Lá Thư Thiền

21/12/201111:22(Xem: 6984)
Lá Thư Thiền


thien-dinh-03

Ngày ..... tháng .... năm ....

Con thương mến,

Thầy rất hoan hỷ khi con đã thấy được vấn đề. Và thầy cũng mừng là con có tâm định bước đầu khá tốt. Tuy nhiên, đó là kết quả nỗ lực của con, không phải là thành tựu của pháp. Con có nhận ra sự khác biệt này không? Con đừng cố gắng thiền định quá làm gì, chủ yếu là con có thể để cho thân tâm nghỉ ngơi thoải mái sau những cố gắng đầy mệt mỏi trong công việc phải xử lý hàng ngày. Hãy thư giãn, buông xả mỗi khi căng thẳng, bất an, đó chính là định, là lấy lại thăng bằng giữa những thái quá hay chao đảo bất thường mà thôi. Thái quá trong đời sống bên ngoài là lo toan, nỗ lực để mưu cầu công danh, sự nghiệp. Còn thái quá trong đời sống tâm linh lại là những tầm cầu, mong đợi đạt được một sở đắc an lạc trong thiền định. Hai hướng có vẻ khác nhau nhưng đều phát xuất từ cái ngã cầu toàn.

Giác ngộ không phải là cầu toàn, vì càng cầu toàn con càng khổ đau thất vọng, mà là cần thấy ra bản chất bất toàn của cuộc sống. Chỉ cần vừa đủ trầm tĩnh sáng suốt để quan sát, lắng nghe, học hỏi - chứ không cần phải thiền định quá sâu - thì con sẽ nhanh chóng khám phá ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã của đời sống để có thể an nhiên tự tại, không chấp thủ, không dính mắc, trong bài học tự giác, giác tha, lợi mình, lợi người. Cứ thế định sẽ tự viên mãn mà không cần con phải nhọc công tầm cầu, tranh thủ.

Nhiều khi vì muốn thiền định quá sâu làm con không trầm tĩnh được trước những biến cố nhiễu nhương, phức tạp giữa đời thường. Đơn giản chỉ vì địnhđộnglà hai đối lực đưa đến bất an, căng thẳng, mà dù con chọn phía nào cũng đều tự đánh mất thăng bằng nội tại. Trong những mức định sâu, con tưởng mình đã lấy lại được thăng bằng, nhưng đó là thăng bằng giả tạo, một thứ giả tạo quá tinh vi khiến ít người thấy được.

Hãy sống thật bình thường với một tâm hồn cởi mở, trong sáng và tĩnh tại - mà thiền Vipasanà gọi là chánh niệm tỉnh giác - thì con chẳng cần rèn luyện gì cả. Vì con chỉ cần thấy pháp (thực tại) thôi, còn mọi chuyện pháp sẽ tự biết lo liệu thế nào. Đừng để cái ngã xen vào sự vận hành hoàn hảo của pháp để rồi tự chuốc lấy điên đảo, khổ phiền. Cố gắng rèn luyện là ý đồ của cái ngã luôn muốn thủ đắc, không bao giờ buông xuống, không chịu được cái không,mà chỉ muốn sở hữu thêm, thêm mãi... như những con lạc đà trĩu nặng giữa sa mạc cuộc đời! Con ơi! Có bao giờ con tự hỏi: "Ai nỗ lực rèn luyện và rèn luyện để làm gi?"khi bóng tối của vô minh vẫn còn che phủ sự thật của cuộc đời.

