Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Thử Tìm Hiểu Về Khái Niệm “Thiên Chúa” Và “Phật Tánh” Theo Triết Lý Đông Tây

16/08/201201:41(Xem: 4873)
Thử Tìm Hiểu Về Khái Niệm “Thiên Chúa” Và “Phật Tánh” Theo Triết Lý Đông Tây
THỬ TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM
“THIÊN CHÚA” VÀ “PHẬT TÁNH”
THEO TRIẾT LÝ ĐÔNG TÂY
Thích nữ Tịnh Quang

Một số người theo thuyết Nhất thần giáo thành lập niềm tin vào "Thiên chúa" trong nhiều Tôn giáo. Nhiều người tự cho Tôn giáo mình là Hữu thần-Bất khả tri (Agnostic), và những người khác vui vẻ tự nhận mình là Vô thần (Atheist). Một vài giáo phái Bất khả tri luận cũng là Phật tử, và một số họ tin vào "những tầng trời" và "những cõi địa ngục". Tuy nhiên những Phật tử này tránh từ “G" (God) trong tất cả tình huống. Vậy thì Phật tử theo chủ thuyết Bất khả tri luận có thể chấp nhận “Thiên chúa” không?

Trên lập trường Bất khả tri luận, Phật giáo đã chấp nhận có sự tồn tại của “Thiên chúa” trong nhiều kinh điển, nhưng không phải là là Đấng duy nhất mà gồm có nhiều “Thiên chúa” cai trị trong các cõi trời, và cũng chịu sự chi phối của qui luật nhân quả luân hồi…nhưng người bình thường không thể thấy biết được.

Một bản kinh linh thiêng của Phật giáo được gọi là Bát Nhã Tâm Kinh; chúng ta cũng có thể gọi nó là kinh Thánh vì nó vốn hạn chế ngôn ngữ tầm thường của con người bằng những loạt phủ định. Tuy nhiên, để không bị nhầm lẫn giữa ngữ và nghĩa, kinh điển Phật giáo thường xác nhận rằng “nhất thiết Tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ” nhằm nhắc nhở chúng ta "đừng nhầm lẫn ngón tay và mặt trăng". Điều này có nghĩa rằng bất kể những gì được nói đến nhằm giúp con người nhận ra phương hướng của sự hiểu biết, không nên lạm dụng ngôn ngữ như là chân lý tối hậu.

Phạm trù về “Thiên chúa” theo Phật giáo cũng không thể được nói đến, vì nó chỉ là khái niệm. Khái niệm đã hình thành nên sự tồn tại và không tồn tại của "Thiên chúa". Thật vậy, hàng ngàn cuốn sách đã được viết để hỗ trợ và phản đối sự tồn tại về khái niệm “Thiên chúa”.

Nhiều người đã lớn lên trong một niềm tin nhất định và được giáo dục về một định nghĩa có thể chấp nhận được sự hiện hữu của “Thiên chúa”, thường dựa trên kinh thánh của họ hoặc những câu chuyện thần thoại đặc biệt xuyên qua Tôn giáo của họ. Đây không phải là một sự hiểu biết giá trị bởi vì nó không dựa trên kinh nghiệm cá nhân mà với những gì người khác đã nói. "Mẹ tôi nói với tôi rằng Thiên chúa là tác giả của vũ trụ, và rằng ông ta sống ở trên thiên đường… và tôi tin rằng những gì bà ấy kể." Hoặc “Bố tôi nói có ông Bụt hiện ra với ngàn phép mầu… và tôi tin lời bố là có thật.”

Tất cả các tôn giáo, và tất cả các truyền thống tâm linh dựa trên một lý thuyết phổ biến nhưng không thể là có một điều gì đó đáng chú ý xảy ra phía sau hoặc phía trên các cấp độ của ý thức con người. Có một số nguyên tắc hay "phạm trù" mà không phải là sự thực làm nền tảng cho toàn thể hoặc vĩnh cửu được. “Phạm trù” không phải là một chân lý bất biến đã được dán nhãn là Thiên chúa, Brahma, Vishnu, Krishna, SOF Ein, Đức Giê-hô-va, Trời, The Way, Đấng toàn năng, Hoàn vũ, ý thức đồng thể v.v… Các nhãn hiệu này đã tạo ra tất cả các giáo phái và sự rối rắm bên trong và giữa tất cả các tôn giáo xuyên qua thời gian.

