Niết Bàn: Tâm, Cảnh Vốn Không

10/02/202513:15(Xem: 5072)
Niết Bàn: Tâm, Cảnh Vốn Không
Phat Niet Ban
Niết Bàn: Tâm, Cảnh Vốn Không


Nguyên Giác


Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.

Bải thơ do ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy Trần Nhân Tông có mấy dòng cuối trong tiếng Hán-Việt như sau:

Nhựt nhựt đối cảnh thời
Cảnh cảnh tòng tâm xuất
Tâm cảnh bổn lai vô,
Xứ xứ Ba-la-mật.


Dịch nghĩa ra văn xuôi tiếng Việt hiện đại như sau: Ngày ngày, khi đối diện với các cảnh, hãy thấy tất cả các cảnh đều từ tâm sinh ra. Khi bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, thì sẽ thấy khắp nơi đều là Niết bàn.

Như thế, hãy thấy cảnh vốn là từ tâm sinh khởi, và rồi hãy thấy cả tâm và cảnh vốn đều là rỗng không, là không hề có tự tánh nào cả. Thấy thường trực như thế, bạn sẽ thấy tất cả các nơi chốn mười phương đều là Niết Bàn.

Tới đây, chúng ta nhớ tới hai bài kệ đầu tiên trong Kinh Pháp Cú, trong bản dịch của Thầy Thích Minh Châu như sau.

Bài Kệ 1.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.


Bài Kệ 2.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.


Làm thế nào để hiểu rằng thế giới này là hiển lộ của tâm chúng ta? Nếu như thế, tâm của chúng ta sẽ nhỏ rất nhỏ, và cũng rộng lớn vô cùng tận. Đức Phật đã giải thích trong Kinh SN 35.23 rằng  tất cả thế giới này đối với từng người chúng ta chính là mắt và cái được thấy, tai và cái được nghe, mũi và cái được ngửi, lưỡi và cái được nếm, thấn và cái được chạm xúc, ý và cái được tư lường.

Trong Kinh SN 35.23, bản dịch của Thầy Thích Minh Châu trích như sau:

"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.
Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!
"

Khi nhận ra thế giới này chỉ là những gì tương tác với chúng ta, hiển nhiên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý sẽ bao trùm cả vũ trụ này, trong chừng mực những gì chúng ta có thể tương tác được. Đúng như thế, Đức Phật nói trong Kinh SN 35.228 rằng mắt chính là đại dương; tương tự, tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng là những đại dương vô cùng tận. Người tu phải vượt qua những dòng chảy, những xoáy nước, cá mập và quỷ dữ trên đại dương để tới nơi bình yên của giải thoát.

Như thế, tâm của chúng ta là vô lượng, không thể đo lường được. Chúng ta nhận biết thế giới này qua tương tác của căn, trần và thức. Người tu phải sống xả ly, không bị vướng gì hết, mới có thể giải thoát với tâm không hạn cuộc.

Đức Phật giải thích trong Kinh AN 10.81 như sau, theo bản dịch của Thầy Thích Minh Châu:

"Từ mười pháp, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc. Thế nào là mười?
Từ sắc, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc. Từ thọ, này Bàhuna… Từ tưởng, này Bàhuna… Từ các hành, này Bàhuna… Từ thức, này Bàhuna… Từ sanh, này Bàhuna… Từ già, này Bàhuna…Từ chết, này Bàhuna…Từ các khổ này, Bàhuna…. Từ các phiền não, này Bàhuna, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc.
Ví như, này Bàhuna, hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên mặt nước và đứng, không có dính nước. Cũng vậy, này Bàhuna, từ mười pháp này, Như Lai sống xuất ly, ly hệ, giải thoát với tâm không hạn cuộc
."

Khi nói rằng giải thoát với tâm không hạn cuộc, có nghĩa là tâm rộng vô giới hạn, và là tâm của người sống với cái bản gốc là Không. Tức là thấy được cả tâm và cảnh đều vốn là Không. Đó cũng là khi thức tịch diệt. Chúng ta có thể gọi đó là vô tâm, hay vô niệm, hay không tư lường.

Trong Kinh Snp 5.2, Đức Phật giải thích rằng khi thức tịch diệt thì giải thoát như sau, khi trả lời Ajita:

"Câu hỏi này đã được người hỏi, Ajita, ta có thể trả lời! Để cho tâm và thân tịch diệt không còn dư tàn: đó là khi chấm dứt của ý thức, tại nơi này thức tịch diệt."

