Những Đoá Mai Vàng Đẹp Mãi Ngàn Năm

02/02/201110:18(Xem: 17146)
Những Đoá Mai Vàng Đẹp Mãi Ngàn Năm

NHỮNG ĐOÁ MAI VÀNG
ĐẸP MÃI NGÀN NĂM
TT. Thích Giác Toàn
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."

Câu chuyện vua Lý Thái Tông, khoảng niên hiệu Thông Thụy (1034-1038), một sáng mùa Xuân tìm vào núi viếng thăm Thiền Sư Thiền Lão. Với 4 câu thơ, đáp lời hai câu hỏi của nhà vua, Thiền Sư đã lưu lại cho chúng ta những câu thơ tuyệt bích trong thi ca Thiền học về không gian và thời gian.

Lúc lên núi, gặp Thiền Sư vua hỏi: "Hòa Thượng đến tu núi này được bao lâu rồi?"

Thiền Sư đáp:

Sống ngày nay biết ngày nay

Còn Xuân Thu trước ai hay làm gì!

(Đản tri kim nhật nguyệt

Thùy thức cựu Xuân Thu)

Vua lại hỏi tiếp: "Như vậy hằng ngày Hòa Thượng làm việc gì?"

Thiền Sư đáp:

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây trắng hiện toàn chân.

(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân)

Thiền Sư không làm thơ nhiều, nhưng tâm hồn Thiền Sư hiền và đẹp nên ngôn ngữ Thiền Sư thốt ra cũng nhẹ và đẹp lãng đãng như áng mây trời. Vì thế, không gian và thời gian đối với Thiền Sư lại càng như không có gì để phải bận tâm. Bởi quá khứ là cái đã đi qua; những điều hiện tại trong khoảnh khắc rồi cũng qua mau, trở thành quá khứ; còn việc tương lai là điều chưa đến, mà nếu có đến thì nó lại cũng đi qua và sẽ trở thành quá khứ. Dòng thời gian luôn qua nhanh như một dòng nước trôi xuôi. Nắm bắt cái đã qua vừa làm mất công, vừa tự mình làm mệt, làm khổ cho chính mình. Cho nên, chúng ta thấy các Thiền Sư chẳng những sống với thực tại mà còn tỉnh thức trước thực tại. Các Pháp vốn "như thực như thị," hãy để nó diễn biến đúng theo quy luật nhân quả của chính nó.

Chúng ta tin chắc lời đáp của Thiền Sư đã tạo nên sự ngạc nhiên lý thú cho nhà vua và kết quả đã đưa nhà vua về với thực tại: - Như vậy, hằng ngày Hòa Thượng làm việc gì? Thiền Sư không trả lời là hằng ngày mình làm việc gì, nhưng nhà vua vẫn không buồn mà lại càng thích ý hơn khi được Thiền Sư đưa nhà vua thể nhập vào sự hài hòa toàn bích của tâm và cảnh, giữa con người và cảnh sắc thiên nhiên không hai không khác:

"Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây trắng hiện toàn chân."

Chính cái bên ngoài là pháp trần, là hóa thân làm đẹp cái bên trong; còn cái bên trong là tâm thức, là pháp thân chủ để làm rạng rỡ, rực sáng cái bên ngoài. Người thân chứng là người không còn thấy có khoảng cách giữa tâm và vật, thức và trần. Cảnh chỉ là một – huyền diệu lung linh.

2) Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) nếu so với các Thiền Sư đời Lý thì tuổi thọ nơi thân xác tứ đại của Thiền Sư có phần ngắn ngủi hơn. Nhưng pháp thân chân tính của Ngài hiển hóa trong thi ca thì sống mãi muôn đời. Và một điều kỳ diệu là mùa Xuân nào đọc lại bài thơ của Thiền Sư vẫn nghe như mới, như trào dâng một cảm xúc vô biên:

"Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."

"Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai."

