Triệt Ngộ Đại Sư

27/01/201110:45(Xem: 11650)
Triệt Ngộ Đại Sư

QUÊ HƯƠNG CỰC LẠC

Việt Dịch: HT Thích Thiền Tâm
Phật Học Viện Quốc Tế Xuất Bản

Triệt Ngộ Đại Sư

(Đại sư là vị Tổ thứ 12 trong Liên Tông, họ Mã, Húy Tế Tỉnh, người đất Phong Nhuận, 22 tuổi xuất gia, thông suốt cả thiền, giáo. Ban sơ, ngài chủ trì chùa Vạn Thọ ở Bắc Kinh, danh đồn khắp Nam, Bắc, hằng đề xướng pháp môn Tịnh Độ khuyên chúng tinh tu. Kế đó đại sư lại trụ trì chùa Giác Sanh, tiếng tăm cũng lừng lẫy như trước. Sau, ngài về ở non Hồng Loa, đại chúng qui hướng càng đông, bèn thành ra đạo tràng Tịnh Độ. Đời nhà Thanh, niên hiệu Gia Khánh thứ 15, vào mùa xuân, đại sư nói trước ngày về tây và bảo: “Thân huyễn không bền, đừng để một đời luống qua, mọi người nên cố gắng niệm Phật”. Qủa nhiên, tới ngày kỳ hẹn, đại sư thấy Phật đến tiếp dẫn, liền chánh niệm mà tọa hóa. Lúc ấy đại chúng nghe mùi hương thơm lạ ngào ngạt, khi trà tỳ được xá lợi hơn trăm hột).

Đại sư nói: “Thật vì sanh tử, phát lòng bồ đề, dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật”, mười sáu chữ này là cương tông của môn niệm Phật. Nếu không phát lòng chơn thiết vì việc sanh tử, thì tất cả lời khai thị đều là phù phiếm. Bởi tất cả sự khổ trong đời này không chi hơn việc sanh tử, chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, sống chết, chết sống, ra khỏi bào thai này kế vào bào thai kia, bỏ lớp da này lại mang lớp da khác, khổ não đã không kham, huống chi tự mình chưa thoát luân hồi, làm sao tránh khỏi đọa lạc? Ôi! Khi một niệm sai lầm, liền sa vào ác đạo, tam đồ dễ tới mà khó lui, địa ngục này dài mà khổ nặng! Cho nên đại chúng vãn đau đớn nghĩ vấn đề sanh tử, như chịu tang cha mẹ, như cứu lửa đốt đầu, gắng chuyên tinh tu tập.

Nhưng ta đã khổ vì sự sống chết mà cầu thoát ly, nên liên tưởng đến tất cả muôn loài cũng như vậy. Chúng sanh cùng ta đồng một bản thể, là cha mẹ của ta trong nhiều kiếp, là chư Phật đời vị lại, nếu chẳng phát tâm cứu độ, chỉ cầu giải thoát riêng mình, thì đối với tình có chỗ chưa an, với lý có điều sơ sót. Huống chi chẳng phát đại tâm thì ngoài không thể cảm thông với Phật, trong không thể khế hợp với tánh chơn, trên không thể tròn qủa bồ đề, dưới không thể độ khắp muôn loài. Như thế, làm sao báo bổ người ân nhiều kiếp, làm sao giải thích oan gia nhiều đời, làm sao thành tựu căn lành đã gieo trồng tư xưa, làm sao sám trừ tội nghiệp đã tạo ra về trước? Và như thế thì tu hành chỗ nào cũng gặp chướng duyên, dù có thành tựu cũng là qủa thấp, cho nên phải xưng tánh phát lòng bồ đề vậy.

Những đã phát đại tâm, phải tu đạt hạnh, mà trong tất cả hành môn, tìm phương pháp dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn, thì không chi hơn dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật. Nói chấp trì danh hiệu, tức là giữ chắc hiệu Phật nơi lòng không tạm quên. Nếu có một niệm gián đoạn hoặc một niệm xen tạp, thì không gọi là chấp trì. Giữ được một niệm nối nhau không xen không tạp, đó là chơn tinh tấn, tinh tấn mãi không thôi, sẽ lần vào cảnh nhất tâm bất loạn và viên thành tịnh nghiệp. Nhất tâm bất loạn là chỗ qui túc của tịnh nghiệp, là đại môn của Tịnh Đô, chưa vào môn này, tất chưa yên ổn, học giả há chẳng nên cố gắng ư?