Tới đây, chúng ta có thể nêu câu hỏi, làm sao để thấy tâm và cảnh là không, để thấy tận nơi thức tịch diệt? Chúng ta có thể dẫn ra Kinh Đàn Tỳ Bà SN 25.246, Đức Phật kể rằng một vị vua nghe tiếng đàn tỳ bà rất êm tai, dịu dàng, quyến rũ, nên ra lệnh đem cây đàn tỳ bà về, bảo tìm âm thanh tuyệt diệu kia. Không ai tìm được tiếng nhạc kia. Bởi vì âm nhạc đó là do nhiều duyên sinh khởi, do cây đàn làm bằng loại gỗ quý trên rừng, từ dây đàn, từ bản nhạc hay, từ tài năng người chơi đàn, và từng nốt nhạc khởi lên là biến mất theo dòng chảy vô thường.

Cho dù có chẻ cây đàn ra 100 mảnh cũng không ai tìm ra được tiếng đàn. Tất cả đều vô ngã, đều do nhiều duyên mà thành, và ngay khi sinh là tức khắc diệt. Người tu thấy được tất cả đều vô ngã, đều do nhiều duyên, đều vô thường chảy siết, thì sẽ thấy thức tịch diệt vì không có gì có thể nghĩ ngợi hay bàn luận. Lúc đó, thức sẽ tịch diệt, vắng lặng; và lúc đó, thân và tâm cùng tịch diệt. Lúc đó, hiểu rằng tâm và cảnh vốn là Không, là vắng lặng.

Đó là ý nghĩa lời dạy của Tuệ Trung Thượng Sĩ: Ngày ngày, khi đối diện với các cảnh, hãy thấy tất cả các cảnh đều từ tâm sinh ra. Khi bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, thì sẽ thấy khắp nơi đều là Niết bàn.

.... o ....

Nirvana: Mind and its objects are inherently empty

Written and translated by Nguyên Giác

 
When you recognize that the mind and its objects are inherently empty, you will realize that Nirvana exists everywhere. This teaching is derived from a poem by Zen Master Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291), who imparted Zen teachings to King Trần Nhân Tông. It also serves as a summary of various sutras taught by the Buddha.

The Chinese poem composed by Tuệ Trung Thượng Sĩ to instruct Trần Nhân Tông concludes with the following lines, rendered in modern Vietnamese prose: Throughout the day, as you encounter various scenes, recognize that everything originates from the mind. When you understand that both the mind and its objects are inherently empty, you will realize that Nirvana exists everywhere.

Thus, recognize that all experiences originate from the mind, and understand that both the mind and its objects are inherently empty, lacking any intrinsic nature. By maintaining this awareness, you will come to realize that all locations in the ten directions are manifestations of Nirvana.

Here, we recall the first two verses of the Dhammapada, translated by Ācāriya Buddharakkhita, as follows.

Verse 1: Mind precedes all mental states. Mind is their chief; they are all mind-wrought. If with an impure mind a person speaks or acts suffering follows him like the wheel that follows the foot of the ox.

Verse 2: Mind precedes all mental states. Mind is their chief; they are all mind-wrought. If with a pure mind a person speaks or acts happiness follows him like his never-departing shadow.

How can we understand that this world is a manifestation of our mind? If that is the case, our mind must be both tiny and incredibly vast. The Buddha explained in the SN 35.23 Sutta that for each of us, this entire world consists of the eye and what is seen; the ear and what is heard; the nose and what is smelled; the tongue and what is tasted; the body and what is touched; and the mind and what is thought.
 
In the Sutta SN 35.23, Bhikkhu Bodhi's translation states the following:

And what, bhikkhus, is the all? The eye and forms, the ear and sounds, the nose and odours, the tongue and tastes, the body and tactile objects, the mind and mental phenomena. This is called the all.

“If anyone, bhikkhus, should speak thus: ‘Having rejected this all, I shall make known another all’—that would be a mere empty boast on his part. If he were questioned he would not be able to reply and, further, he would meet with vexation. For what reason? Because, bhikkhus, that would not be within his domain
.”

When we recognize that the world consists solely of our interactions, it becomes clear that our eyes, ears, nose, tongue, body, and mind encompass the entirety of the universe as far as our engagement allows. Indeed, the Buddha stated in the SN 35.228 Sutta that the eyes are like the ocean; similarly, the ears, nose, tongue, body, and mind represent an endless ocean as well. The practitioner must navigate the currents, whirlpools, sharks, and demons within this ocean to attain the tranquil state of liberation.
 
Thus, our minds are limitless and immeasurable. We perceive the world through the interaction of our senses, objects, and consciousness. A practitioner must live in detachment, free from entanglement, in order to achieve liberation with a boundless mind.
 