(HT.Thích Thanh Từ dịch)

Về mặt cấu tạo vật chất, thân con người là tứ đại (đất, nước, lửa, gió) cấu thành, cảnh vật hoa cỏ thiên nhiên cũng là tứ đại thành. Nhưng con người hơn vạn vật ở chỗ là con người có hình thức sống, có tâm hồn, cho nên con người đương nhiên là chủ thể của vạn vật. Điều vi diệu ở đây là chủ thể và khách thể, tức con người và vạn vật lại hội nhập hòa điệu trong tính đồng nguyên nhất thể. Con người nhìn tấm gương phản chiếu của dòng thời gian đến – đi, của hoa cỏ nở- rụng mà có thể cảm nhận được dòng đời "trước mắt việc đi mãi," để tự nhìn lại chính mình "trên đầu già đến rồi" quả vô cùng tuyệt diệu. Thấy được tính vô thường nơi thời gian, vô thường của cảnh vật hoa cỏ thiên nhiên rồi cảm nhận ra được sự vô thường nơi chính xác thân mình đâu phải là điều dễ làm. Trong cuộc sống trùng trùng điệp điệp này ai cũng trải qua, ai cũng đến đi, ai cũng trẻ già, ai cũng sống chết; nhưng giác ngộ được thực tướng của chính mình trong mỗi lúc, không phải ai cũng có thể cảm nhận ra.

Khi đốidiện nhân chứng trước sanh tử vô thường, chẳng những không sợ hãi mà Thiền Sư còn đưa con người vào cõi an trú vĩnh hằng, Niết Bàn bất diệt: "Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một cành mai." Giữa cõi đất trời siêu tuyệt, cành mai của Thiền Sư Mãn Giác chính là sự hội tụ của tính nhân văn, là nét đẹp không cùng tận của con người.

Đời Trần, Thiền Sư Huyền Quang – một thi sĩ tài hoa, là một trong số ít các vị tác giả có nhiều tác phẩm, hiện nay còn lưu lại cũng khá nhiều. Bài thơ "Hoa Cúc" là một trong những bài thơ nổi tiếng của Thiền Sư. Từ ngày Thiền Sư tịch đến nay gần 700 năm, hễ nói đến Thiền Sư thì người ta nhớ đến bài thơ "Hoa Cúc." Bài thơ có sáu đoạn tứ tuyệt, mỗi người có mỗi tâm trạng hòa nhịp theo ý thức xúc cảm sâu lắng của Thiền Sư.

Giáo lý vô thường, khổ não, vô ngã trước cuộc đời và sự thâm cảm giữa ý thức uyên áo của con người với thiên nhiên được Thiền Sư lột tả một cách tuyệt mỹ nơi đoạn 3:

"Vương thân vương thế dĩ đô vương,

Tọa cửu tiêu nhiên nhất thập lương

Tuế vãng sơn trung vô lịch nhật,

Cúc hoa khai xứ, tức trùng dương."

"Quên mình, quên hết cuộc tang thương

Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường

Năm cuối trong rừng không có lịch

Thấy hoa Cúc nở biết trùng dương."

(bản dịch của Phan Võ – lược khảo LSVHVN)

Bốn loài: Mai, Lan, Cúc, Trúc là biểu tượng của bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Thiền Sư ngồi thiền định trong rừng, cảnh cũng không người cũng không. Cây cỏ, hoa cảnh, thời gian, không gian như đứng ngừng im lặng, như "giao hội" cùng trời đất. Chỉ cần thấy "hoa Cúc nở" là biết "tiết trùng dương đã đến, tựa như Thiền Sư Viên Chiếu đời Lý cũng đã từng thổ lộ:

"Trùng dương Cúc nở dưới rào

Trên cành Oanh hót thanh tao dịu dàng."

Nhưng nét đẹp siêu tuyệt nơi Huyền Quang không dừng lại ở đây, nó còn vương lên, vượt khỏi ta – người, tâm- cảnh, có – không v.v… Nói theo tư tưởng Thiền của các Tổ sư là dứt bỏ "Nhị kiến" không còn thấy có hai, dù không gian, thời gian nào, dù người hay vật, sắc hay không (đoạn 5):

"Hoa tại trung đình, nhân tại lâu

Phần hương độc tọa tự vong ưu.