Một số truyền thống tôn giáo cho rằng Thiên chúa là một nhân cách thực tế, đáp ứng và tương tác với con người. Trong truyền thống Do Thái-Kitô, Thiên chúa được xem như là tác giả của vũ trụ và tất cả những gì tồn tại trong nó. Plato khẳng định rằng những điều tốt hoặc xấu bởi vì Thiên chúa muốn như vậy, chứ không phải là vì họ có bất kỳ sở hữu tốt đẹp hoặc xấu xa của riêng mình. Lập trường này giả định rằng Thiên chúa có hình thái, và tác ý. Một số truyền thống Tôn giáo thờ Thiên chúa khác thì cho rằng Thiên chúa như là một loại lực lượng tác động trong vũ trụ, hơn là một con người tồn tại trong vũ trụ.

Có phải niềm tin Thiên chúa làm cho con người hành động về mặt đạo đức thay vì vô đạo đức? Nếu không có Thiên chúa, mọi người sẽ hành xử khác nhau? Có phải điều mà người ta đòi hỏi là một Thiên chúa thực tế, chứ không phải là ý tưởng về Thiên chúa để cho con người hành động có đạo đức? Trong nhiều truyền thống Tôn giáo, Kitô giáo, đức tin vào Thiên chúa là để buộc các tín đồ hành động phù hợp với những gì họ cảm nhận được mong muốn của mình. Vì vậy, trong các Tôn giáo như Kitô giáo có thể không có nhu cầu đối với đức Chúa trời là thật thể, vì đức tin là động lực cho các Kitô hữu, chứ không phải là bằng chứng khoa học.

Thiên chúa có nghĩa là "đấng sáng tạo"? Hoặc Thiên chúa có thể là giả thuyết và lý tưởng? Đối với hầu hết những người sử dụng từ "Thiên chúa", Thiên chúa là tác giả của vũ trụ và một thực thể thực sự là riêng biệt và lớn hơn tất cả mọi loài. Tuy nhiên, có những nhóm khác giả định rằng Thiên chúa là một lý tưởng, hoặc một lực lượng lý thuyết trật tự chứ không phải là một thực thể thực tại chính nó. Những nhóm này có thể có những cách khác nhau đề cập đến Thiên chúa, nhưng tận cùng lý thuyết thì không ai phủ nhận rằng "Thiên chúa" là những gì từ suy diễn.

Theo Rene Descartes, thậm chí có một ý tưởng về Thiên chúa là đã chứng minh sự tồn tại của Thiên chúa, nhưng điều này là không phải là sự chứng minh thực tế, đó là một sai lầm ảo tưởng đen hoặc trắng. Một số người lập luận rằng nếu chúng ta có bằng chứng khoa học vật lý của Thiên chúa thì chúng ta sẽ không còn có nhu cầu cho đức tin vào Thiên chúa. Thật vậy, bằng chứng cho hầu hết những người hoài nghi có nghĩa là bằng chứng khoa học.

Nhiều Triết gia qua các thời đại đã cung cấp những gì họ gọi là "bằng chứng" của sự hiện hữu của Thiên chúa, nhưng những bằng chứng này thường đun sôi niềm tin và hệ thống lý luận giả tưởng một cách hợp lý hơn là đối với khoa học. Một số các Triết gia khác đã cung cấp sự bác bỏ thuyết phục của các "bằng chứng" được cung cấp bởi các nhà Triết học trước đó. Ví dụ, Immanuel Kant đã lập luận mạnh mẽ chống lại các bằng chứng Bản thể học, khi ông đã cho thấy rằng sự "tồn tại" không phải là một đặc tính của một cái gì đó. Thực tế, không có bằng chứng vật lý có thể minh chứng được sự tồn tại của Thiên chúa đối với hiện tại. Con người không thể nhìn Chúa trời dưới kính hiển vi hoặc thông qua một kính thiên văn, con người không thể giao tiếp với Thiên chúa trong một cuộc đối thoại hai chiều có ý nghĩa cách ly mà chúng ta có thể giao tiếp với nhau, và con người không thể chạm vào Thiên chúa với bất cứ giác quan khác như chúng ta bình thường có thể chạm vào với những điều đã được chứng minh để tồn tại.

