Phụ Lục

20/05/201316:49(Xem: 14895)
Phụ Lục

Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới

Phụ Lục

Hòa Thượng Thích Trí Quang

Nguồn: Hòa Thượng Thích Trí Quang

Danh Sách Bồ Tát Giới Phạn Võng

Ghi chú.- Nhiều vị chú thích nói khi tụng giới không nên tụng tên của mỗi giới. Lý do là vì tên ấy do các vị chú thích đặt ra, và có nhiều tên không gồm hết ý nghĩa. Nhưng kinh nghiệm cho thấy nếu tụng những tiểu đề cần thiết, trong đó có tên của mỗi giới, thì vẫn hơn. Nhất là khi tụng lược thì câu " còn các giới khác như thường đã tụng" không làm sao bằng cách tụng tên các giới.

10 Giới Nặng

1. Không được tàn sát,
2. Không được trộm cướp,
3. Không được dâm dục,
4. Không được vọng ngữ,
5. Không được buôn rượu,
6. Không được nói xấu đồng đạo,
7. Không được khen mình chê người,
8. Không được tiếc lẫn tài pháp,
9. Không được giận dữ không nguôi,
10. Không được phỉ báng Tam bảo.


48 Giới Nhẹ


1. Không được bất kính thầy bạn,
2. Không được uống các thứ rượu,
3. Không được ăn các thứ thịt,
4. Không được ăn đồ cay nồng,
5. Không được không khuyên sám hối,
6. Không được không cầu chánh pháp,
7. Không được không đi nghe pháp,
8. Không được phản đại thừa giới,
9. Không được không giúp bệnh tật,
10. Không được tàng trữ khí cụ,
11. Không được làm kẻ quốc tặc
12. Không được buôn bán tàn nhẫn,
13. Không được phỉ báng không thật,
14. Không được cố ý thiêu đốt,
15. Không được chỉ dạy sai lệch,
16. Không được nói pháp rối loạn
17. Không được ỷ thế ham cầu,
18. Không được mù mờ làm thầy,
19. Không được phỉ báng giữ giới,
20. Không được không cứu phóng sinh,
21. Không được giận dữ báo thù,
22. Không được kiêu ngạo không học,
23. Không được không truyền kinh giới,
24. Không được học các sách khác,
25. Không được lạm dụng gây rối,
26. Không được không đãi khách tăng,
27. Không được thọ thỉnh riêng biệt,
28. Không được thỉnh tăng riêng biệt,
29. Không được sống bằng tà mạng
30. Không được bất kính hảo thời.
31. Không được không cứu không chuộc,
32. Không được tổn hại chúng sinh,
33. Không được tà tâm làm quấy,
34. Không được rời bồ đề tâm,
35. Không được không phát đại nguyện,
36. Không được không phát đại thệ,
37. Không được mạo hiểm tai nạn,
38. Không được ngồi không thứ tự,
39. Không được không làm lợi lạc,
40. Không được chọn lựa truyền giới,
41. Không được vụ lợi làm thầy,
42. Không được thuyết giới ác nhân,
43. Không được cố tâm phạm giới,
44. Không được không trọng kinh luật,
45. Không được không có giáo hóa,
46. Không được thuyết không đúng phép,
47. Không được kềm chế phi lý,
48. Không được phá hoại đạo pháp.

Phụ Lục 2: Phân Loại Bồ Tát Giới Phạn Võng Đối Với Xuất Gia Tại Gia

Ghi chú.- Phụ lục này cốt bổ túc cho tiết 9 của chương 1. Phân loại này, thật ra mới làm tàm tạm, chưa nói chi tiết kyՠcàng. Phân loại ghi dấu A B C, không phải biểu thị nặng nhẹ mà chỉ ghi theo nhiều ít.