The Buddha explains in the AN 10.81 Sutta as follows, according to Bhikkhu Sujato's translation:

Bāhuna, the Realized One has escaped from ten things, so that he lives detached, liberated, his mind free of limits. What ten? Form … feeling … perception … choices … consciousness … rebirth … old age … death … suffering … defilements … Suppose there was a blue water lily, or a pink or white lotus. Though it sprouted and grew in the water, it would rise up above the water and stand with no water clinging to it. In the same way, the Realized One has escaped from ten things, so that he lives detached, liberated, his mind free of limits.”
  
When we say that liberation arises from a limitless mind, we mean that the mind is boundless and reflects the original nature of Emptiness. This perspective recognizes that both the mind and its objects are inherently empty. Consciousness extinguishes at this point. We can refer to this state as "no mind," "no thought," or "no conception."
 
In the Snp 5.2 Sutta, the Buddha explains that when consciousness ceases, liberation follows, in response to Ajita, according to Bhikkhu Ānandajoti's translation as follows:

This question that was asked, Ajita, I can answer it! As to where mind and body ceases without remainder:
with the cessation of consciousness, in this place it ceases
.”

At this point, we can pose the question: How can we perceive that the mind and its objects are empty and identify the very moment when consciousness ceases? We can reference the SN 25.246 Sutta, in which the Buddha recounts a story about a king who heard a lute's sound that was exceptionally pleasant, gentle, and alluring. Intrigued, he ordered the lute to be brought to him, seeking to rediscover that wonderful sound. However, no one could locate it. This is because the music arises from numerous causes and conditions: the lute crafted from precious wood sourced from the forest, the strings, the beautiful melodies, the skill of the lute player, and the fact that each note that emerges ultimately fades away in the stream of impermanence.
 
Even if the instrument were divided into 100 pieces, no one would be able to discern its sound. Everything is selfless; all things arise from numerous causes and conditions, and as soon as they are born, they immediately begin to perish. A practitioner who realizes that everything is selfless, created by various causes and conditions, and impermanent and in constant flux will see consciousness cease because there will be nothing to contemplate or discuss. Simultaneously, both the body and mind will cease to exist, bringing consciousness to an end. At that point, one must understand that the mind and its objects are inherently empty and silent.