Vậy thì Thiên chúa có thực sự tồn tại không? Con người đã có khái niệm về Thiên chúa. Và khái niệm của con người là đi tìm một cái gì đó cao siêu hơn loài người. Tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc sống, người ta tìm kiếm một lý do tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì cả. Những sự tìm kiếm này đã khiến hầu hết các nền văn hóa hình thành các ý tưởng hoặc khái niệm về một nguyên tắc bao quát và chỉ đạo, bao gồm việc thành lập và hướng dẫn vũ trụ.

Với lập luận Bản thể học của Anselm, cho rằng thậm chí nếu chúng ta đặt câu hỏi về Thiên chúa là chúng ta đã tin vào một Thiên chúa. Lập luận này hết sức hàm hồ. Thực ra chúng ta chỉ đơn giản là có thể tin rằng mọi người có khái niệm về một Thiên chúa, khái niệm và Thiên chúa thực tế là hai việc rất khác nhau. Cách lý luận của Anselm giống như nói rằng kể từ khi chúng ta đã có ý tưởng trở lùi đầu thế kỷ hai mươi và con người có màu xanh lá cây và sống trên sao hỏa, họ phải có thực. Người ta cũng đã chứng minh không có Santa Claus và không có Easter Bunny, nhưng chúng ta vẫn có những khái niệm về họ. Vì vậy, lập luận Bản thể học của Anselm không thành công.

Triết gia Yin De Sakya cho rằng “nếu chúng ta có bằng chứng vật lý trong các hình thức của mẫu liệu từ cơ thể của Thượng đế, sau đó chúng ta sẽ có hiệu quả phá hủy khái niệm trước đây của chúng ta về những gì Thiên chúa. Không nên cho rằng Thiên chúa phải lớn hơn hiện tượng lớn nhất mà chúng ta có thể khái niệm, và điều đó có nghĩa là chúng ta không thể diễn đạt được một thí nghiệm vật lý của Thiên chúa như thế”.

Nếu Thiên chúa tồn tại một nơi nào đó "bên ngoài" thế giới, thì Đấng đó chắc chắn là quá xa để chúng ta có thể tiếp cận hoặc nhìn thấy được. Các giới hạn tốc độ vũ trụ luôn ngăn cản chúng ta rời khỏi dãy Ngân hà của chúng ta để một mình vươn tới hàng tỷ thiên hà khác ngoài vũ trụ này. Thậm chí nếu chúng ta có thể, chúng ta sẽ tìm kiếm Thiên chúa nơi đâu? Ông ta sống ở giữa chúng ta? chỗ nào là ở giữa ? Thật vậy, bằng chứng vật lý của Thiên chúa là một nhu cầu không thể.

Vì vậy những người thực sự tin vào Thiên chúa họ không cần bằng chứng. Thực tế họ không cần bằng chứng, họ chỉ tin! Những người tin vào Thiên chúa sẽ không chấp nhận ngay cả bằng chứng khoa học về sự không tồn tại của ông ta.

Đó là khái niệm về Thiên chúa, mà vấn đề, không phải là sự hiện hữu thực tế của Thiên chúa. Mọi người muốn kết nối với một cái gì đó lớn hơn chính họ và không thể lý luận, điều này đã tạo ra một ý tưởng của Thiên chúa. Nó đã được hình thành từ tất cả các nền văn hóa với khả năng ngoài tư duy trong lịch sử nhân loại.

Aristotle nói rằng Thượng đế là "unmoved mover” (động cơ bất động), nhờ đó ông ta mang ý nghĩa phấn đấu cho sự thay đổi và cải tiến với các trường hợp bên ngoài của Thượng đế. Vì vậy, chúng ta có thể giả định rằng Aristotle cảm thấy rằng có một sinh vật tồn tại trong một trạng thái hoàn hảo, ở trên cao mà không có điều gì khác hơn có thể tồn tại được, sẽ được gọi là Thượng đế. Thượng đế là điều lớn nhất, trong đó không có gì lớn hơn có thể được khái niệm.

