Thiền với vũ điệu Chăm.

22/04/201319:41(Xem: 6223)
Thiền với vũ điệu Chăm.

THIỀN VỚI VŨ ĐẠO CHĂM

Thông Thanh Khánh

---o0o---

Nếu có dịp tiếp xúc với văn hoá Chăm thì bất cứ góc độ nào, ta điều bắt gặp được nét nghệ thuật truyền thống đặc sắc của vũ đạo. Có thể nó, nghệ thuật truyền thống được thể hiện một cách đầy đủ nhưng tình cảm cũng như quan niệm thẩm mỹ của cộng đồng vốn chịu nhiều chi phối của nền văn hoá Ấn Độ. Vũ đạo ở đây có một sức hút và chi phối một cách tích cực trong cuộc sống tinh thần, một sức sống mãnh liệt của cộng đồng vốn đã được ăn sâu vào tâm hồn của mỗi con người ngay khi còn tấm bé. Đề cập đến Vũ đạo, các sách, ở các thế kỷIV như An Nam Chi Lược, thế kỷ XV như Đại Việt Sử Ký, thế kỷ XIX như Giám Khâm Định Việc Sử Thông Giám Cương Mục, đã có những ghi chép hết sức quan trọng. Vũ đạo ở đây còn nâng lên thành một nghệ thuật hàng đầu trong cuộc sống tinh thần, tôn giáo – một khả năng truyền tải tín hiệu của cái đẹp đến khắp tất cả mọi người, làm say đắm biết bao tâm hồn yêu mến nghệ thuật. Lại nữa,ta hãy để tâm hồn thật lắng trong mỗi lần thưởng thức các động tác trong Vũ đạo, ta sẽ bắt gặp một hơi thở thiền đang được các nghệ sĩ Vũ đạo lay chuyển từ đôi bàn tay tài hoa biến hoá thành những động tác đặc biệt. Thật vậy, nếu như trà đạo là sự giản dị mang tính sơ khai, nghệ thuật bắn cung, đấu kiếm của võ sĩ đạo đòi hỏi tính nguyên tắc, tập trung cao trong mõi động tác, được phát huy phổ biến ở Nhật Bản, thì với Vũ đạo Chăm, những động tác luân chuyển, các tư thế trong các bài vũ là mức công án tối càn thiết, giúp cho những người đâng thưởng thức bước vào chiều sâu của sự suy tưởng. Vũ đạo và âm nhạc là cặp song sinh không thể tách rời nhau, âm nhạc đưa tâm hồn tha nhân bước vào sự tìm kiếm thực thụ… Tiếng kèn Saranai hướng dẫn, trống ghi – năng thúc gijuc, dù bận bịu lo toan đến đâu đi nữa, mỗi chúng ta đều say mê nhập cuộc trong sự tĩnh lặng !

