Chương ba mươi mốt

10/07/201103:30(Xem: 11589)
Chương ba mươi mốt

KINH KIM CANG CHƯ GIA

KIM CANG NGŨ THẬP TAM GIA

CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT

156.ÂM:

"Tu Bồ Đề! Nhược nhơn ngôn: Phật thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến - Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Thị nhơn giải ngã sở thuyết nghĩa phủ?". - "Phất dã, Thế Tôn ! Thị nhơn bất giải Như Lai sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? - Thế Tôn thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức phi ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến".

NGHĨA:

"Này Tu Bồ Đề! Bằng ông nào nói Phật nói: ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu Bồ Đề! Ý ông thế nào? - Người ấy có tỏ nghĩa lý của Ta nói không?".

"Bạch đức Thế Tôn ! Không - Người ấy tỏ nghĩa lý của Phật nói.

Bởi cớ sao? - Bởi Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, nhưng chẳng phải ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, chỉ cưỡng danh là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến vậy thôi".

Giải :Thông Vương Như Lai giải: Phật nói bốn câu đó, là chỉ nói kiến tánh, chớ chẳng phải nói tướng.

Nói lập lại ba lần là Phật phân biệt cái nghĩa bỏ tướng kiến tánh.

Tụng:

Giảng rành tứ kiến ngã cùng nhân,

Quán tự tánh mình chẳng quán thân.

Phá tướng thủ không cho vắng lặng,

Giả trừ dà tỏa khỏi mê tân.

Vương Nhựt Hưu giải: Ngã kiến là lấy sự kiến thức mà nhận ra là có. Nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến là lấy sự kiến thức mà nhận là có nhơn, có chúng sanh, có thọ giả.

Đó là nói: Vốn không có cái kiến thức của bốn tướng ấy vì trong chơn tánh vẫn không, cũng bởi bốn thứ tà kiến ấy chẳng phải là chơn thiệt. Cho nên nói: Chẳng phải ngã kiến v.v... chỉ cưỡng danh là ngã kiến v.v... là nói sự tà kiến ấy đều là hư vọng, chẳng phải có ở trong chơn tánh.

Lý Văn Hội giải: Phật nói cái pháp Bát nhã Kim Cang này: trước là khiến người học đạo phải diệt trừ bốn tướng thô trọng, như trong phần Đại thừa Chánh tông (đệ thứ ba) đã nói, sau là, khi rõ tánh rồi, lại phải diệt trừ bốn tướng vi tế, như trong phần cứu cánh vô ngã(đệ thứ 17) đã nói. Hai phần ấy, đều chỉ rõ cái lý thanh tịnh của bốn tướng. Nếu lòng không hy cầu tham đắc, rỗng rang thường trụ, thì mới là thanh tịnh ngã kiếncho.

Huỳnh Nghiệt Thiền sư giải: Biết cả trăm việc cũng không bằng lòng, chẳng cầu là hơn hết. Người tu hành là người vô sự, thiệt chẳng có việc gì; lòng vẫn không, nên việc cũng không.

Lại nói: Những người học đạo, nếu muốn đặng thành Phật, thì cả thảy Phật pháp đều chẳng cần phải học, chỉ học cho đặng cái "tâm không cầu, không chấp" thì đã đủ rồi. Không cầu thì tâm chẳng sanh, không chấp thì tâm chẳng diệt. Mà chẳng sanh chẳng diệt tức là Phật.

Bằng rõ tự tánh vốn đã sẵn đủ, là nhơn kiến thanh tịnh - Lòng không phiền não, là chúng sanh kiến thanh tịnh - Tự tánh không biến dị, sanh diệt, là thọ giả kiến thanh tịnh. Cho nên nói: "Không phải ngã kiến v.v... chỉ cưỡng danh vậy thôi".

157.ÂM:

"Tu Bồ Đề! Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm giả, ư nhứt thế pháp, ưng như thị tri, như thị kiến, như thị tín giải bất sanh pháp tướng.

Tu Bồ Đề! Sở ngôn pháp tướng giả, Như Lai thuyết tức phi pháp tướng, thị danh pháp tướng".

NGHĨA:

"Tu Bồ Đề! Phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đó, thì cả thảy pháp, phải biết như vầy, phải thấy như vầy, phải tin rõ như vầy, là chẳng sanh pháp tướng.

Tu Bồ Đề! Sự nói pháp tướng đó, Như Lai nói chẳng phải pháp tướng, chỉ cưỡng danh là pháp tướng".

Giải :Nhan Bính giải: Hai chữ "như vầy", đáng cho là thân thiết. Bằng phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì cả thảy pháp phải biết như vầy, thấy như vầy, tin rõ như vầy, hà tất phải cầu pháp tướng ở ngoài? Song, khi mới vào đạo mà chẳng mượn pháp tướng, thì không biết cái nẻo mà vào; còn đã rõ tánh rồi, cũng nên lánh xa đi, không cần chấp trước. Cho nên nói: "Đặng cá chẳng dùng nơm", "Đến bờ khỏi dụng thuyền" nữa, là vậy đó.

Bởi cớ, nên sau lại vì người mà thuyết phá: "Chẳng phải pháp tướng, chỉ cưỡng danh là pháp tướng ".

Lý Văn Hội giải: Phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, là phải biết cả thảy chúng sanhtrí huệ vô lậu vốn đã sẵn đủ, phải tin cả thảy chúng sanh tinh linh chơn tánh vốn không sanh diệt. Bằng tỏ ngộ đặng ý này, tức là cả thảy trí huệ.