Aristotle cho rằng trái đất là những gì ông gọi là "mortal sphere” (tử cầu), có nghĩa là những thứ trên trái đất đang ở trong một trạng thái thay đổi liên tục; muôn vật sinh và chết. Những điều trên trái đất đang ở trong một trạng thái chuyển biến với sự nỗ lực không ngừng để trở nên hoàn hảo và thần thánh. Aristotle khẳng định rằng "bản chất Thượng đế là hành động thuần túy và hiện thực hoàn hảo, những sự thay đổi không ngừng trong thế giới tự nhiên".

Aristotle đã đưa ra học thuyết rằng con người có 3 linh hồn, và chúng tạo thành một sự thống nhất. "Đầu tiên là linh hồn thực vật, các nguồn nuôi dưỡng và sinh sản; thứ hai, linh hồn động vật, là cơ sở của cảm giác cũng như khả năng di chuyển; linh hồn thứ ba là linh hồn thông minh hoặc thần hồn. Theo Aristotle, linh hồn thứ ba mới có thể biết được bản chất của Thượng đế.

Thomas Aquinas thì khẳng định rằng sự tồn tại của Thiên chúa không thể được xác định bằng cách chỉ sử dụng lập luận bản thể học của Anselm, nhưng Aquinas đã đưa ra cách khác để chứng minh sự tồn tại của Thiên chúa.

1.Động lực đầu tiên - sự vật tự nhiên chuyển động và chúng không tự mình chuyển động, do đó Thiên chúa đã bắt đầu tạo chúng nó thành chuyển động.

2. Không có gì có thể tự nó tạo ra, vì vậy phải có một "nguyên nhân đầu tiên" và điều này đã được làm bởi Thiên chúa.

3. "Phải có tồn tại một cái gì đó thiết yếu" Aquinas nói rằng hầu hết mọi vật - trong bất cứ điều gì thực tế bạn có thể chạm vào, nhìn thấy, ngửi, nếm, cảm giác, hoặc nghe thấy không cần phải tồn tại. Vì vậy, ông ta nói rằng phải chăng thời gian khi không có sự vật tồn tại, và như vậy phải có một cái gì đó tồn tại là điều thiết yếu. Đó sẽ là Thiên chúa.

4. "Tất cả những sự vật tự nhiên tiến hành trong điều tốt, sự thật, cao quý, và hoàn hảo khác", vì vậy phải có một cái gì đó mà có thể được xác định là nguồn gốc của những hoàn hảo. Đó là Thiên chúa.

5. "Những điều tự nhiên tác động vì con người hoặc một mục đích" là cách mà Aquinas nói với triết gia Friedrich Nietzsche khi ông này cảm thấy rằng khái niệm về Thiên chúa là không còn có thể tin và hợp lý đối với người thông minh. Ý kiến của Nietzsche ​​cho rằng không có Thiên chúa, nhưng đa số người không hiểu thực tế này, để thấy rằng nó không phải là thực tại vật lý của vấn đề Thiên chúa, Aquinas cho rằng ý tưởng hay khái niệm của Thiên chúa mới là quan trọng.

Rene Descartes thì luôn luôn chắc chắn trong niềm tin của mình vào sự tồn tại của Thiên chúa. Có lẽ câu nói nổi tiếng mà mọi người biết từ Descartes là sự khẳng định của ông ta: "Tôi suy nghĩ, do đó, tôi là" - cogito, ergo sum. Descartes không thể thách thức sự tồn tại của mình vì rằng điều này sẽ yêu cầu ông ta phải suy nghĩ, và tư duy có nghĩa là ông ta tồn tại. Descartes đã đi trên hệ thống lý luận để chứng minh của ông về sự hiện hữu của Thiên chúa:

Bằng chứng đầu tiên của Descartes: Kể từ khi tôi có một ý tưởng về một Thiên chúa, đấng hoàn hảo, thì phải là một nguyên nhân cho ý tưởng này - nguyên nhân chỉ có thể là Thiên chúa chính mình.