Thầy Viên Minh
Ý kiến bạn đọc
15/12/201801:15
Khách
Nam Mô A Di Đà Phật !
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2011(Xem: 17152)
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
30/01/2011(Xem: 17119)
Rõ ràng hơi thở là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm soát cảm xúc và hành vi của ta.
20/01/2011(Xem: 5662)
Tất cả chúng ta đều đồng ý là, pháp tu của Đạo Phật, dù phương tiện có thể khác song cứu cánh phải gặp nhau. Nếu hai pháp tu mà phương tiện và cứu cánh đều khác biệt nhau thì, pháp nầy là Đạo Phật, pháp kia hẳn không phải Đạo Phật. Phật giáo Việt Nam đã mang sẵn hai pháp tu Thiền: Thiền Tông và Thiền Nguyên Thủy. Vậy sự gặp gỡ nhau như thế nào? Đây là mục tiêu chúng ta phải nghiên cứu. Theo thiển kiến chúng tôi thấy có những điểm gặp nhau, như dưới đây:
08/01/2011(Xem: 5795)
Chúng ta sử dụng suy nghĩ như một công cụ, như hành vi để biết sự sinh khởi, bởi vì công năng của thiền quán thì ở trên và vượt qua tiến trình suy nghĩ; nó dẫn chúng ta tới chỗ không bị mê vọng bởi sự suy nghĩ.
04/01/2011(Xem: 12204)
Trí toàn giác không thể không nhân mà có, vì nếu là như vậy, bất cứ điều gì cũng có thể là toàn giác. Nếu sự việc sinh ra không tùy thuộc vào điều gì khác, như vậy mọi sự đều có thể hiện hữu không câu thúc, sẽ chẳng lý do gì lại không thể là toàn giác. Chính vì sự vật chỉ phát sinh tùy lúc, nên bắt buộc phải tùy thuộc nhân duyên. Trí toàn giác cũng vậy, rất hiếm hoi, không phải bất cứ lúc nào, chỗ nào, cũng có thể sinh ra. Cho nên trí toàn giác nhất định phải tùy thuộc nhân duyên.
31/12/2010(Xem: 17371)
Quyển TRUNGPHONG PHÁP NGỮ này được hình thành từ sự tuyển dịch một số bài pháp ngữ củaThiền Sư Trung Phong khai thị đồ chúng trong bộ Thiền Sư Tạp Lục, 3 quyển, introng Tục Tạng Kinh, tập số 122. Nội dung sách tấn người học lập chí lâubền, gan dạ liều chết hạ thủ công phu tham cứu thoại đầu cho đến khi khối nghibùng vỡ, hoàn toàn liễu thoát sanh tử.
26/12/2010(Xem: 17066)
“Con đường Thiền Chỉ Thiền Quán”đã được Ngài Guṇaratana trình bày một cách khúc chiết, rõ ràng có thể giúp cho những ai muốn nghiên cứu tường tận chỗ đồng dị, cộng biệt, sinh khắc của hai pháp môn này hầu tránh tình trạng nhầm lẫn, võ đoán và phiến diện trong lý thuyết cũng như trong thể nghiệm con đường giác ngộ giải thoát. Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chí có mục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được các bậc tuệ quán.
07/12/2010(Xem: 19192)
Ngày hôm qua Steve tới thăm với chú bé Mickey 7 tuổi. Gớm, thằng bé lớn mau quá đi thôi và nghịch ghê. Nó nói giỏi cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Nó còn nói được tiếng lóng học ở ngoài đường nữa. Trẻ con bên này được nuôi dạy khác với lối nuôi dạy trẻ con bên mình. Cha mẹ chúng để chúng “tự do phát triển”. Suốt hai giờ ngồi nói chuyện, Steve phải để ý tới thằng bé. Nó chơi, nó nghịch, nó xan vào cả câu chuyệncủa người lớn. Nó làm cho người lớn không nói chuyện với nhau được. Tôi đưa cho nó mấy quyển sách hình của trẻ con, nhưng nó chỉ lật xem sơ sơ rồi lại bỏ sách, xen vào giữa tôi và ba nó. Nó đòi sự chú ý của thế giới người lớn.
30/11/2010(Xem: 6039)
Tứ thiền (catvāri dhyānāni) là bốn phương pháp thiền định dùng cho cả nội giáo và ngoại giáo cùng tu tập thực hành, nhằm đối trị các lậu hoặc, là nhân siêu việt mọi lưới hoặc nghiệp của dục giới, là quả sinh lên cõi sắc giới, là y địa căn bản nơi sinh ra các công đức, cũng có nghĩa là bốn loại thiền định căn bản sinh ra các thứ công đức; đó chính là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thuộc Sắc giới