Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Nhân duyên Học Phật

04/11/202207:27(Xem: 324)
Nhân duyên Học Phật
vesak 2022-1,


Nhân duyên Học Phật

Phương Quỳnh (Diệu Thiện)


Sau hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2022, nhằm ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch, đúng vào ngày Đản Sanh năm 2646 của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, trước khi trở về Hamburg, Hòa Thượng Phương Trượng Tổ Đình Viên Giác tặng cho tôi cuốn “Tôi Đọc Đại Tạng Kinh.” Đây là tác phẩm 69 của ngài vào độ tuổi 73. Trên xe lửa, tôi vội đọc ngay lời Dẫn nhập của Thầy ở đầu sách. Thầy viết: “Tất cả chúng ta đều bình đẳng về thời gian, dầu nam

hay nữ, Tăng hay Ni, người lớn hay trẻ thơ..., mỗi ngày đều có đúng 24 tiếng đồng hồ như nhau, không hơn không kém. Tuy nhiên có nhiều người làm được rất nhiều việc trong khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ đó, mà cũng có nhiều người đã bỏ phí thời gian một cách vô ích...”

 

Ngẫm lại mình, tôi lại tiếc nuối mình đã đến với đạo Phật quá trễ! Tôi sinh ra trong một gia đình thương mãi, cha tôi mất sớm trong thời kỳ chống Pháp, mẹ tôi là sage femme từ thời Pháp cho mãi đến sau này. Tôi là chị cả của 6 đứa em, nên trách nhiệm tinh thần và chăm sóc các em cũng khá nặng. Tôi vừa đi học vừa phải phụ giúp gia đình, không có nhiều thì giờ rảnh, nên cũng ít có dịp đến chùa chứ đừng nói đến việc quy y làm con Phật. Mãi đến năm 1980, tôi cho đứa con trai đầu 10 tuổi đi vượt biên với gia đình người cô ruột. Sau khi gởi con đi rồi, tôi vô cùng lo âu vì con còn quá nhỏ, không biết sống chết thế nào trên đại dương, có đến được bến bờ bình an hay không? Lòng nhiều bất an, mỏi mòn trông đợi tin con, mất ăn mất ngủ, nên dần dà tôi phát bệnh nặng, chỉ một muỗng nước cam cũng không uống được chứ đừng nói đến chuyện ăn gì… Đi khám nhiều bác sĩ, uống nhiều loại thuốc. Thuốc Tây thuốc Nam đủ loại nhưng bệnh cũng chẳng thuyên giảm! May mắn thay có vài người bạn khuyên tôi nên tìm đến chùa Linh Quang ở Khánh Hội do Hòa Thượng Từ Quang trụ trì để xin Thầy trị bệnh cho. Nghe nói Thầy rất giỏi, đã cứu được rất nhiều người bệnh. Bệnh tôi chạy chữa đủ nơi nhưng không thuyên giảm, nên theo lời chỉ dẫn của bạn tìm đến cửa Phật.

 

Vừa mới vào chùa, tôi muốn quỳ đảnh lễ Thầy, Thầy liền ra hiệu cho người nhà dìu tôi ngồi trên ghế đối diện. Trước đôi mắt tinh anh, uy nghi nhưng lộ vẻ hiền từ đôn hậu của Thầy, tôi trình bày hết mọi nguồn cơn và xin Thầy chữa cho tôi khỏi bệnh. Với giọng trầm ấm, Thầy nhìn tôi dịu dàng nói: “Thầy thấy con chẳng có bệnh gì trầm kha cả! Chỉ vì con quá lo lắng, bất an, mất ngủ, không ăn... Việc gì đến thì nó sẽ đến, việc gì đi thì tự nó sẽ qua đi! Cứ để cho nó tự nhiên, đừng quan tâm, đừng lo nghĩ gì cả.”

 

Trong không khí trang nghiêm của chánh điện sáng rực nét từ hòa của Đức Phật và những lời khuyên nhủ dịu dàng của Thầy, tôi cầu khẩn và được Thầy đồng ý làm phép quy y cho tôi. Tôi lặp lại theo Thầy 5 điều giới luật: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Đã thệ nguyện rồi, thì suốt đời phải giữ giới, phải làm điều lành, tránh làm việc ác... Diệu Thiện là pháp danh Thầy ban cho tôi. Như vậy tôi chính thức được làm con Phật từ tuổi 36, lòng thầm niệm ơn Thầy Từ Quang là Thầy Bổn Sư của tôi. Trước khi ra về Thầy còn ân cần nhắc lại: “Con nhớ hằng ngày thành tâm cầu nguyện Chư Phật, chư Bồ Tát nghe con…!”