The teaching of Tuệ Trung Thượng Sĩ conveys a profound message: Throughout the day, as you encounter various scenes, recognize that everything originates from the mind. When you understand that both the mind and its objects are inherently empty, you will realize that Nirvana exists everywhere.
.
THAM KHẢO / REFERENCE:
-- Kinh Pháp Cú, bản dịch Thầy Minh Châu:
https://thuvienhoasen.org/p15a7961/pham-01-10
Bản dịch của Ācāriya Buddharakkhita:
https://suttacentral.net/dhp1-20/en/buddharakkhita
-- Kinh SN 35.23: https://suttacentral.net/sn35.23/en/bodhi
-- Kinh AN 10.81:
https://suttacentral.net/an10.81/vi/minh_chau
https://suttacentral.net/an10.81/en/sujato
-- Kinh Snp 5.2:
https://suttacentral.net/snp5.2/en/anandajoti
-- Kinh Đàn Tỳ Bà SN 25.246:
https://suttacentral.net/sn35.246/vi/minh_chau
.... o ....
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2026(Xem: 1258)
Trong việc huấn luyện Huynh trưởng trại Vạn hạnh cấp cao — những huynh trưởng sẽ kế thừa và "lèo lái" tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPT) theo tinh thần Phật giáo — phương pháp giảng dạy đóng vai trò quyết định. Để tổ chức không bị "thế tục hóa" hay biến thành một câu lạc bộ kỹ năng đơn thuần, giảng sư cần có một sự cân bằng tinh tế, nhưng trọng tâm phải đặt vào thực chứng và sự chuyển hóa tự thân. Con Đường Đưa Người Huynh Trưởng Từ Tri Thức Đến Chuyển Hóa
04/03/2026(Xem: 1663)
Trong tâm niệm Hồi hướng Phước lành đến nhị vị Ni Sư của Hiền Như Tịnh Thất đã quá vãng. Thầy Tánh Tuệ và chư Bồ Đề quyến thuộc của tịnh thất đã thực hiện thiện pháp Bố thí giếng nước cho dân nghèo xứ Phật với ước nguyện Hồi hướng công đức này đến chư Ni Sư, nguyện cầu nhị vị Ni Sư thừa tư Phước lực và Tam Bảo lực cao đăng Phật quốc. Xin chân thành CẢM NIỆM CÔNG ĐỨC toàn thể môn đồ pháp quyến cùng tất cả chư Phật tử của Hiền Như tịnh thất đã góp một bàn tay ủng hộ cho thiện pháp này được thành tựu viên mãn. Kính chúc chư Tôn Đức và quý thiện hữu vô lượng an lành trong Hồng ân Tam Bảo.
16/02/2026(Xem: 1385)
Tôi được mời phát biểu tối nay về sự xuất ly – tức là quyết tâm được tự do khỏi những vấn đề của chính mình – và đặc biệt là cách chúng ta có thể hiểu điều đó trong bối cảnh áp lực của cuộc sống ở một thành phố lớn, như ở đây là Moscow. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng khi bắt đầu phân tích chủ đề này, chúng ta sẽ nhận ra rằng phần lớn những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt trong thế giới hiện đại không chỉ giới hạn ở việc sống trong một thành phố lớn.
11/02/2026(Xem: 1764)
Sách của Cư Sĩ Thiện Phúc - Phần 1 (PDF)
11/02/2026(Xem: 1571)
(1):Làm Việc Thiện, Thực Hiện bằng: Tâm Thanh Tịnh,... (Bằng)Tâm Vô Ngã, Hướng Đến Giải Thoát thì sao? Đó là Công Đức hành trì những điều sau: Làm Thiện Không Danh Lợi, Không Cầu Báo Ân,
05/02/2026(Xem: 2361)
Nam Mô Di Lặc Tiên Quang Phật! Kính thưa chư Tôn đức, chư Pháp hữu & quí vị hảo tâm. Không còn bao lâu nữa là Xuân Bính Ngọ sẽ đến. Trong tâm tình Hiểu và Thương những mảnh đời bất hạnh, khốn khó ở quê nhà khi năm cùng tháng tận không biết lấy chi để mừng Xuân, đón Tết.. Duyên may, nhờ sự quan tâm san sẻ của chư Tôn đức Tăng Ni & quý vị Phật tử, các vị hảo tâm.. Hội Từ thiện Trái Tim Bồ Đề (Bodhgaya Heart Foundation) chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi phát quà từ thiện ''Xuân Yêu Thương'' dành cho những người dân nghèo tại xã Tóc Tiên, Châu Pha, Long Điền, Đất Đỏ, Phú Mỹ, Long Thành. (5 Feb 2026).
04/02/2026(Xem: 1527)
HIỂU ĐÚNG VỀ XÁ LỢI PHẬT 🌹 Phật là người có thật trong lịch sử, không phải thần thoại Một trong những lý do khiến công chúng hoài nghi xá lợi là vì họ cho rằng “Phật chỉ là truyền thuyết”. Tuy nhiên, điều này không đúng về mặt học thuật. Các nghiên cứu hiện đại – từ Ấn Độ học, khảo cổ học, ngữ văn Pali/Sanskrit cho tới lịch sử Đông Nam Á – đã xác nhận rằng Siddhartha Gautama (tức Đức Phật Thích Ca) là một nhân vật lịch sử, sinh ra vào khoảng năm 563 TCN tại Kapilavastu, thuộc bộ tộc Śākya, vùng biên giới Ấn Độ – Nepal ngày nay.
04/02/2026(Xem: 1415)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ CHÚC XUÂN (Chủ nhiệm Ns Chánh Pháp), trang 3 · NGUỒN VUI THÙ THẮNG (Nguyên Siêu) trang 4 · TIẾNG CHUÔNG, XUÂN THỂ (thơ HT Thắng Hoan), trang 6 · MÂY VẪN CÒN BAY (HT Thích Thái Hòa), trang 7 · THÔNG ĐIỆP TẾT BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 8 · THƯ CHÚC XUÂN BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Điều Hành), trang 9 · MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ (thơ Chúc Hiền), trang 10
03/02/2026(Xem: 1447)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ MỜI LỄ ĐẠI TƯỜNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THẮNG HOAN (GHPGVNTNHK), trang 5 · TƯỞNG NIỆM BẬC CHÂN NHÂN (thơ Thích Chúc Hiền), trang 6 · TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG ĐLHT THÍCH THẮNG HOAN (Môn đồ pháp quyến), trang 7 · NGUỒN VUI, PHÁP NHŨ, TA VỚI TA, PHÁP HỶ (thơ HT Thích Thắng Hoan), trang 10 · TRƯỞNG LÃO HT THÍCH THẮNG HOAN, NỤ CƯỜI VÀ SỨ MỆNH HOẰNG PHÁP (Huỳnh Ki
03/02/2026(Xem: 1653)
(I): Việc Làm Tạo Phước (1):Làm những Việc Thiện trong Đời Sống Thế Gian. Như Chăm Sóc Cha Mẹ, Xây Nhà Tình Thương,Cúng Dường Tam Bảo, Bố Thí Kẻ Bần Cùng,...Ấy, những việc TẠO PHƯỚC ta Thường Quan Tâm.