Bằng chứng thứ hai của Descartes: Tôi tồn tại, và điều duy nhất mà có thể đã tạo ra cho tôi sự tồn tại là Chúa trời.

Bằng chứng thứ ba của Descartes: Tôi cảm nhận được Thiên Chúa như là có sự hoàn hảo. Chỉ những điều đó tồn tại có thể có sự hoàn hảo. Do đó Thiên chúa hiện hữu.

Như thế đối với tất cả những nỗ lực mà các Triết gia Hữu thần đã đưa vào chứng minh sự hiện hữu của Thiên chúa, họ đã không chứng minh được lập trường cho Thiên chúa với sự tồn tại thực sự. Nhiều người có nhu cầu cho các khái niệm về Thiên chúa, nhưng không phải cho một Thiên chúa hiện hữu thực thể.

Nói cách khác, lập luận có thể được thể hiện rằng sự tồn tại thực tế trong thời gian và không gian vật lý của một cái gì đó được gọi là Thiên chúa không phải là việc quan trọng. Thay vào đó, điều quan trọng là những người chấp nhận một định nghĩa nhất định về Thiên chúa hiến thân để làm những gì mà họ nương cậy tin tưởng trong sự ước nguyện của mình.

Những nhà lý luận khác cho rằng, có thể phát sinh khái niệm về Thiên chúa là đủ, và rằng cái biết có hay không có một Thiên chúa thực tế là không thích hợp. Miễn là người ta tin rằng có đức Chúa trời, sau đó con người sẽ hành động phù hợp. Vì vậy, sự tồn tại của Thiên chúa có thể không quan trọng như niềm tin vào Thiên chúa! Cũng như người ta tin vào sự huyền nhiệm của bà chúa Sứ cho dù có hiện thực hay không, họ chỉ tin là đủ. Vâng, đó là lý luận của các triết gia Bất khả tri luận, lập trường trên sự tồn tại của Thiên chúa.

Tôn giáo Đông phương có một khái niệm khác về Thiên chúa, đó là một nguyên tắc thống nhất chứ không phải là một con người, một “đấng” với nhân cách riêng biệt, nhưng đúng hơn là Triết lý hàm dung, phố quát. Ví dụ, Phật tử không sử dụng từ Thiên chúa, nhưng có một khái niệm về "Phật tính" hay "Pháp thân" có thể được coi là định nghĩa của họ về Thiên chúa mà mỗi chúng sinh đều vốn có. Phật tính là khả năng vốn có trong mỗi sự sống, là sự thật của thực tại và sự hiểu biết đối với vạn pháp trong vũ trụ. "Pháp thân" đôi khi được định nghĩa là bản chất làm nền tảng đằng sau tất cả thể tánh của vũ trụ - đó là những gì mà chư Phật và con người thực hiện được, nhưng nó cũng là điều kiện để tạo nên động vật, thực vật, khoáng chất, khái niệm, ý tưởng, và tất cả các hiện tượng khác. Nói cách khác “tâm” vốn điều động để phát sinh hiện tượng, “nhất thiết duy tâm tạo…”

Bản chất của “tâm” vốn là “không”, bởi “không” cho nên mới phát sinh “hiện tượng” (Trung Luận), đó là lý luận Bản thể rốt ráo của Phật giáo, hay nói theo cách của A.Einstein: “Một khi bạn có thể chấp nhận vũ trụ như là vật chất dản nở trong cái không, bạn có thể khoác lên nó những đường nét sọc vuông…dễ dàng.”

Tâm sáng tạo hay Thiên chúa sáng tạo cũng là những khái niệm, nhãn hiệu…của ngôn từ để làm cơ sở tư duy. Tuy nhiên, tư duy của triết học phương Đông thì xoay vào đấng sáng tạo của thế giới nội tại, bên trong tư tưởng. Tư duy của phương Tây thì hướng ra đấng sáng tạo ngoại tại, bên ngoài tư tưởng. Và càng lý giải, càng triết lý cao siêu con người càng rời xa nội tại vốn thanh tịnh và an bình, nói theo thuật ngữ của thiền “mở miệng thì liền mắc phải sai lầm” (ngôn ngữ đạo đoạn). Nhưng để xây dựng một thế giới hài hòa, những nhà tư tưởng hiện đại vẫn mong ước trong tương lai có một tôn giáo toàn cầu, chấm dứt sự tranh cãi đúng sai, thống nhất những khái niệm và các nhãn hiệu phù phiếm, để chỉ ra rằng mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, Thiên chúa ẩn tàng, Đấng sáng tạo hằng hữu của chính mình, không phải một Đấng nào đó ở trên các tầng trời cao chót vót, hoặc nơi tinh cầu xa xôi điều động và chi phối tâm ý và hành tung của tất cả mọi loài.