 

Dù vậy, hầu như tôi cũng chưa có dịp trở lại học đạo ở Thầy Từ Quang lần nào nữa, chỉ có lần cuối cùng đến đảnh lễ Thầy trước khi tôi xa quê hương. Cho nên thành thật mà nói là thời gian đó tôi hoàn toàn chưa hiểu gì về giáo lý đạo Phật. Tôi chỉ y giáo phụng hành theo lời Thầy Bổn Sư, hằng ngày niệm Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Nam-mô A-di-đà Phật, hoặc Nam-mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Và thành tâm hơn, vui vẻ hơn khi giúp đỡ cho những người đói rách, tật nguyền, cơ nhỡ. Số người này ngày càng đông trong chế độ mới. Việc làm này đối với tôi cũng khá quen thuộc. Nhớ hồi nhỏ còn học tiểu học, mỗi sáng mẹ tôi thường cho một đồng để mua xôi ăn trước khi đến trường. Từ nhà đến trường khoảng 4 cây số, nếu gặp những người già yếu chống gậy đi xin thì tôi cho họ. Lúc đưa tiền tôi chỉ nói “Cháu gởi bà…” như lời mẹ dặn, chứ không nói chữ “cho” làm sợ người ta tủi thân tội nghiệp! Bình thường khi có người nghèo đến nhà xin ăn, mẹ bảotôi lấy cho họ một lon gạo, nhưng tôi thường lén cho họ nhiều hơn, vì tôi thấy họ tội nghiệp quá! Bây giờ nghe Thầy Bổn Sư giảng dạy, tôi mới biết đó là hành động bố thí. Đó là cách thể hiện lòng từ bi… Tôi vẫn luôn trì niệmdanh hiệu Phật, dần dần tâm tôi được bình an trở lại, tôi quên mất những lo âu và căn bệnh của tôi cũng dứt hẳn.

 

Thời gian cứ mãi trôi mà tôi vẫn tưởng như chậm lại. Hằng ngày tôi vẫn cầu nguyện và chờ đợi tin tức của chuyến tàu đưa con tôi đi, chưa biết là về đâu! Thế rồi hơn tháng sau, chúng tôi được tin cháu được tàu Đức vớt và đưa vào Hồng Kông để chờ lệnh của chính quyền Tây Đức. Rồi một chiều đi dạo ra biển, con trai tôi bị rớt từ trên cầu tàu cao khoảng 5 mét xuống gầm cầu. Mọi người đứng trên cầu hốt hoảng tưởng chừng cháu bị thương nặng và có thể chết, vì khi rớt có lôi theo một thanh sắt lớn và dưới gầm cầu có nhiều tảng đá to. Thế mà khi rớt xuống, thanh sắt văng ra xa mà cháu lại rớt ngồi trên tảng đá như có bàn tay vô hình nâng đỡ, cứu giúp! Thật phúc thay. Tôi thầm cảm ơn chư Phật cứu độ. Từ đó tôi luôn niệm Phật và làm việc thiện nhiều hơn…

 

Một năm sau, tôi nhận được giấy bảo lãnh đoàn tụ gia đình với con trai từ Đức gởi về, nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam không chịu cấp giấy xuất cảnh, không giải quyết và ém nhẹm hồ sơ đợi chúng tôi lo lót tiền… Đã 10 năm kể từ tháng Tư năm 1975 đến năm 1985, đời sống và sinh hoạt của dân chúng rất khó khăn, nhưng tôi may mắn được bạn bè hết lòng giúp đỡ. Đặc biệt là vợ chồng Bác sĩ Phạm Thiên Bê (trưởng khoa tim ở bệnh viện Nguyễn Trải) và vợ là Bác sĩ Hồ Thị Đào, con gái bà Mộng Cầm, người yêu của Hàn Mạc Tử. Đào là bạn học của tôi từ thuở nhỏ. Hai vợ chồng này đã chữa lành bệnh của cán bộ Chủ tịch quản lý chợ Bình Tây, nên họ đã xin ông Chủ tịch cấp cho tôi một gian hàng ngoài chợ để bán tạp hóa. Trong thời gian này, cũng có rất nhiều bạn bè tốt bụng giúp đỡ tôi, nhờ đó gia đình tôi có cuộc sống ổn định và khá giả hơn. Lại có người bạn gái của em tôi, chồng đi tù cải tạo ở Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt, 2 con còn nhỏ dại, nên bao nhiêu đồ đạt vật dụng trong nhà đều mang đi bán hết để nuôi con và thăm nuôi chồng. Nghe hoàn cảnh cô ta thật tội nghiệp, là phận đàn bà trong giai đoạn đói nghèo nhiễu nhương của đất nước, nên tôi cho cô mượn một số tiền khá lớn để làm vốn buôn bán và trả dần lại cho tôi. Nhưng sau một thời gian khá lâu, không thấy cô liên lạc, nên tôi tìm đến nhà để đòi tiền lại. Khi vào nhà cô, thấy cảnh nhà trống vắng quạnh hiu, cô đang nằm trùm mền không ngồi dậy nổi. “Chị ơi em bị bệnh nặng quá, không có tiền mua thuốc uống, làm sao có tiền để trả cho chị đây! Em vẫn nhớ ơn chị đã cho mượn tiền, em không giựt tiền của chị đâu, em xin chị.” Tôi đứng lặng thinh, nhìn cô lòng không còn giận nữa mà tự dưng chạnh lòng muốn khóc. Tôi mở ví ra, lấy một số tiền cho cô ấy và dặn hãy mua thuốc uống ngay.

