Lược khảo "xưng tôn"

02/05/201213:37(Xem: 6915)
Lược khảo "xưng tôn"
LƯỢC KHẢO ‘XƯNG TÔN'
Tỳ kheo Nguyên Các

Ngày nay chúng ta đều khẳng định với nhau rằng, văn hóa của nhân loại, khởi nguồn từ bốn nền văn minh cổ, đó là: Ai Cập, Babylon, Trung Quốc và Ấn Độ. Bốn vùng văn hóa cổ này, qua bao biết đổi của thời gian cũng như sự biết thiên của nhân loại, nay chỉ còn hai – Trung Quốc và Ấn Độ.

Nói như thế không nghĩa là Ai Cập và Babylon (ngày nay là Iraq), hoàn toàn không để lạ dấu tích gì. Mặc dù hai quốc gia ấy ngày nay không tồn tại nữa, nhưng những gì các nhà khảo cổ khai quật, phát hiện được tại hai vùng văn hóa cổ này, đã đóng góp rất lớn vào kho sử liệu của thế giới. Trung Quốc và Ấn Độ cho đến nay, vẫn là hai quốc gia lớn mạnh, đó là do hai nền văn hóa ấy vẫn tồn tại và đang phát triển. Và, thế giới biết đến hai quốc gia này, một phần nào đó cũng do văn hóa Phật giáo. Nói như thế để chúng ta thấy rằng, sự ra đời của đức Thích Ca Mâu Ni, là một đểm sáng trong lịch sử văn hóa nhân loại. Điều này đã được tỏ rõ qua câu nói khi Ngài đản sanh: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã vi tôn.

Một lời tuyên ngôn mà cho đến nay, nhân loại chưa từng có người thứ hai nói, và thực hiện được. Thế nên, cũng gây nhiều tranh luận, làm gì đứa trẻ mới ra đời lại nói được lời như thế? Nhưng vấn đề này, không phải góc độ mà nội dung bài viết muốn đề cập… Bạn có thể tin hoặc không tin, điều đó tùy bạn.

PhatDanSanh-smBậc Bồ tát ấy hạ sanh như thế nào? Theo Hán tạng Phật Bản Hạnh kinh quyển một, phẩm Như Lai Sanh[1] thuật rằng: Khi Thái tử xuất thai, trên không trung, muôn ánh hào quang thần diệu tỏa, che cả cái nắng chói chang của mặt trời. Vì, hào quang ấy là ánh sáng của trí tuệ, của đức cả bao lao, của lòng từ bi rộng lớn, soi rõ cả cõi trời cõi người, cũng như sự chuyển động vô thường của kiếp nhân sinh. Chư thiên nữ cùng quyến thuộc, cử nhạc trời ca tụng, công đức tu hành của Bồ tát trong nhiều đời nhiều kiếp. Tự tại Thiên vương cùng thiên chúng, với tràng phan tuyệt sắc, cung kính lễ Thái tử - bậc Bồ Tát hạ sanh. Liền ấy, Thái tử với tư thế vững chãi, bước bảy bước và nói: “Thiên thượng thiên hạ duy Ngã vi tôn, tam giới giai khổ, Ngô đương an chi”(天上天下, 唯我為尊, 三界皆苦, 吾當安之)[2].

Bậc Bồ tát hạ sanh như thế !

Hào quang của trí tuệ, của lòng từ ấy, làm dịu mát ngọn lửa sân si đang hừng hực cháy trong tâm chúng sinh, cũng như cái nắng vật lý của vũ trụ. Lời ‘xưng tôn’ ấy là của bậc Bồ tát, trải qua bao kiếp tu hành, cũng như nguyện lực vị tha nhân.

Và, truyền thuyết về ‘bảy bước xưng tôn’ được ghi chép trong nhiều bài kinh, ở cả Hán tạng cũng như Pali tạng. Như kinh Sơ Đại Bản, trong tạng Trường Bộ hay Trường A hàm tương đương, đức Thích Ca nói về nhân duyên xuất thế, tu tập, thành đạo… của chư Phật trong quá khứ, cũng như bản thân Ngài, thì tuyên ngôn ấy là:

Aggo `ham asmi lokassa,

Jeṭṭho `ham asmi lokassa,

Seṭṭho `ham asmi lokassa,

Ayam antimā jāti,

Natthi dāni punabbhavo.

Ta là bậc tối thượng ở trên đời

Người tối tôn không ngoài Ta

Ta là đấng xuất thế

Đây là lần tái sinh cuối cùng

Sẽ không còn tái sinh![3]

Lời kinh ấy trích từ Trường bộ kinh (pi. pīghanikāya), Đại phẩm(pi. mahāvagga), kinh Đại thành tựu(mahāpadānasutta)của Pali tạng. Lời ấy so với câu trong kinh Tu Hành Bản Khởi,do Đại sư Trúc Đại Lực và cư sĩ Khang Mạnh Tường dịch vào đời Hậu Hán, của Hán tạng cho thấy, dù cách hành văn có khác, nhưng ý nghĩa thì như nhau. Là hạnh nguyện thoát sanh tử luân hồi khi Ngài đến với nhân loại, đồng thời đưa đường chỉ lối cho chúng sanh trong đêm trường tăm tối của vô minh, của phiền não khổ đau, vào đạo giải thoát giác ngộ. Ngày nay, chúng ta có được con đường chánh pháp để đi, cũng là từ hạnh nguyện ấy.