Ta hãy quan sát nghệ thuật điêu khắc tượng Vũ nữ Trà Kiệu ở giai đoạn thế kỷ XIV - XVII, và tượng Bồ Tát (Avalokitesvara) ở thế kỷ XV để thấy rõ hơn điều đó. Với quần thể tượng Vũ nữ Trà Kiệu được các nghệ sĩ Chăm thổi vào những luồng tư tưởng, mà âm hưởng của nóa vẫn là sự tìm ẩn của dấu ấn thiền. Chẳng hạn với tư thế đứng ở đay, dáng ddwsnfgs của vũ nữ thgwowfng là dạng nghiêng, chân tạo thành hình lá nhĩ, bàn chân trái đưa cao, các ngón chân chụm lại hướng về phía trước tạo thành một góc độ cân đối hoàn chỉnh. Quần thể tượng Bồ Tát ở đây, tiêu biểu là tượng Bồ Tát được tìm thấy ở Phan Thiết, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh mang ký hiệu BTLS.591. Tượng được kết cấu theo thế đứng nghiêng, chân phải đưa về phía trước, chân trái đứng thế thẳng, nghiêng mình theo cánh tay trái, lòng bàn tay cầm vòng, tay phải từ vai đến khuỷu tay buông thẳng, từ khuỷu tay đến cổ tay đưa lên, lòng bàn tay cầm hoa sen. Với khuôn mặt biểu thị là Bồ Tát đang chìm đắm trong suy tưởng. Với tư thế này vẫn không thoát ra được phong cách tượng vũ nữ Trà Kiệu. Tới đây, ta có thể cho thất rằng âm hưởng của nghệ thuật vũ điệu đã có một sức hút mãnh liệt và dường như thấm sâu vào trong tư tưởng của nghệ sĩ Chămpa lúc đương thời, tư tưởng Phật giáo Đại thừa được xem như là một chất xúc tác mạnh mẽ, góp phần vào sự kiến tạo nên một nghệ thuật vũ đạo đặc sắc, qua đó chúng ta còn tìm thấy nét phảng phất của một tinh thần Duy ma độc đáo đang tìm ẩn. Vũ đạo Campuchia của người Khmer ngược lại, mang sắc thái sâu đậm của nghệ thuật Riêm Kê, một dị bản của trường ca Ramayana thiên về sự mô tả tính cách nhân vật, cầu kỳ trong các động tác vũ và đòi hỏi sự ppối cảnh cao. Ngược lại với Vũ đạo Chăm, một nét tương đồng gần như Trà đạo là tuy xuất phát từ tính cách cộng đồng qua âm hưởng nghệ thuật trường ca Ramayana của Ấn Độ, nghệ sĩ Chăm qua tư tưởng phật giáo Đ ại thừa, đã loại bỏ hoàn toàn những vướng chấp mà ta thường thấy hầu như ở các nghệ thuật vũ đạo Đông Nam Á. Chỉ bằng các động tác bình thường nhất của người Vũ đạo với một không gian đơn sơ nhất, thậm chí như đố chỉ là một không gian trống rỗng nghèo nàn, mà Vũ đạo Chăm có thể lay chuyển tâm hồn tha nhân tìm đến một sự thăng hoa thực thụ trong bản thể “ chơn như” của mỗi hành giả đang bước theo con đường thiền định.

