái. Tuy nhiên hạt giống của Tổ Bồ-đề-đạt-ma gieo trên đất Trung Hoa là kinh Lăng-già nhưng nở hoa kết trái lại là kinh Kim cang. Tại sao lại có sừ sai biệt như vậy, dù rằng cả hai bộ kinh đều do Như Lai Thế Tôn thuyết giảng.
08/04/2013(Xem: 10421)
Khi còn trong bụng mẹ, chờ đợi được sinh ra con người đã phải quờ quạng tự muốn giải thoát khỏi tù túng tối tăm này. Và rồi khi chào đời, con người lại tiếp tục quờ quạng muốn giải thoát những trói buộc phiền lụy cuộc đời. Như thế đó, cả hai hoàn cảnh trước khi được sanh ra, sau khi có mặt, con người đều nằm trong vòng cương tỏa mất tự tại an lạc.
08/04/2013(Xem: 11114)
Dưới đây là ba bài pháp ngắn do Ngài Thiền sư Mahasi Sayadaw giảng cho các cư sĩ Phật tử tại vương quốc Nepal trong dịp Ngài sang dự lễ đặt viên đá đầu tiên tại công trường Lâm Tì Ni vào tháng 11 năm 1980.
08/04/2013(Xem: 14680)
Lời Dẫn Nhập: Đây là bản dịch mới của bài Kinh Ānāpānasatisuttam thuộc Tạng Kinh, Trung Bộ, tập III, bài 118. Căn cứ theo văn tự, bản dịch này trình bày một số điểm xét ra có phần khác biệt so với các bản dịch trước đây. Những điểm này chủ yếu được trình bày ở phần cước chú.
08/04/2013(Xem: 5754)
Theo tinh thần thuyết Nghiệp trong đạo Phật, thì chính con người chứ không phải thần linh hay Thượng đế, sáng tạo và an bài cuộc đời của mình, bằng ý nghĩ, lời nói và hành động của chính mình....
05/04/2013(Xem: 10221)
Các vị giới tử, hôm nay quý vị đến đây để lãnh đạo giáo pháp của Phật. Đó là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng. Nhờ sự thọ giới mà chúng ta trở thành một Phật tử chân chính, lợi mình, lợi người, lợi tất cả chúng sinh, và làm cho Phật giáo miên trường giữa thế gian.
28/03/2013(Xem: 2290)
A Di Đà tất cả pháp - Tất cả pháp A Di Đà - Chẳng quản trời cao đất thấp - Búng tay, cõi nước bày ra Tặng Trần Nhân Tông hoàng đế - Thuở nhỏ đâu từng biết chúa Xuân - Cứ theo xác pháo chạy tung tăng - Chúa Xuân nay đã về ngự trị - Pháo cuối làng xa nổ đì đùng
21/01/2013(Xem: 14115)
Theo nguyên tắc chung, tôi nghĩ rằng tôn giáo của cha mẹ mình là tôn giáo thích nghi nhất cho mỗi người. Vả lại thật cũng không tốt nếu chạy theo một tín ngưỡng nào đó rồi sau này lại từ bỏ. Ngày nay, nhiều người rất quan tâm đến đời sống tinh thần mà đặc biệt nhất là Phật giáo, nhưng thường thì họ không suy xét cẩn thận để ý thức mình đang dấn thân vào một lãnh vực tinh thần có những đặc tính như thế nào.
20/01/2013(Xem: 9656)
An-ban thiền được thành lập trên nền tảng là kinh An-ban Thủ Ý và kinh Ấm Trì Nhập. Ngài An Thế Cao dịch có kinh An-ban Thủ Ý, Ấm Trì Nhập chuyên nói về thiền định; thành phương pháp tu tập thiền định đầu tiên của thời Hán, Ngụy và Tấn. Kinh này nói về tu thiền sổ tức, ngoài ra cũng bao gồm các pháp thiền khác, nhưng quan trọng nhất là điều hòa hơi thở.
18/01/2013(Xem: 17926)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan niệm về tính Không – một nội dung quan trọng của kinh Kim Cương. Tính Không (Sùnyatà) là một khái niệm khá trừu tượng: vừa thừa nhận có sự hiện hữu, sự “phồng lên” (ở hình thức bên ngoài) của một thực thể, vừa chỉ ra tính trống rỗng (ở bên trong) của thực thể. Vì vậy, tính Không không phải là khái niệm chỉ tình trạng rỗng, không có gì, mà có nghĩa mọi hiện hữu đều không có “tự ngã”, không có một thực thể cố định.