Thiền ngay lập tức.

22/04/201319:44(Xem: 5837)
Thiền ngay lập tức.

THIỀN NGAY LẬP TỨC

Dickwelle Mahinda Thera – Tây Đức

Mỹ Thanhdịch Việt

Theo kinh Dhammapada(Pháp Cú) và lời chú giải, sự hiện hữu cuối cùng của con người là đạt đến tầng cuối cùng ( A-la-hán hay Thanh Văn), với một đối tượng giản dị làm đề tài cho thiền định, để nhận biết sự vật như nó là. Họ có thể hiểu về ba đặc điểm của tất cả mọi vật hiện hữu, tính chất vô thường, đau khổ, và vô ngã. (Anicca, Dukkha, và Anatta), nhổ tận gốc rễ nguyên nhân của đau khổ, đó là ham muốn. Có rất nhiều vị Tỳ khưu , Tỳ khưu ni, và cư sĩ đã từng đối diện với các đề tài thiền định khác nhau, và họ thực tập ngay tức thời. Một trong những đề tài ấy như sau :

Một vị tu sĩ nhận một đề tài thiền quán từ nơi Đức Phật, và rồi đi vào rừng để thực tập. Nhưng khi vị ấy không thể nào tiến triển tốt trong việc thực hành thiền (Jhana). Vị ấy quyết định trở về gặp thầy của mình. Trên đường đến gặp đức Phật, vị ấy thấy một ảo giác. Vị ấy tự nghĩ, « Như là khi mùa nóng bắt đầu, ta thấy những ảo giác hiện diện từ nơi xa, nhưng khi ta đến gần thì chúng tự dưng biết mất, như vậy tính chất của sự hiện hữu chỉ là sanh và diệt » . Như thế, vị ấy đã thực hành thiền xuyên qua một ảo giác. Sau khi tắm trong dòng sông, vị ấy ngồi bên bờ sông, dưới bóng cây, gần một thác nước. Vị ấy thấy bong bóng nổi lên và vỡ tan. Vị ấy tự nghĩ, « Đây là sự hiện hữu có mặt và mất đi. » Và như vậy, vị ấy đã biết sử dụng đề tài thiền quán. Sau đó, đức Phật mới nói bài kệ như sau :

Phenupamam kaayamimam viditvaa

Mariicidhammam abhisambudhaano

Chetvaana maarassa papupphakaani

Adassanam maccuraajassa gacche

Ý nghĩa của bài kệ trên là :

Người nào biết rõ thân mình như bọt nước, người ấy hiểu rõ thực chất của ảo giác là gì, người ấy có thể tiêu diệt những cuống hoa ham muốn và rời xa thần chết.

Vào câu cuối của bài kệ, vị tu sĩ chứng ngộ, trở thành một vị A-la-hán (Dhammapada Puspha Vagga)

Con một người thợ bạc trở thành tăng sĩ dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Sariputta Maha Thera. Thầy Sariputta ra đề cho vị tăng sĩ thiền định, ấy là sự ô uế của thân thể. Vị tăng sĩ suy ngẫm về đề tài rất lâu, nhưng không thấy tiến bộ chút nào, dù chỉ là một thoáng sơ thiền (Jhana). Sau đó, Thầy Sariputta đưa vị tăng sĩ ấy đi gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhìn thấy trong vòng năm trăm kiếp sống, vị tăng sĩ ấy luôn sanh ra trong gia đình thợ bạc nầy. Đức Phật thấy rằng thiền định về sự ô uế của thân thể không thích hợp cho vị nầy, và đức Phật tạo ra một hoa sen bằng vàng, và bảo thầy hãy nhiếp tâm thiền về đề tài nầy. Lập lại những chữ « Máu - đỏ, máu – đỏ (Lohitakan, lohitakan) ». Khi vị tu sĩ thiền quán về đoá hoa sen bằng vàng, đức Phật làm phép cho hoa sen ấy bị héo đi. Vị tu sĩ trẻ nghĩ, « nếu mọi vật không bám víu vào thế gian mà vẫn bị phân rã và tàn hoại, vậy thì con người nếu bám víu vào thế gian sẽ cũng phân rã và tàn hoại. » Như thế, vị ấy đã giác ngộ rốt ráo những đặc tính của tất cả sự vật, đó là, sự vô thường, đau khổ và vô ngã (Anicca, Dukkha, and Anatta, và chứng quả A-la-hán. ~, Vagga 9 )

Vị A-la-hán Maha Panthaka Thera đuổi người em tu sĩ của mình khỏi tu viện, bởi vì em của ngài không thể nhớ thuộc lòng nổi một bài kệ. Đức Phật liền hiện ra trước người em, đưa cho ông một miếng vải và bảo ông hãy suy ngẫm về đề tài nầy, lặp đi lặp lại những chữ « phủi bụi trừ dơ » (Rajoharanam). Khi ông nầy quay mặt về hướng đông dùng miếng vải để lau chùi thì miếng vải bị dơ vì mồ hôi trên trán của ông.