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu"

"Người ở trên lầu hoa dưới sân

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa vô biệt

Một đóa hoa vàng chợt nở tung"

(bản dịch của Nguyễn Lang)

Khi nào con người trở về với chính mình thì khi đó cái đẹp "tính nhân bản" hội tụ. Và cũng chính nơi mình, "tính nhân bản" tỏa sáng muôn đời.

Tóm lại, như chúng ta đã biết, cánh hoa vàng (hoàng hoa) của Thiền Sư Thiền Lão, cành Mai vàng của Thiền Sư Mãn Giác đầu, giữa đời Lý và đóa Cúc vàng của Thiền Sư Huyền Quang gần cuối đời Trần… cả 3 đóa hoa vàng cách nhau trên dưới 300 năm. Vậy mà khi đọc lại, ta tưởng chừng như 3 con người, 3 vị Thiền Sư Thiền Lão-Mãn Giác-Huyền Quang và 3 đóa hoa vàng chỉ là một – như mới đâu đây, mới hôm nào… rồi chợt giật mình. Ồ! Đây rồi – đóa hoa vàng của chính lòng ta "tâm thức sống của chính mình," của mỗi người chúng ta. Ôi! Những đóa hoa vàng tuyệt bích thiên thu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/02/2026(Xem: 867)
Thiền sư Thiền sư Ajahn Brahm là một trong những vị thiền sư Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) nổi tiếng nhất thế giới hiện nay, đặc biệt được yêu mến ở phương Tây, đã vào Việt Nam. Khóa thiền “KINDFULESS - Chánh niệm Từ bi” đang diễn ra tại thiền viện Phước Sơn dưới sự hướng dẫn trực tiếp từ Ngài Thiền sư nổi tiếng thế giới này. Trong những ngày này, Thiền sư Ajahn Brahm đã dành thời gian tiếp riêng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch công ty sách Thái Hà cùng các đồng nghiệp và các học trò trong nhóm “Thiền trong từng phút giây”. Tại buổi tiếp, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng đã dâng lên Ngài bức tranh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được chế tác bằng gạo, cùng 2 cuốn Kinh Pháp Cú bỏ túi bản tiếng Việt và bản 3 ngôn ngữ Pali – Anh - Việt do Thái Hà Books xuất bản chỉ tặng chứ không bán và cuốn sách quý “Chánh niệm, Hỷ lạc và Giác ngộ” được xuất bản chào mừng chuyến vào Việt Nam của Ngài.
15/01/2026(Xem: 548)
Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Khi Tỷ-kheo có định sẽ như thật rõ biết (pajànati): -“Đây là Khổ (bản chất bất an), đây là Khổ tập (nguyên nhân dẫn đến bất an) các ngươi đều như thật rõ biết!. -"Đây là Khổ diệt (cảnh giới Niết Bàn) và đây là con đường đưa đến Khổ diệt (tám Chánh Đạo). Các ngươi hãy như thật rõ biết!. Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Định. Phát lên một cố gắng cần làm để rõ biết: -"Đây là Khổ","Đây là Khổ tập". Cố gắng cần làm để rõ biết. -"Đây là Khổ diệt","Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt". Cố gắng cần làm để rõ biết.
10/01/2026(Xem: 1637)
Trong Thiền Tổ Sư, thường nói rằng hễ thấy bản tâm xong mới biết tu, còn chưa thấy được thì chỉ là đi mù mờ trong đêm, cứ như chặp sáng chặp tối, không biết gì để tu. Bởi vì, chưa thấy gốc của tâm thì mọi chuyện tu chỉ là tu nơi ngọn của tâm, chỉ mất thêm thì giờ, cho dù là có phước đức. Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng thân và tâm đều là rỗng không, vậy thì lấy gì mà gọi là gốc của tâm, hay ngọn của tâm.