 

Tôi lặng lẽ ra về với nỗi thương tâm và tự nhủ là hãy cố quên đi số tiền đã cho cô ấy mượn. Đúng là đời sống đang quá khó khăn cơ cực, nhiều gia đình không có gạo ăn, chỉ độn khoai, sắn thì làm sao cô ấy có số tiền để trả lại cho mình. Rồi bản thân cô còn phải nuôi con, nuôi chồng cải tạo nữa! Từ đó cho đến khi tôi đi đoàn tụ với con trai, tôi không còn gặp lại cô ấy và cũng không biết hoàn cảnh của cô ấy bây giờ ra sao?

 

Sau đó không lâu, bất ngờ tôi lại được thêm một may mắn khác, có một người xa lạ ngẫu nhiên đến giúp mình. Đó là chị Năm, một cán bộ quản lý hãng bột nêm thay thế bột ngọt Vị Hương Tố trước năm 1975. Từ bột ngọt pha chế ra bột nêm để phân phối hằng tháng cho mỗi hộ gia đình. Chị Năm biết tôi là người thành tín nên thường mua bán với tôi không cần phải “tiền trao cháo múc.” Hồi đó, tôi không nghĩ “cho đi là nhận lại” hay “nhân

nào quả ấy”, mà đơn giản là chỉ giúp người trong lúc khó khăn và cũng chưa biết “từ bi hỷ xả” là thế nào. Cho nên

khi tôi được chị Năm giúp làm ăn, tôi chỉ nghĩ rằng mình có may mắn “ở hiền gặp lành”, hưởng được phước báu của ông bà để lại mà thôi!

 

Nhiều bạn bè, khi nghe tôi có giấy bảo lãnh đi Tây Đức vào tháng 11 năm 1985, đều khuyên tôi nên ở lại vì chỉ còn một thời gian ngắn nữa là đến thời kỳ mở cửa, giao thương buôn bán tự do. Ngay cả chị Năm cũng đề nghị tôi ở lại hợp tác làm ăn, chị sẵn sàng giúp tôi về mọi phương diện. Thế nhưng vì lòng thương con trẻ không có cha mẹ chăm sóc trên xứ người, nên tôi quyết định ra đi. Bạn bè cả trăm người bùi ngùi nước mắt tiễn đưa, vì ai cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày gặp lại. Chính tôi cũng buồn vì tưởng từ đây và mãi mãi sẽ mất hết những người thân yêu! Ngược lại cũng có nhiều người khác chúc mừng cho gia đình tôi đến được “thiên đàng tự do”…

 

***

Cuối năm 1985, chúng tôi đến định cư tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc Đức. Thật là một phước duyên, vì ở đó có Tịnh Thất Bảo Quang do Sư Bà - hồi đó là Sư cô Thích Nữ Diệu Tâm, đã đến định cư tại Hamburg vào năm 1984. Thời gian đầu, dù có lãnh phụ cấp xã hội, nhưng tôi vẫn phải đi làm vừa chăm sóc các con còn nhỏ. Họ hàng bên chồng ở Pháp thì hầu như không muốn trả lại số tiền sản phẩm mỹ nghệ mà tôi đã chuyển sang nhờ bán giúp, cũng như trong gia đình có người còn ích kỷ ganh tỵ tranh giành của cải, viết thư nhục mạ tôi thậm tệ. Nhiều lúc như vậy tôi không còn muốn sống nữa, nhưng vì trách nhiệm làm mẹ và lòng thương con bao la nên tôi phải cố chịu đựng, không dám tâm sự với ai. Cuối cùng tôi phải đến đảnh lễ Sư Bà, khóc lóc kể hết mọi khổ đau, thị phi nhân ngã, mang tiếng chịu lời để xin Sư Bà giúp tôi vượt qua đại nạn này. Sư Bà thấu hiểu hết nên thường dịu dàng nhắn nhủ: “Cô hãy cố gắng sống tốt, đừng quan tâm đến người khác nghĩ gì về mình, cũng không nên phản ứng gì trước những lời xúc xiểm miệt thị ta. Đó là họ chỉ cho ta thấy bản chất thật của họ, chứ không phải là bản chất của ta. Mỗi người có một nghiệp riêng, mà khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nhất mà họ sẽ phải gánh chịu. Cô hãy cố giữ bình tĩnh, yên lặng chịu đựng là cách tốt nhất, bởi vì một khi sân hận nổi lên thì muôn ngàn nghiệp chướng sẽ xảy ra.” Đó là hạnh nhẫn nhục mà tôi học được từ Sư Bà.