---o0o--- Trình bày: Nhị Tường
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2014(Xem: 8897)
Thiền quán (Vipassana) chính xác nghĩa là gì ? Hầu như bất cứ sách nào viết về Thiền tập Phật giáo thời kỳ sơ khai cũng nói với bạn rằng Đức Phật giảng dạy hai kiểu thiền tập: Thiền chỉ (samatha) và Thiền quán (vipassana). Thiền chỉ ( Samatha), nghĩa là định tĩnh, được xem là một phương pháp nuôi dưỡng những trạng thái hành thiền thâm sâu mạnh mẽ gọi là nhập định ( Jhana). Thiền quán (Vipassana) - nghĩa đen là “ thấy rõ ”( minh sát), nhưng thường vẫn được phiên dịch là Thiền quán – được xem là một phương pháp sử dụng một
11/02/2014(Xem: 9904)
Pháp là Pháp môn, Chánh pháp của Phật. Bảo nói sơ lược có sáu nghĩa: Hiếm có, Thanh tịnh, Quý giá, Đẹp đẽ rực rỡ, Rất tốt, Thường chẳng đổi. Đàn trong chữ Tất Đàn nghĩa là bố thí rộng khắp. Pháp Bảo Đàn Kinh là đem kinh pháp hiếm có, quý báu, thanh tịnh, thường hằng chẳng biến đổi mà bố thí rộng khắp thế gian, giống như cơn mưa đúng lúc đúng thời thấm nhuần lợi ích khắp muôn loài, không đâu chẳng được mưa pháp rưới mát.
10/02/2014(Xem: 16954)
Cảnh sát thường phục bao phủ chung quanh khách sạn sang trọng ở Delhi, điện thoại di động kêu răng rắc trong tay. Sau việc kiểm soát an ninh thường lệ, chúng tôi được dẫn vào trong một phòng ngoài và được lịch sự yêu cầu chờ đợi
08/02/2014(Xem: 11117)
Một số bài gần đây, tôi đã trình bày sự hiệu dụng của Thiền trong việc chuyển hóa xã hội, chuyển hóa trường học, sắc đẹp và bệnh viện. Nay chúng ta thử tìm hiểu ích lợi của Thiền trong quân ngũ. Phải chăng Thiền có thể giúp ích cho những người lính trước lúc ra trận và sau những ngày hậu chiến?
21/01/2014(Xem: 9324)
Những ai mới bước chân vào cửa Thiền tông đôi khi thường bỡ ngỡ vì thấy pháp tu này có nhiều điểm có vẻ khác biệt so với các tông phái khác trong đạo Phật. Để giúp cho những người muốn tìm hiểu Thiền tông so với kinh điển có gì khác biệt nên cần đem so sánh pháp tu của Thiền tông với các lời Phật dạy ghi trong kinh điển, để thấy rõ các tổ đã y cứ vào kinh điển để thấu nghĩa lời Phật dạy mà thấy rõ con đường tu hành để đạt được mục đích tối cao của đạo Phật là đến chỗ giác ngộ.
12/01/2014(Xem: 23566)
Ngày nay từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, từ châu Mỹ La tinh đến Phi châu…, có vô số trường đã và đang dạy thiền cho học sinh từ các lớp Mầm non. Nhiều thí nghiệm của các chuyên gia, của các trường và kết quả như thế nào về việc đem thiền vào trường học, mời quý độc giả tìm hiểu qua bài viết nầy.
20/12/2013(Xem: 51862)
THIỀN, được định nghĩa, là sự tập-trung Tâm, chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Tôi chia THIỀN làm hai loại, Thiền giác ngộ (Meditation for Enlightenment) và Thiền sức khỏe (Meditation for Health). Tập sách nầy chỉ bàn về Thiền sức khỏe mà thôi.
18/12/2013(Xem: 18022)
Dân giàu nước mạnh xã hội văn minh phú cường khó có được, nếu người dân có nhiều bệnh tật, ngân sách chi tiêu y tế quá cao, đội ngũ sản xuất ốm yếu, học sinh sinh viên gầy, trí thông minh chưa đạt, đạo đức xã hội xuống cấp. Mà thiền, theo sự nghiên cứu của các khoa học gia và y giới quốc tế trong đó có người Việt chúng ta đều xác nhận, thiền có khả năng giúp cải tiến phần lớn các bất cập nêu trên. Đó là trọng tâm của bài viết gần đây “Thiền và canh tân đất nước”.
18/12/2013(Xem: 27583)
Nhân loại càng văn minh, thì con người càng bị cuốn hút vào các guồng máy do chính mình tạo ra. Từ đó, những khủng hoảng nầy chồng chất lên những khủng hoảng khác, tạo đủ thứ bệnh, và nhiều trường hợp, số phận, đành giao cho tử thần quyết định.
17/12/2013(Xem: 19849)
Hãy nhớ rằng không phải chúng ta đang cố gắng Ðể Trở Thành một ông thánh hay một cao nhân nào cả. Chúng ta cũng không nổ lực Ðể Tống Khứ một ác pháp nào hết. Hãy sống hồn nhiên và thoải mái. Cảnh giới nội tâm của chúng ta Là Như Vậy. Nó có thể là bất tịnh hay trong sáng và đó là một cặp hành trạng đối đãi nhau của ý thức. Thấy rõ Chúng như là Chúng, thấy rõ Chúng luôn vô thường, vô ngã thì đó chính là trí tuệ vậy. Trong khi đó, bằng một ý thức ngã chấp, chúng ta cố gắng mong mỏi "Tôi sẽ phát triển những gì thanh tịnh, tống khứ những gì không thanh tịnh " thì lập tức cái không thanh tịnh sẽ xuất hiện và kềm hãm chúng ta. Chúng ta lại vấp vào khối đá thất vọng trên đường đi của mình, thế là tiếp tục đau khổ. Hãy cẩn trọng với hai tháng cấm túc này. Vô minh luôn sẵn sàng khiến cho chúng ta tự chuốc lấy những khổ lụy.