Một, Phân Loại 10 Giới Nặng

1. Loại A răn cả xuất gia tại gia:
1. Không được tàn sát,
2. Không được trộm cướp,
4. Không được vọng ngữ,
6. Không được nói xấu đồng đạo,
7. Không được khen mình chê người,
8. Không được tiếc lẫn tài pháp,
9. Không được giận dữ không nguôi,
10. Không được phỉ báng Tam bảo.
2. Loại B răn xuất gia nhiều tại gia ít:
3. Không được dâm dục,
3. Loại C răn tại gia:
5. Không được buôn rượu (h) .
Hai, Phân Loại 48 Giới Nhẹ
1. Loại A răn cả xuất gia, tại gia:
2. Không được uống các thứ rượu (a) ,
3. Không được ăn các thứ thịt,
4. Không được ăn đồ cay nồng,
6. Không được không cầu chánh pháp,
7. Không được không đi nghe pháp (b) ,
8. Không được phản đại thừa giới (c) ,
9. Không được không giúp bịnh tật,
13. Không được phỉ báng không thật,
19. Không được phỉ báng giữ giới,
20. Không được không cứu phóng sinh,
22. Không được kiêu ngạo không học,
24. Không được học các sách khác (c) ,
29. Không được sống bằng tà mạng,
30. Không được bất kính hảo thời,
31. Không được không cứu không chuộc,
33. Không được tà tâm làm quấy,
34. Không được rời bồ đề tâm,
38. Không được ngồi không thứ tự,
39. Không được không làm lợi lạc,
44. Không được không trọng kinh luật,
2 Loại B răn xuất gia:
5. Không được không khuyên sám hối,
16. Không được nói pháp rối loạn,
18. Không được mù mờ làm thầy (d) ,
23. Không được không truyền kinh giới,
25. Không được lạm dụng gây rối,
26. Không được không đãi khách tăng (d) ,
27. Không được thọ thỉnh riêng biệt,
36. Không được không phát đại thệ,
37. Không được mạo hiểm tai nạn,
40. Không được chọn lựa truyền giới,
41. Không được vụ lợi làm thầy,
42. Không được thuyết giới ác nhân (d) ,
46. Không được thuyết không đúng phép (d) ,
48. Không được phá hoại đạo pháp.
3. Loại C răn tại gia:
1. Không được bất kính thầy bạn (f) ,
10. Không được tàng trữ khí cụ,
11. Không được làm kẻ quốc tặc,
12. Không được buôn bán tàn nhẫn,
32. Không được tổn hại chúng sinh,
47. Không được kềm chế phi lý,
4. Loại D răn xuất gia nhiều tại gia ít:
15. Không được chỉ dạy sai lệnh,
35. Không được không phát đại nguyện,
43. Không được cố tâm phạm giới,
45. Không được không có giáo hóa.
5. Loại Đ răn tại gia nhiều xuất gia ít:
14. Không được cố ý thiêu đốt (e) ,
17. Không được ỷ thế ham cầu (e) ,
21. Không được giận dữ báo thù,
28. Không được thỉnh tăng riêng biệt (g) .

---------

Chú Thích (a)
Cũng có thể nói răn tại gia nhiều.

Chú Thích (b)
Cũng có thề nói răn xuất gia nhiều.

Chú Thích (c)
Răn những người chỉ tôn cái gọi là Phật giáo nguyên thỉ đó.

Chú Thích (d)
Cũng có răn tại gia.

Chú Thích (e)
Coi chừng xuất gia cũng bị răn không ít.

Chú Thích (f)
Tại gia còn răn như vậy, huống chi xuất gia.

Chú Thích (g)
Ngày nay xuất gia cũng bị răn.