 

Thật ra tôi cũng học được chút ít giáo pháp của đức Phật nhờ tham dự vài ba khóa tu học Phật Pháp Âu Châu, hoặc được nghe nhiều thời pháp tại chùa Bảo Quang hay tại Tổ Đình Viên Giác của quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, hay nghe những thời giảng pháp trên mạng internet. Nhưng giáo pháp của đạo Phật mênh mông như đại dương, càng học tôi càng cảm thấy kiến thức của mình vẫn còn quá hạn hẹp, non kém…

 

Tôi viết bài này vào đầu tháng 6 năm 2022, nhằm ngày tiểu tường của Sư Bà Diệu Tâm, để tự nhắc nhở mình Sư Bà là nhân duyên để tôi học Phật và để mãi mãi tưởng nhớ đến Sư Bà với tất cả những hình ảnh đầy thương yêu, trân quý và tôn kính; mà những lời khuyên nhủ từ ái của Sư Bà đã xoa dịu nỗi muộn phiền và giúp tôi thêm nghị lực để sống… Để sống, để nhớ đến Sư Bà, nên hằng ngày trước các bữa ăn, tôi vẫn thường niệm “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành” để luôn giữ được tâm an tịnh giữa cuộc đời đầy nhân ngã thị phi… Và tôi cũng thầm nguyện với lòng mình “không làm các việc ác, nguyện làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch” để đền ơn Chư Phật, Thầy Tổ và các đấng sinh thành.

 

Phương Quỳnh (Diệu Thiện)

 