Tâm đã hay tạo nghiệp thì cũng có thể chuyển nghiệp, và nghiệp đã do tâm tạo, tất cũng tùy theo tâm mà chuyển. Nếu tâm mình không chuyển được nghiệp, tức bị nghiệp trói buộc, nghiệp không chuyển theo tâm thì có thể buộc tâm. Nhưng dùng tâm thế nào mới chuyển được nghiệp? „y là giữ tâm hợp với đạo đức, hợp với Phật. Và nghiệp làm sao buộc được tâm? „y là để tâm y theo đường lối cũ, buông lung theo cảnh trần.

Tất cả cảnh giới hiện nay, tất cả qủa báo về sau, đều do nghiệp cảm, do tâm hiện. Vì do nghiệp cảm nên qủa báo sẽ đến đều do nhất định, bởi nghiệp buộc tâm. Vì do tâm hiện, nên qủa báo sẽ đến đều không nhất định bởi tâm chuyển được nghiệp. Như có người đương lúc nghiệp buộc được tâm, qủa báo sẽ đến theo chiều nhất định, mà bỗng phát tâm rộng, tu hạnh chân thật, thì tâm chuyển được nghiệp, cảnh sẽ đến tuy định mà thành bất định. Nếu người ấy nửa chừng bỗng thối lui đại tâm, thật hạnh kém sút, thì nghiệp trở lại buộc tâm, cảnh sẽ đến bất định mà định.

Nhưng nghiệp tạo ra từ trước, đành đã lỡ rồi, chỉ trông mong có phát đại tâm để biến chuyển, mà nắm giữ cơ quan ấy chính là ta chớ không ai khác. Nếu hôm nay ta phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc để mau chứng qủa, độ chúng sanh, giữ niệm hiệu Phật nối nhau không dứt, lâu ngày tâm sẽ hiệp với đạo, thì chuyển được qủa bảo Ta Bà thành Cực Lạc, đổi nhục thai thành liên thai, không bao lâu, chính mình sẽ là một bậc thượng thiện, tướng tốt trang nghiêm, an vui tự tại nơi cõi liên hoa thất bảo. Như ta tu hành nửa chừng bỗng lần lần biếng trễ thối lui, tất bị nghiệp lực mạnh mẽ từ kiếp trước sai sử, rồi vẫn y nhiên là một kẻ chịu chịu vô lượng sự thống khổ về thân tâm, ngạ qủy súc sanh vậy. Những ai có chí thoát ly, cầu về Tịnh Độ há không nên sợ hãi tỉnh ngộ, phát tâm phấn chấn tu hành ư?

Có tám điều cốt yếu, người tu tịnh nghiệp nên ghi nhớ:

Vì sự sanh tử, phát lòng bồ đề, đây là đường lối chung của người học đạo. Dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật, đây là chánh tông của môn Tịnh Độ.
Lấy sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện dụng công.
Lấy sự chiết phục phiền não hiện hạnh làm việc yếu tu tâm.
Lấy sự giữ chắc bốn trọng giới làm căn bản vào đạo.
Dùng các thứ khổ hạnh làm trợ duyên tu hành.
Lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ qui tức của môn Tịnh Độ.
Lấy các điềm lành làm chứng nghiệm cho sự vãng sanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/08/2025(Xem: 1947)
1/Nếu muốn tự tại thì bạn phải quét sạch ba tâm và bốn tướng. Ba tâm là tâm suy nghĩ về hiện tại, quá khứ và vị lai. Ba tâm thái này đều không có thực tại, nên gọi là bất khả đắc, không thể nắm giữ. 2/Vì sao ở địa vị thánh nhân thì mới có tự tại? Vì thánh nhân không có bốn tướng: không có quan niệm về cái tôi, quan niệm về người, quan niệm về chúng sinh, quan niệm về thọ mạng. Do đó họ đạt tới sự tự tại. 3/Vì sao mình mê muội, chẳng giác ngộ? Vì bị trúng độc tham sân si quá sức sâu đậm. Do vậy chẳng thể giác ngộ. 4/Thời đại chánh pháp: Ai cũng tu. Thời đại mạt Pháp: Không ai tu. Nếu bây giờ ai cũng tu thì thời mạt Pháp sẽ biến thành thời chánh pháp. 5/Định luật nhân quả là: khởi hoặc (tâm khởi vọng tưởng, si mê), đưa đến tạo nghiệp (thân ngữ ý phát ra hành động, lời nói, suy tư), kết cuộc là thọ báo (thân ngữ ý nhận chịu hậu quả của việc đã làm).
11/08/2025(Xem: 3089)
Ít nói một câu chuyện Nhiều niệm một câu Phật Đánh chết được vọng niệm Pháp thân người hiển lộ.
15/07/2025(Xem: 2156)
Kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Di Lặc đã từng dạy Thiện Tài rằng: “Bồ Đề tâm là hạt giống của hết thảy các Phật pháp. Bồ đề tâm là ruộng phước vì nuôi lớn cõi bạch tịnh. Bồ đề tâm là cõi đất lớn, vì nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ Đề tâm là tịnh thủy, vì rữa sạch tất cả cáu bợn phiền não”. Trong kinh Phật thường nhắc đến Bồ Đề tâm rất nhiều. Vậy chúng ta tìm hiểu đề tài phát Bồ Đề tâm là gì? Nguyên nhân phát khởi Bồ Đề tâm và lợi ích thực hành Bồ Đề tâm trong việc tu hành như thế nào?
23/06/2025(Xem: 4768)
Phật Bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong Trên trán phóng hào quang rực rỡ Chiếu soi sáu nẻo hôn mông Long Hoa hội lớn nguyện tương phùng Tiếp nối Pháp chánh tông Xin quy y thường trú Phật-đà-gia!
26/01/2025(Xem: 7897)
Nếu thế gian an lành hạnh phúc, lòng người không uẩn khúc đa đoan, đường đời luôn bằng phẳng trong ánh sáng bình minh đầy hoa và bướm, thì không có cảnh tượng thăng trầm, khổ tâm, đau đớn, xót xa. Thế gian này với hoa lá cỏ cây núi rừng sông biển, vạn vật thiên nhiên tự nó nào có phân biệt lớn nhỏ, thánh phàm, khổ vui, thăng trầm, vinh nhục? Đặc tánh thiên nhiên vĩnh viễn muôn đời thanh thản tuyệt nhiên không có lời than thở, hoa nở theo thời, lá rơi theo tiết, chim hót theo mùa, núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, núi sông ghềnh thác linh hoạt tự tại với không gian vô cùng và thời gian vô tận. Nhưng thấy núi sông hùng vĩ, sông uốn khúc lượn quanh, thác đổ oai hùng, bình minh hy vọng, hoàng hôn u buồn, tất cả những hiện tượng đó đều phát xuất từ tâm thức phân biệt của con người.
20/09/2024(Xem: 5760)
Đại sư Thiếu Khang họ Chu quê ở huyện Tấn Vân tỉnh Chiết Giang. Một hôm, mẹ ngài mơ thấy mình đi trên đỉnh Định Hồ, có Ngọc nữ trao cho bà một cành hoa sen xanh và nói: “Hoa sen xanh này biểu tượng cho Đại cát tường xin tặng cho bà. Bà sẽ sanh được quý tử, mong bà yêu thương giữ gìn nó”. Nghĩa là cành hoa sen này biểu tượng cho điều tốt lành lớn, nay trao tặng cho bà. Bà sẽ sanh được con trai tôn quý. Hy vọng bà chăm sóc con trai thật tốt.
30/08/2024(Xem: 3580)
Hệ thống giáo nghĩa Chân tông được kiến lập qua tác phẩm chủ yếu của Ngài Thân Loan (1173-1262) là Giáo Hành Tín Chứng (Đại Chánh Tạng tập 83). Các trứ tác sau này của Ngài chỉ là bổ sung và phát triển quan điểm này từ các phương diện khác. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu kết cấu toàn thể hệ thống giáo nghĩa Chân tông và các đặc điểm của nó.
30/08/2024(Xem: 4609)
Tại Diễn đàn Nghệ thuật Châu Á - Thái Bình Dương (Forum of Asian and Pacific Performing Art) năm 1996 ở Hyogo, Nhật Bản, những nhạc công Nhã nhạc Huế đã có các buổi giao lưu, cùng biểu diễn với Nhã nhạc Nhật Bản; đồng thời một số nhà nghiên cứu Nhã nhạc của hai nước cũng đã có dịp trao đổi về mối quan hệ giữa Nhã nhạc Á Đông (Gagakư Nhật Bản, Ahak Hàn Quốc, Yayue Trung Hoa và Nhã nhạc Việt Nam).
28/08/2024(Xem: 14096)
Đạo Phật giáo là nơi cứu khổ Độ chúng-sanh không bỏ một ai Lòng thương yêu khắp nhân-loài Không hề muốn thấy một ai khổ trần Đường chơn-chánh trên hơn tất cả Nẻo nhiệm-mầu chẳng có chi bì Muốn người rõ tánh từ-bi Cho nên Phật bảo con đi khuyên đời
06/05/2024(Xem: 4730)
Kinh A Di Đà cùng với kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ là ba kinh căn bản làm tông của tông Tịnh Độ. So với hai kinh kia thì kinh A Di Đà ngắn, ngôn ngữ dễ hiểu, nội dung không quá thâm sâu hay mật nghĩa như những kinh Đại Thừa khác. Phật tử bắc tông phần nhiều ai cũng đọc tụng và khá nhiều người thuộc nằm lòng.