Đức Phật hiện ra trước ông trong một linh ảnh, và nói « Bụi dơ là sự ganh ghét, si mê, hãy chùi sạch đi. » Cullaphanthaka liền chứng quả A-la-hán tức thời. (Appamada Vagga 3).

Truyện kể rằng có năm trăm vị tu sĩ nhận được đề tài thiền quán từ nơi đức Phật, họ liền lui vào rừng để tham thiền, nhập định. Trong khi những vị tu sĩ nầy đang thiền quán, họ thấy hoa lài rơi xuống. Họ liền dùng đề tài nầy để thiền quán và họ nghĩ, « Như thế, không biết chúng ta có thoát khỏi sự kềm chế của Tham, sân, si hay không.. » Và cuối cùng thì họ đều chứng quả A-la-hán (Bhikkhu Vagga 8).

Kisa Gotami sau khi trở thành nữ tu. Ngày nọ bà nhìn thấy ánh nến lung linh và bà nghĩ đến sự vô thường của cuộc sống. Đức Phật cho bà thấy hình dung của Phật ngay trước mặt, và nói kệ, nhờ đó bà chứng quả A-la-hán (Sahassa Vagga 13).

Một phụ nữ bị bệnh và chết đi. Gia đình và bạn bè đưa thi thể của bà tới khu đất để thiêu xác. Đức Phật thấy xác chết thích hợp cho đề tài thiền quán và chỉ cho Thầy Maha Kala xem. Thầy Maha Thera đến và quan sát xác chết. Khi người ta đốt xác, xác ấy giống như con bò có vằn. Đôi chân thò ra lòng thòng. Đôi tay cuộn lại phía sau. Cái trán mất da. Thầy Maha Thera suy ngẫm về sự chết và mục nát, rồi thầy chứng quả A-la-hán, đạt lục thông. (Yamaka Vagga 6).

Một tu sĩ vào rừng để thiền định nhưng thầy đã thất bại trong thiền tập. Thầy nhất định gặp đức Phật để xin một đề tài thiền quán thích hợp hơn. Thầy sửa soạn lên đường gặp đức Phật. Trên đường thầy gặp đám cháy rừng. Thầy leo lên một ngọn đồi trọc và nhìn ngọn lửa, chú tâm suy nghĩ, « Khi ngọn lửa lan tràn, thiêu đốt tất cả những chướng ngại vật, lớn cũng như nhỏ, như vậy ta cũng phải tiến bước, dẹp bỏ hết chướng ngại vật, lớn và nhỏ bằng ngọn lửa Trí tuệ của con đường chánh pháp. » Vừa nghĩ tức thì vị ấy đạt quả vị A-la-hán (Appamada Vagga 8)

Patacara là con gái của một thương gia giàu có ở Savatthi. Patacara trốn đi xây tổ uyên ương cùng với người giúp việc cho gia đình cô. Hai vợ chồng sinh sống trong một làng nọ. Sau cái chết của hai người con trai, chồng, cha mẹ, bà Patacara trở nên điên loạn. Sau khi thiền quán về một bài kệ của đức Phật, bà Patacara đạt quả vị Dự Lưu. Sau đó, bà xuất gia và trở thành một vị ni.

Ngày nọ bà đang rửa chân. Khi bà dội nước, bà làm đổ một ít nước trên đất. Nước chảy thành một đường nhỏ và biến mất. Lần thứ hai, nước chảy xa hơn một chút … Lần thứ ba nước chảy xa hơn một chút nữa. Sau đó, bà thiền quán về đề tài nầy, suy ngẫm về ba lần nước chảy, bà ngẫm như sau : « Lần đầu làm đổ nước, nước chảy chút xíu rồi biến mất, cũng như đối với chúng sanh ở thế gian nầy, chết khi tuổi còn trẻ. Lần thứ hai, nước chảy xa hơn một chút, cũng như chúng sanh ở thế gian nầy chết trong khi tuổi đang xuân. Lần thứ ba, nước chảy xa hơn một chút, cũng như chúng sanh ở thế gian nầy, chết khi về già. »

Đức Phật liền hiện ra trước mặt bà trong một linh ảnh, và nói như sau, « Tốt nhất là sống trong từng giây phút của một ngày, nhận thấy sự hiện hữu và hoại diệt của đời sống, còn hơn là sống cả trăm năm mà chẳng thấy gì.»

Ngay sau câu cuối của đức Phật, bà Patacara đạt quả vị A-la-hán với những phép thần thông. (Sahassa Vagga 12).