Chú Thích (h)
Không lẽ xuất gia mà buôn rượu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/2013(Xem: 19940)
(thắp đèn đốt hương, toàn thể đúng ngay ngắn, chắp tay để ngang ngực, mật niệm) Tịnh pháp giới chân ngôn Úm lam sa ha (3 lần) Lục tự đại minh chân ngôn Úm ma ni bát mê hồng (3 lần) (vị chủ lể quỳ thẳng, cầm 3 cây hương, dâng ngang trán, đọc bài nguyện hương)
08/04/2013(Xem: 15274)
Trái với tiểu thừa nói đời Phật chỉ có đức Di lạc là bồ tát, đại thừa nói đời Phật, mà ngay trong nhân loại, ít nhất cũng có những vị bồ tát sau đây, ghi theo Thế giới Pg thông sử, tập thượng, trang 136. 1. Văn thù đại sĩ, 2. Thiện tài đồng tử, 3. Bảo tích và Duy ma, 500 người ở thành Tì da li. 4. Hiền hộ, với 16 người ở thành Vương xá.
08/04/2013(Xem: 16976)
Chính tôi (A-Nan) được nghe: Một thời kia đức Phật ở Trùng-Các giảng-đường, trong khu rừng lớn Tỳ-Da-Ly (Vaisàli), cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Tỳ-Khưu. Khi ấy, đức Thế-Tôn cùng ông A-Nan, một buổi sáng nọ, mặc áo, mang bát vào thành khất-thực. Khất-thực rồi, trở về nơi cũ.
08/04/2013(Xem: 21669)
Chính tôi được nghe: (2) Một thời kia đức Phật du-hóa trong núi Kỳ-Xà-Quật (Grdhrakùta), nước La-Duyệt-Kỳ (Ràjagrha), cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Đại-Tỳ-Khưu và vô số những vị Bồ-Tát, mà là những vị đã được tiếng tăm đồn xa, Nhân, Thiên cung kính.
08/04/2013(Xem: 19164)
Chính tôi được nghe như thế nầy. Một thuở nọ, đức Phật kiết hạ tại núi Kỳ-Xà-Quật, gần thành Vương-Xá với chúng Đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người. Đó là các vị trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Ma-Ha Mục-Kiền-Liên, Ma-Ha Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Tu-Bồ-Đề, La-Hầu-La, Phú-Lâu-Na, A-Nan, A-Nan-Đà, Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề, Gia-Du-Đà-La, v.v...
08/04/2013(Xem: 22810)
Thành thực mà nói, tôi chưa có được niềm tin rằng mỗi khi có thể bị tai nạn gì thì nên tụng Bồ tát giới Phạn võng, nhưng có một điều rõ rệt là mỗi khi làm gì cho giới ấy thì đang bịnh cũng thư thái thấy rõ. Từ trước đến nay đã có 5 lần như vậy.
08/04/2013(Xem: 23783)
Đại sư tên Huệ Năng, thân phụ họ Lư, húy Hành Thao, thân mẫu họ Lý. Đời vua Đường Vũ Đức năm thứ 3 tháng 9 ở tân Châu, bà Lý Thị nằm mộng thấy trước sân hoa trắng đua nở, có đôi chim nhạn trắng bay, hương lạ tỏa đầy nhà, khi tỉnh dạy thì thụ thai. Bà thanh khiết trai giới, hoài thai sáu năm Sư mới ra đời. Ấy là năm Trinh Quán thứ 12 đời Đường Thái Tông, nhằm năm Mậu Tuất (638DL) ngày mồng 8 tháng 2 giờ Tý.
08/04/2013(Xem: 21498)
Chính tôi được nghe: Một thời kia đức Phật ở trong điện quan Thừa Tướng, thuộc phía Đông thành Xá-Vệ. Một hôm mẹ quan Thừa Tướng ấy tên là Duy-Da; sáng sớm dậy, bà tắm gội, mặc áo mầu, rồi cùng những người con dâu đi đến chốn Phật. Đến nơi, cùng nhau cúi đầu lễ sát chân Phật. Lễ xong, tất cả đều ngồi về một bên.
08/04/2013(Xem: 21149)
“Bát Thức Quy Củ Tụng” là một tác phẩm thuộc bộ môn Duy Thức do Ngài Huyền Trang đời Đường biên soạn. Nguyên tác vốn rất dài, khó nhớ, khó thuộc, vì vậy Ngài Khuy Cơ, đệ tử của Ngài Huyền Trang được phép Sư Phụ, đã toát yếu tác phẩm trên thành 41 câu tụng, giúp người tu học Phật được dễ dàng hơn trong việc đọc tụng hằng ngày.
08/04/2013(Xem: 24762)
Việc tự tứ và trai tăng trong ngày Vu lan, và qua đó mà báo hiếu cha mẹ, thì không cần phải nói đến nữa. Điều đáng nói là các chùa nên tổ chức hiệp kỵ cho Phật tử trong ngày Vu lan, sau khi tự tứ và trai tăng. Ngày nay kỵ giỗ của mỗi nhà cũng không thể còn như xưa