01/11/2025(Xem: 3013)
Thầy đã truyền lửa , nguyện xin giữ lửa Vẫn nguyên sơ, chỉ thẳng Bồ đề tâm nơi thế gian Với Bi, Trí, Dũng có thể biến nguy thành an Một tiếng gọi từ bên trong, ( Phật Tánh) tuy rất nhỏ Tựa dòng chảy minh triết, rót từng khoảnh khắc đó (Huệ Hương)
20/09/2025(Xem: 1712)
Trong chương trình Giáo Dục Cộng Đồng (Community Education), các lớp Thiền Thực Nghiệm được trường University of the West (Đại Học Tây Lai) công nhận là lớp học “Non-Credit” theo hệ mở rộng ngoại khoá cho cộng đồng người Việt do giảng viên Thích Thiện Trí giảng dạy. Giảng viên Thích Thiện Trí từng là cựu giảng viên đại học Xavier và Loyola New Orleans_Louisiana và hiện là giảng viên tại trường đại học West (Rosemead_California).
13/09/2025(Xem: 1035)
Tên gọi — tưởng chừng chỉ là một tiếng xưng hô giản đơn, nhưng lại chất chứa cả một trời ý nghĩa. Cha mẹ trao cho ta cái tên với bao niềm mong mỏi, kỳ vọng. Rồi lớn lên, có người lại chọn cho mình một biệt danh, một cái tên thân mật, để giãi bày tính cách, gửi gắm ước vọng thầm lặng. Trên mạng xã hội, ta có thể tạo một “nickname” — vừa ẩn vừa hiện — như một tấm gương phản chiếu điều muốn giữ, muốn nhắc, hay muốn người khác nhận ra nơi mình.
13/09/2025(Xem: 1318)
Có một nhà trí thức, có thể nói là “Thiên kinh vạn quyển” ái mộ Phật, nghiên cứu kinh điển rất nhiều. Thế nhưng có một đoạn trong Kinh Kim Cang ông không sao hiểu nổi. Ông đã nhờ nhiều nhà trí thức giải thích dùm nhưng những lời giải thích có vẻ gượng gạo càng làm cho vấn đề trở nên bế tắc. Cuối cùng ông quyết định vấn hỏi một vị thiền sư xem Phật gia có thật sự hiểu thấu đáo kinh điển hay chỉ đọc tụng như một cái máy, tin mà không hiểu gì hết. Khi hội kiến thiền sư, ông trình bày thắc mắc của mình:
29/06/2025(Xem: 3342)
Những bài kinh Phật không có bài nào là không hay. Có miệt mài trên những trang kinh xưa mới cảm được sự vang động của suối nguồn trí tuệ. Lời kinh là những tiếng sấm rền vang chấn động tâm thức chúng sanh đang chới với giữa những làn sóng ưu phiền trong biển sanh tử. Kinh nghiệm giác ngộ của bậc toàn giác được trao truyền ròng rã trong suốt 45 năm để lại một kho tàng tư tưởng giải thoát, một sự trưởng thành tột cùng của trí thông minh và cảm thức con người. Mỗi lần đọc kinh là mỗi lần cảm nhận được sức mạnh của phước báu đã cho tâm thức bay lượn một khoảng không gian khá rộng trong bầu trời siêu thoát mênh mông.
03/05/2025(Xem: 1997)
Trong Phật giáo, Chánh niệm và Lòng từ là hai thực hành mạnh mẽ, chúng có mối liên hệ mật thiết và hợp lực cùng nhau tạo thành sự phát triển bản thân và cải thiện sức khỏe cảm xúc. Cả hai cột trụ phát triển bền vững này không những xuất phát từ truyền thống phát triển tự thân chữa lành mà còn được áp dụng rộng rãi trong nền giáo dục tâm lý hiện đại đang hằng ngày diễn ra trong đời sống thường nhật của chúng ta. Đây cũng chính là chủ đề tâm linh đạo đức mà bài tham luận đề cập đến.