Tài liệu tham khảo:

The Critique of Pure Reasonby Immanuel Kant and J. M. D. (John Miller Dow) Meiklejohn (E-book)
by Various Authors, René Descartes, John Locke & Immanuel Kant (NY-2002)
The Philosophy of Aristotle (Mentor Series) Aristotle(Author), J. L. Creed(Translator), A. E. Wardman(Translator) (E-book).


Bài đọc thêm:
GIÊ-SU QUA CÁI NHÌN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ G.S. André Bareau (Người dịch: Lại Như Bằng)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/09/2010(Xem: 5520)
Vào những năm đầu Tây lịch, Phật giáo từ miền Đông bắc Ấn Độ truyền vào Trung Quốc, từ đó Phật giáo lại truyền vào bán đảo Hàn Quốc và Nhật Bổn. Ở những quốc gia này, Phật giáo đại thừa được quảng đại quần chúng tin theo và thọ trì. Như các tông phái Tịnh độ khác, Chân tông Tịnh độ cũng thuộc đại thừa Phật giáo. Giáo lý căn bản của Chân tông Tịnh độ cùng tương đồng với các giáo phái đại thừa khác như Thiền tông, Mật tông Tây Tạng là những tông phái được phổ biến thạnh hành ở Tây phương.
04/09/2010(Xem: 6482)
Tổ Long Thọ nói rằng cho một hệ thống nơi mà tính không là có thể, nó cũng có thể có chức năng, và vì chức năng là có thể, tính không cũng có thể. Vì thế khi chúng ta nói về thiên nhiên, căn bản thiết yếu của thiên nhiên là tính không. Tính không hay shunyata nghĩa là gì? Nó không là tính không của sự tồn tại (không đối với có) nhưng đúng hơn là tính không của chân lý (chân không) hay sự tồn tại độc lập, điều này nghĩa là những sự vật khác tồn tại bởi sự lệ thuộc trên những nhân tố khác.
03/09/2010(Xem: 6053)
Theo giáo nghĩa Đạo Phật, có một sự phụ thuộc lẫn nhau rất gần gũi giữa môi trường thiên nhiên và những chúng sinh sống với nó. Vài người bạn đã từng nói với tôi rằng, căn bản tự nhiên của con người là những gì bạo động, nhưng tôi đã nói với họ rằng tôi không đồng ý. Nếu chúng ta thẩm tra những thú vật khác nhau, thí dụ, những thú vật mà chính sự tồn tại của chúng tùy thuộc vào việc lấy đi mạng sống của những thú vật khác, như những con sư tử, beo, hay cọp, chúng ta học rằng căn bản tự nhiên của chúng cung cấp cho chúng với răng nanh và móng vuốt bén nhọn.
28/08/2010(Xem: 10403)
Viết về Thế Tôn, các nhà nghiên cứu Phật học thường đề cập đến Ngài như một đấng Giáo chủ đã tìm ra con đường giải thoát và chỉ rõ con đường ấy cho nhân loại, hoặc đề cập đến Ngài như một nhà đại tư tưởng, một nhà cách mạng xã hội, v.v... Nhưng có rất hiếm những luận văn, công trình đề cập đến Ngài như một nhà giáo dục tư tưởng, và giáo lý của Ngài như là một hệ thống tư tưởng giáo dục toàn diện và tiên tiến.
28/08/2010(Xem: 5044)
Nền giáo dục thiết lập trên nền tảng hiểu biết sự liên hệ giữa nhân duyên, nhân quả của cá nhân và cộng đồng không phải trong một thời gian mà mọi thời gian, và không phải trong một không gian mà mọi không gian là hết sức cần thiết cho đời sống hòa bình, an lạc và văn minh của chúng ta, khiến tự nó có khả năng vãn hồi trật tự và hoàn thiện cho xã hội của chúng ta ngày nay.
14/06/2010(Xem: 3951)