Giới thiệu sơ lược về tác giả Phương Quỳnh

           - Tên thật Nguyễn Thị Hiền, Pháp danh Diệu Thiện, bút hiệu Phương Quỳnh

- Cựu học sinh Phan Bội Châu, Phan Thiết

- Nghề nghiệp: Giáo Viên

- Định cư tại Hamburg, Đức Quốc từ năm 1985

- Giải thưởng hạng 2 cuộc thi “Viết Về Âu Châu”, chùa Viên Giác tổ chức năm 2002

- Tác phẩm “Những cây Bút Nữ 2” viết chung với Nhóm Bút Nữ, Viên Giác xuất bản năm 2014.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/09/2022(Xem: 593)
Tại Pháp, cơn đại dịch thực sự bắt đầu vào khoảng tháng ba năm 2020, với các lịnh phong tỏa, hạn chế những sinh hoạt bình thường của dân chúng như mua bán, di chuyển, tụ họp, ngay cả các công ty, công sở, các văn phòng cũng phải hạn chế số nhân viên, nhân công…Nhưng oái ăm thay, tại các bệnh viện thì bịnh nhân quá đông mà bác sĩ, y tá, phụ tá, cho đến hạ tầng cơ sở, các lao công lo phần vệ sinh, quét dọn cũng không đủ để đảm nhiệm cho xuể mọi công việc. Khởi đầu nạn dịch quả thật đem lại nhiều lo âu cho mọi người. Nhưng rồi, phía chính phủ cũng như dân chúng, ai cũng phải cố gắng, hi sinh để đương đầu với đại nạn. Và dần dà những khó khăn ban đầu cũng được khắc phục.
20/09/2022(Xem: 530)
Kẻ trí tuệ ít lỗi lầm và khi phạm lỗi thì nhận biết và tu sửa. Kẻ ngu si không biết lỗi lầm và khi nhận biết thì biện minh mà không hề tu sửa. -Kẻ trí tuệ trước mọi sự việc đều tìm hiểu và phân tích lợi-hại. Còn kẻ ngu si chỉ nhìn thấy lợi mà không thấy hại. -Kẻ trí tuệ biết đo lường thời thế. Còn kẻ ngu si thì làm bừa, khi thất bại lại đổ lỗi cho Trời. Tức khí nhảy ra đâm chém dễ. Nhẫn nhục chờ thời khó, “Khảng khái cần vương dị. Thung dung tựu nghĩa nan.” (Lý Trần Quán Tiến Sĩ đời Lê Trung Hưng) -Kẻ ngu si kết bạn bừa bãi, thường rủ rê đi các nơi ăn chơi như phòng trà ca vũ, quán nhậu, hát karaoke, hoặc tổ chức ăn nhậu ồn ào ở nhà khiến vợ con phải hầu hạ, buồn phiền. Rồi chỉ vì một cử chỉ hay lời nói gì đó mà vung dao giết nhau. Chính vì thế mà kẻ ngu si thường đem giặc cướp về nhà. Kẻ trí tuệ tiếp bạn một cách trang trọng. thanh lịch, lễ độ và chừng mực. “Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao điềm như mật”.
15/06/2022(Xem: 1479)
Bản ngã là một chủ đề từ lâu các nhà chú giải và quý giảng sư thường nhắc đến. Người viết chưa đủ khả năng lạm bàn, nhưng sở dĩ bài viết này có được…đó nhờ mục hỏi đáp của Trung tâm Hộ Tông với tiêu đề “ BẢN NGà VÀ ĐẠI NGÔ qua các câu hỏi của tứ chúng từ khắp nơi trong và ngoài nước gửi về và đã được Hoà Thượng Viên Minh hồi đáp.
24/02/2022(Xem: 3252)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
17/11/2021(Xem: 11320)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
13/11/2021(Xem: 6503)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/10/2020(Xem: 3059)
Bài viết này kính tri ân lời dạy của Sư Phụ Viên Mình trong bài pháp thoại “10 ba la mật “ và sự khuyến khích của Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng “hãy thọ trì đọc tụng Kinh Bát Nhã Ba La Mật và nghe các bài tổng luận “ đang được đăng tải trên trangnhaquangduc Kính đa tạ và tri ân quý Ngài và kính xin phép được trình bày những điều con học được và kính xin quý Chư Tôn Đức và các bạn đạo tha thứ cho sự mạo muội của hậu bối vì dám “múa rìu qua mắt “, nhưng con trộm nghĩ .
16/09/2020(Xem: 3801)
Một Phật tử tại gia như tôi không biết gặp duyên phước nào để có thể được ghi lại vài cảm nghĩ về một bài viết mà cốt lõi chính yếu nằm trong Duy Thức Học , một bộ môn khó nhất cho những ai đã theo Đại Thừa Phật Giáo chỉ đứng hàng thứ hai sau Bộ kinh Đại Bát Nhã và hơn thế nữa những lời dẫn chứng lại trích từ quý Cao Tăng Thạc Đức rất uyên bác trác tuyệt về giáo lý Phật Đà như Đệ lục Tăng Thống HT Thích Tuệ Sỹ và Cố Thiền Sư Nhật Bản Daisetz Teitaro Suzuki.
12/09/2020(Xem: 4606)
Cây danh mộc gumtree là đặc sản của Úc có nhiều loại như ta thường biết qua cây khuynh diệp, vì giống cây này đã được biến chế thành, dầu khuynh diệp trị cảm mạo hiệu quả. Chúng thường mọc tự nhiên thành rừng thiên nhiên, thân to cao, có loại vạm vỡ oai phong như lực sỹ trên võ đài, cho bóng mát cùng nhiều công dụng khác như xay thành bột chế tạo giấy các loại đa dụng, cũng như dùng làm cột trụ giăng dây điện trong nhiều thập niên qua, và đồng thời cũng là thức ăn ưa thích của loài mối (termites) nên con người hơi ngán mấy “ông thần nước mặn” này lắm. Từ này tự chế ám chỉ loài côn trùng bé nhỏ hay cắn phá làm hại hoa màu của giới nhà nông dãi dầu một nắng hai sương như chuột, chim, châu chấu, sâu rầy… cũng để gán cho những kẻ ngang bướng đều bị dán nhãn hiệu đó.
17/06/2020(Xem: 4941)
Tuy được duyên may tham dự khoá tu học Phật Pháp Úc Châu kỳ 19 tổ chức tại thủ đô Canberra và Ngài Ôn Hội Chủ thường xuyên hiện diện với hội chúng, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp đảnh lễ Ngài dù đã nhiều lần làm thơ xưng tán hoặc bày tỏ cảm nghĩ của mình khi đọc được tác phẩm được in thành sách hoặc trên các trang mạng Phật Giáo .
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,277,631