----o0o---

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

Trình bày: Anna

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/04/2013(Xem: 9488)
Các vị giới tử, hôm nay quý vị đến đây để lãnh đạo giáo pháp của Phật. Đó là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng. Nhờ sự thọ giới mà chúng ta trở thành một Phật tử chân chính, lợi mình, lợi người, lợi tất cả chúng sinh, và làm cho Phật giáo miên trường giữa thế gian.
28/03/2013(Xem: 1772)
A Di Đà tất cả pháp - Tất cả pháp A Di Đà - Chẳng quản trời cao đất thấp - Búng tay, cõi nước bày ra Tặng Trần Nhân Tông hoàng đế - Thuở nhỏ đâu từng biết chúa Xuân - Cứ theo xác pháo chạy tung tăng - Chúa Xuân nay đã về ngự trị - Pháo cuối làng xa nổ đì đùng
21/01/2013(Xem: 12629)
Theo nguyên tắc chung, tôi nghĩ rằng tôn giáo của cha mẹ mình là tôn giáo thích nghi nhất cho mỗi người. Vả lại thật cũng không tốt nếu chạy theo một tín ngưỡng nào đó rồi sau này lại từ bỏ. Ngày nay, nhiều người rất quan tâm đến đời sống tinh thần mà đặc biệt nhất là Phật giáo, nhưng thường thì họ không suy xét cẩn thận để ý thức mình đang dấn thân vào một lãnh vực tinh thần có những đặc tính như thế nào.
20/01/2013(Xem: 9110)
An-ban thiền được thành lập trên nền tảng là kinh An-ban Thủ Ý và kinh Ấm Trì Nhập. Ngài An Thế Cao dịch có kinh An-ban Thủ Ý, Ấm Trì Nhập chuyên nói về thiền định; thành phương pháp tu tập thiền định đầu tiên của thời Hán, Ngụy và Tấn. Kinh này nói về tu thiền sổ tức, ngoài ra cũng bao gồm các pháp thiền khác, nhưng quan trọng nhất là điều hòa hơi thở.
18/01/2013(Xem: 16848)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan niệm về tính Không – một nội dung quan trọng của kinh Kim Cương. Tính Không (Sùnyatà) là một khái niệm khá trừu tượng: vừa thừa nhận có sự hiện hữu, sự “phồng lên” (ở hình thức bên ngoài) của một thực thể, vừa chỉ ra tính trống rỗng (ở bên trong) của thực thể. Vì vậy, tính Không không phải là khái niệm chỉ tình trạng rỗng, không có gì, mà có nghĩa mọi hiện hữu đều không có “tự ngã”, không có một thực thể cố định.
07/12/2012(Xem: 6870)
Mắt mở nửa chừng, hãy dịu dàng cảm nhận từng hơi thở vào và ra. Và cảm nhận rằng toàn thân bạn đang dịu dàng thở.
30/10/2012(Xem: 5675)
Một hôm, nhạc sĩ Dương Thụ mời tôi đến Cà phê Thứ 7 của anh trò chuyện một bữa cho vui. Được thôi. Tôi vẫn thỉnh thoảng đến chỗ anh để uống cà phê và nghe chuyện trò mà. Đề tài gì? Thiền và sức khỏe. Vấn đề đang rất được giới trí thức quan tâm. Cănphòng nhỏ xíu, nhưng trang nhã, ấm cúng. Một chỗ chơi nhạc thính phòng,họp mặt bạn bè kiểu salon thế kỷ 18- chỉ thiếu một nữ bá tước- để chuyện trò thân mật, cách biệt với ồn ào nhộn nhịp ngoài kia.
29/10/2012(Xem: 6321)
Không có stress có lẽ con người cũng không thể tồn tại. Thế nhưng, vượt ngưỡng đến một mức nào đó thì con người cũng…không thể tồn tại, bởi chính stress gây ra nhiều thứ bệnh về thể chất và tâm thần, nên rất cần biết cách “xả” stress trong cuộc sống đầy căng thẳng, âu lo hiện nay.
24/10/2012(Xem: 8333)
Hiện tại chúng ta đang sở hữu thân người quý giá và đã gặp được giáo lý Phật Đà. Nhờ sự gia trì và lòng từ ái của chư đạo sư, chúng ta có thể thọ nhận, nghiên cứu và thực hành giáo pháp.
03/10/2012(Xem: 7977)
Kết quả của bất cứ hành động nào đều tùy thuộc vào động cơ của đương sự. Cùng một hành động có thể đưa đến kết quả khác nhau, tùy theo đương sự có phiền não hay cảm xúc tích cực trong tâm. Thậm chí khi có cùng một cảm xúc chung chung, thí dụ như lòng bi mẫn thúc đẩy một hành động, các yếu tố tình cảm và tinh thần hỗ trợ cảm xúc ấy cũng tác động lên kết quả.