Thế nhưng, cũng tuyên ngôn đó trong Hán tạng, mỗi dịch giả, hay nhóm biên dịch, khi chuyển ngữ từ tiếng Phạn hoặc Pali sang chữ Hán lại có sự khác biệt nhất định. Chúng ta đi sâu tìm hiểu phần khác nhau ấy, trong các kinh điển trong Hán tạng, để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa lời khẳng định ấy:

Đại Bổn kinh trong tạng Trường A Hàm do ngài Phật-đà Da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch, vào thời hậu Tần, là: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử. (天上天下, 唯我為尊, 要度眾生, 生老病死).[4]

Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi kinh quyển một, Niếp Đạo Chân đời Tây Tấn chỉ dịch là: Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá Ngã giả (天上天下, 尊無過我者).[5]

Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả kinhquyển một, Cầu-na-bạt-đà-la dịch đời Tống lại chép: Ngã ư nhất thiết thiên nhân chi trung tối tôn tối thắng, vô lượng sanh tử ư kim tận hĩ (我於一切天人之中最尊最勝, 無量生死, 於今盡矣).[6]

Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi kinhquyển một, do cư sĩ Chi Khiêm dịch vào đời Ðông Ngô (229 -280) ghi là: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã vi tôn, tam giới giai khổ hà khả lạc giả (天上天下, 唯我為尊, 三界皆苦, 何可樂者?).[7]

Kinh Hiền Ngu quyển mười, do nhóm ngài Tuệ Giác thời Nguyên Ngụy dịch, thì chỉ đơn giản ngắn ngọn chuyển thành: Thiên thượng thiên hạ duy Ngã vi tôn (天上天下, 唯我為尊).[8]

Qua các trích dẫn, chúng ta thấy, văn trong kinh Hiền Ngu Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi kinh, nếu so với các kinh khác thì thiếu hẳn vế độ sanh. Kinh văn trongQuá Khứ Hiện Tại Nhân Quả kinh có rõ ràng hơn, thế nhưng vẫn chỉ khẳng định, Bồ tát sẽ chấm dứt sanh tử luân hồi trong lần giáng sanh này, mà chưa nói đến hạnh nguyện quảng độ quần sanh. Nhưng lại phù hợp với câu kinh trong Pali tạng. Thế nhưng, bậc Bồ tát sẽ liễu ngộ vô thường, khổ, không, vô ngã lại tuyên bố ‘Ta là cao quý nhất’, như vậy có ‘ngã’ quá không?

Văn Pali khi dùng chữ Attađể biểu đạt ‘tôi’ ‘ta’, ứng với chữ ngãdanh từ trong chữ Hán, hay ātmantrong Phạn ngữ. Thế nhưng câu tuyên ngôn không hề có những chữ ấy, mà lại dùng `ham(ngãđại từ).Chúng ta dựa trên từ ngữ phân tích là như thế. Hơn nữa, bậc giác ngộ hoàn toàn, đạt nhất thiết trí, dứt khỏi sanh tử luân hồi (sa. saṃsāra); trong lịch sử nhân loại, đức Thích Ca là một. Thế thì, câu ‘xưng tôn’ ấy về từ ngữ cũng như thực tế, đều là sự thật, được lịch sử ghi nhận. Nhưng khi chúng ta dùng ‘duy ngã độc tôn’, đã tạo cơ hội cho một số thành phần chỉ trích đức Phật cũng như Phật giáo. Vì chữ độc (獨) và chữ vi (為) trong Hán tự khác rất nhiều. Mặc dù, trong Hán tạng A hàm, có đôi chỗ dùng là ‘độc tôn’, thế nhưng chúng ta phải xem bài kinh ấy Phật nói gì, trong hoàn cảnh nào, với đối tượng nào? Đừng lấy câu, hay ý nhỏ thay cả bài kinh, như thế có thể đẫn đến kết quả như thầy mù sờ voi, mà sai đi thánh ý.