Chẳng có lòng năng sở, chẳng còn tướng tri giải; miệng nói pháp không tướng, lòng tỏ lý không tướng, thường làm cái hạnh không tướng. Cho nên nói: "Chẳng sanh pháp tướng, chỉ cưỡng danh vậy thôi".

Trí Giả Thiền sư giải:

Tụng:

Vốn không phải thấu lý, Bỏ tướng dùng vô vi.

Sanh thọ hư danh cả, Ngã nhơn thiệt đế chi.

Bồ đề tỏ ngộ đặng, Bỉ ngạn tránh xa đi.

Pháp tướng cùng phi pháp, Hiểu rằng như thế ni.

Xuyên Thiền sư giải: Cơm đến hả miệng, ngủ đến nhắm mắt.

Tụng:

Nước xao bở bủa sợi tơ mành,

Một lượn sóng đùa, mấy lượn sanh.

Giá lạnh canh khuya câu chẳng có.

Đầy thuyền chỉ có bóng trăng thanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 8447)
Trong việc học hỏi Phật Pháp, điều căn bản cần phải biết các đặc tánh của tâm và pháp như thế nào mới có thể tìm hiểu thêm pháp học và pháp hành Phật đạo. Kinh Giáo Giới Nandaka và Kinh Giáo Giới Channa đã nói lên hai đặc tánh ấy.
08/04/2013(Xem: 9861)
Quan Thế Âm là danh hiệu của một vị Bồ Tát. Quán Thế Âm dịch nghĩa của chữ Avalokitesvara (Trung Hoa phiên âm là A phạ lô chỉ đê thấp phạt la) của chữ Phạm (Ấn Độ) và có nghĩa là vị Bồ Tát quán sát tiêng kêu cầu của chúng sinh trong thế gian, mà độ cho họ được giải thoát.
08/04/2013(Xem: 12853)
Điều mình không ưa chớ nên trách người. Anh hãy là ngọn đuốc và nơi nương náu cho chính mình anh. Anh đừng nên phó thác vào chốn dung thân nào khác. Muốn bình thiên hạ, hãy bình tâm địa trước đã. Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình. Chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất!
08/04/2013(Xem: 12146)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la. Những người nên độ, Ngài đã độ xong. Ngài nghỉ ở giữa hai cây Sa-la và sắp nhập niết-bàn.
08/04/2013(Xem: 8386)
Chính tôi được nghe: một thời kia đức Thế-Tôn ở trong Trúc-lâm tinh-xá: Ca-Lan-Đa (Karanda-venùvana), thuộc Vương-Xá đại-thành. Bấy giờ, Ngài cùng rất nhiều vị Đại-Bồ-Tát, trụ bất-thoái-chuyển (2) chứng ngôi Thập-địa (3) và đã viên-mãn mười pháp Ba-La-Mật-Đa (4).
08/04/2013(Xem: 8226)
Một năm trọn, dịp kỷ-niệm Phật-Tổ thành-đạo năm ngoái (1956) tôi tâm-nguyện phiên-dịch và ấn-hành trọn năm những cuốn kinh mỏng, thông-thường, phổ-biến cho các hàng Phật-tử sơ-cơ. Hoàn-cảnh vô cùng khó-khăn, phức-tạp, chỉ một lòng nhẫn-nại, tin-tưởng nơi Tam-bảo gia-hộ, vừa trong kỳ kỷ-niệm Phật-Tổ thành-đạo năm nay (1957), 12 tập gồm 22 quyển và 4 phẩm nhỏ được ra đời.
08/04/2013(Xem: 10111)
Nhất tâm đảnh lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng Phật bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ kinh Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp niết bàn, cùng Pháp bảo khắp cả pháp giới. Nhất tâm đảnh lễ đại chúng Tỷ kheo trong đêm Phật sắp niết bàn, cùng Tăng bảo khắp cả pháp giới.
08/04/2013(Xem: 10269)
NGHI THỨC LỄ TỤNG (đèn, hương xong, đứng ngay ngắn, chắp tay nhất tâm mật niệm): Tịnh pháp giới chân ngôn. Úm lam sa ha (3 lần). Tịnh tam nghiệp chân ngôn. Úm sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ, truật độ hám. (3 lần)
08/04/2013(Xem: 9665)
Danh-hiệu: Quán-Thế-Âm do dịch nghĩa nơi chữ Phạm “Avalokitesvara” ra chữ Hán, Quán-Thế-Âm gọi tắt là Quán Âm. Hồi đầu tiên Tàu dịch là Quang-Thế-Âm. Quán-Thế Âm có chỗ gọi là Quán-Thế-Tự-Tại hay Quán-Tự-Tại. Quán-Thế-Âm sở dĩ có danh hiệu ấy, theo kinh Pháp-Hoa nói ...
05/04/2013(Xem: 9586)
Chính tôi được nghe: một thời kia đức Thế-Tôn ở nơi vườn của ông Cấp-Cô- Độc, trong Thệ-Đa-lâm, nước Thất-La-Phạt (Sràvasti). Khi ấy, có một Thiên-nhân (người cõi Trời) dung-nhan đẹp lạ, vào khoảng ban đêm, thân tới nơi Phật, đỉnh lễ chân Phật, rồi đứng lui về một bên. Vị Thiên-nhân ấy uy-quang rực-rỡ rất là rộng lớn, soi sáng khắp cả vườn Thệ-Đa-lâm.