Đời sống quốc gia với hoàn cảnh địa lý và sự ảnh hưởng khí hậu thiên nhiên đã tạo cho Ấn Độ có một lịch sử khác với các quốc gia trên thế giới. Đó là một Ấn Độ có những rừng núi thâm u , tục gọi là Lục địa xanh (Pays blues) đã ảnh hưởng nhiều tới luồng tư tưởng nhân bản, tiến bộ và giải thoát sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Các nhà triết học, các luận sư và các luận thuyết trứ danh cũng đều xuất hiện tại xứ sở đầy huyền bí này
15/05/2010(Xem: 7077)
Người học Phật chúng taai cũng đều chứng nghiệm được rằng việc tu học tại xứ người quả thật không đơn giản. Trước tiên vì bối cảnh của quốc độ mình đang trú, sau cùng nhưng lại có ảnh hưởng lớn nhất là cuộc sống của bản thân và chính gia đình mình. Tuy nhiên theo tôi, chúng ta cứ nhìn hay là quán những khúc mắc đó như là một phương tiện trong ý nghĩa của tùy duyên bất biến để học, tu và hành Đạo. Ngoài ra chúng ta cũng đừng quên câu thứ 4 trong mười điều của Luận Bảo Vương Tam Muội có ghi rõ là: xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.
14/05/2010(Xem: 7850)
thế là lá thư tịnh hữu đã thiếu các bạn một kỳ rồi đó. Chúng ta hẳn biết rằng, sự hiện hữu và thành hoại của mọi vạn vật không hề ra ngoài lý nhân duyên và duyên khởi. Nên sự vắng một lần thư trên số báo Viên Giác kỳ trước cũng không ra khỏi phạm trù này vậy! Có; không vì không để mà có và không; không vì không có mà không. Mọi vật, mọi việc đều nằm trong vòng chi phối của nhân và duyên để mà có hay không, thành hay hoại. Đây cũng là tinh túy nội dung một câu chuyện mà ai trong chúng ta đã từng được nghe hoặc đọc rồi. Câu chuyện như sau: giai đoạn đầu thấy núi là núi, sông là sông; giai đoạn giữa thấy núi không là núi, sông không là sông; giai đoạn cuối là thấy núi vẫn là núi và sông cũng vẫn là sông! Theo tôi, ba giai đoạn trên có hiện hữu hay không cũng không ở ngoài nhận thức của chúng ta. Nhưng! Nếu không thấu triệt luật nhân duyên, lý duyên khởi thì mình không thể phá vỡ được những thành kiến, định kiến v.v... Cái mà trong nhà Phật gọi là chấp. Và cũng chính cái này là nhân tố qu
09/05/2010(Xem: 13874)
Có người nói: "Cuộc đời như giấc mộng", có người nói "Cuộc đời như tấn trò", có người nói "Cuộc đời như hạt sương"; cũng có người nói: "Đời là bể khổ", đời người như "khách qua đường", cuộc đời như "mây trôi"! Nếu như những ví von này xác đáng thì cuộc đời quả đáng buồn biết bao.
30/04/2010(Xem: 10405)
Đã khá lâu rồi, „Lá Thư Tịnh Hữu“ vắng bóng trên Viên Giác. Bắt đầu từ năm 2000, đến giờ sắp sang năm 2004, mà cũng chưa chấm dứt. Nhiều bạn hữu nói nhỏ, “không biết ông Thị Chơn Nghiệp Dọc này còn dài dài đến bao lâu nữa!”. Hôm kỷ niệm 25 năm thành lập chùa Viên Giác và báo Viên Giác, Thị Chơn (TC) tôi đảo một vòng trong khuôn viên của chùa để thăm các quầy phát hành bánh trái, nước uống và thức ăn chay. Chợt nghe một giọng Huế khá quen thuộc phát ra dưới mái lều che mưa nắng dựng nơi quầy phát hành của Sư Bà Như Tuấn:
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]