Bậc đại Thánh ứng hiện ở thế gian với đại nguyện chấm dứt sanh tử luân hồi từ đây, đồng thời dạy chúng sanh cách giải quyết khổ đau trong ba cõi. Đức Phật đã làm được. Hình tượng thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) lúc vừa đản sanh bước bảy bước, và mỗi bước có hoa sen đỡ chân, có thể là hình ảnh biểu đạt con đường đi đến sự tỉnh thức hoàn toàn. Vậy, ‘duy ngã vi tôn’ ở đây, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa là, Ngài là bậc tôn sư (thầy) của ba cõi, dạy chúng sanh con đường xa rời bể khổ sông mê, lên thuyền bát nhã về nơi bến giác. Và, con đường ấy là: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo…

Ngày nay, vào lễ Phật đản chúng ta thường thấy những câu đối có vế ‘bảy bước xưng tôn’. Mỗi bước chân, là sự chuyển hóa của hạnh nguyện, với lời khẳng định, Ngài sẽ giác ngộ và đem pháp giải thoát sinh tử truyền dạy cho chúng sanh; bằng Từ, Bi, Hỷ, Xả, bằng trí tuệ, để đem an lạc và hạnh phúc đến cho muôn loài.

Vĩnh Nghiêm, Phật đản, PL. 2556

ĐT: Đại Chánh Tân Tu Tạng Kinh, Cty TNHH xuất bản Tân Văn Phong, Đài Loan xb, 1983.



[1] Phật Bản Hạnh kinh, ĐT, q4, no. 193, p. 59.

[2] Tu Hành Bản Khởi kinh, ĐT, q3, no. 184, p. 463, c13-16.

[3] Pali tạng, Trường Bộ Kinh, p.151; hoặc Ht. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, p.453.

[4] ĐT, q1, no. 1, p. 4, c1-2

[5] ĐT, q3, no. 188, p. 618, a19.

[6] ĐT, q3, no. 189, p. 625, a27-28.

[7] ĐT, q3, no. 185, p. 473, c2-3

[8] ĐT, q4, no. 202, p. 418, c25-26

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/11/2010(Xem: 6317)
Sức khỏe đựơc định nghĩa “ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being, bien-être) về thể chất, tâm thầnvà xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật “ (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) . Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là “sức khỏe” của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ…!
06/11/2010(Xem: 6665)
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở.
31/10/2010(Xem: 9943)
Lịch sử Thiền tông Trung Hoa sơ kỳ xuất hiện với hai tên tuổi tiêu biểu. Một vị đương nhiên là Bồ-đề Đạt-ma, người khai sáng Thiền tông Trung Hoa, và vị thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, người định hướng dòng mạch Thiền tông bắt nguồn từ Tổ Đạt-ma. Nếu không có Tổ Huệ Năng và môn đệ trong tông môn của Ngài thì Thiền tông không thể nào phát huy và hưng thịnh vào đầu đời Đường Trung Hoa. Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ chiếm một vị thế tối quan trọng trong nhà Thiền, và những thăng trầm thuộc về duyên nghiệp mà bộ kinh đã khứng chịu có nhiều điều rất lý thú.
27/10/2010(Xem: 18794)
Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
19/10/2010(Xem: 6409)
Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm; bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu bảy yếu tố giác ngộ; bảy yếu tố giác ngộ nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát
18/10/2010(Xem: 7651)
Thiền là phương pháp tu hành chủ yếu của nhà Phật. Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, các đệ tử của Ngài đều lấy việc hành thiền làm cơ bản. Các phương pháp hành thiền này đều nương theo các kinh, luật và luận đã thuyết; như thiền Quán niệm hơi thở, thiền Tứ niệm xứ, Thiền na Ba la mật v.v...Tu các pháp thiền này được chứng nhập tuần tự theo thứ bậc, tùy theo trình độ và thời gian hành trì của hành giả. Loại thiền này được gọi là Như Lai Thiền. Còn Tổ Sư Thiền thì ngược lại không có thứ bậc, là pháp trực tiếp chỉ thẳng vào bản thể chân tâm Phật tánh.
16/10/2010(Xem: 6787)
Sự chia rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào? Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa, Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy
12/10/2010(Xem: 7028)
Niêm hoa vi tiếu: nói đầy đủ là: "Thế tôn niêm hoa, Ca Diếp vi tiếu." Nghĩa là: Đức Phật Thích Ca cầm cái hoa đưa lên, ông Ma Ha Ca Diếp mỉm cười.
12/10/2010(Xem: 8964)
Thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền (Dogen Kigen, 1200-1253) là khai tổ tông Tào Động Nhật Bản. Năm 1224 sư sang Trung Hoa học đạo với thiền sư Thiên Đồng Như Tịnh (1163-1228) là tổ tông Tào Động đời thứ 15. Sau khi được thầy ấn chứng, sư trở về Nhật Bản vào năm 1228.
12/10/2010(Xem: 11691)
Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) đã miêu tả hai Chân lý: Chân lý Tuyệt đối (Paramatha Sathya) và Chân lý có tính Quy ước (Sammuti Sathya). Luận sư Long Thọ của Truyền thống Phật giáo Đại thừa (Mahayana) cũng đã đồng nhất hai Chân lý ấy, nhưng luận thuyết của Ngài khác với luận thuyết của Truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada).