Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tinh thần cầu nguyện trong Kinh Vu Lan

11/04/201311:19(Xem: 1249)
Tinh thần cầu nguyện trong Kinh Vu Lan

Tuyển tập bài viết về Vu Lan - 2011

Tinh thần cầu nguyện trong Kinh Vu Lan

Quảng Tánh

Nguồn: Quảng Tánh

Kinh Vu Lan (Ullambana Sutra), một bản kinh ngắn nhưng hàm súc, tràn đầy ý nghĩa nhân văn, chan chứa đạo lý, thấm đẫm tình người và đặc biệt là giá trị giáo dục nhân cách với đặc trưng hiếu đạo. Vì thế, kinh Vu Lan đã chinh phục lòng người, in đậm trong tâm trí, thấm sâu vào máu thịt của tất cả những người con Phật.
Xuất phát từ Phạn ngữ, kinh Vu Lan được ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmaraksa) dịch sang Hán ngữ vào thời Tây Tấn (thế kỷ III Tây lịch). Sau đó, kinh được truyền tụng rộng rãi và thu phục nhân tâm nhanh chóng, làm tiền đề để mở ra truyền thống Báo hiếu - Thắng hội Vu Lan, phổ biến ở các nước Phật giáo Bắc tông.
Kinh Vu Lan thuật chuyện Tôn giả Mục Kiền Liên với thần lực đệ nhất mà vẫn không cứu được mẹ nơi cảnh khổ ngạ quỷ. Sau đó, vâng lời Phật dạy, Tôn giả đã thiết lễ trai nghi dâng cúng chư Tăng sau lễ Tự tứ, kết thúc mùa an cư kiết hạ, nhờ hợp lực chú nguyện của chư Tăng mà mẹ ngài thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ, sanh về cõi trời. Phát xuất từ nhân duyên này, cúng dường Vu Lan để báo hiếu cho cha mẹ quá vãng trở thành một trong những phương pháp báo hiếu phổ biến hiện nay.
Vấn đề đặt ra là phương pháp báo hiếu được Phật giới thiệu trong kinh Vu Lan phải chăng chỉ dựa vào tha lực, tức nhờ chư Tăng chú nguyện mà được thoát khổ? Như thế thì điều ấy có mâu thuẫn với nhân quả-nghiệp báo không? Trong khi “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” hay tự lực vẫn là tinh thần chủ đạo, xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ Thánh điển Phật giáo.
Nói về cầu nguyện, quan điểm của Thế Tôn được trình bày rất rõ ràng trong kinh Tương Ưng Bộ IV (Tương ưng thôn trưởng) và kinh Tăng Nhất A Hàm I (kinh Ca Di Ni). Nội dung của hai bản kinh này khá giống nhau, đều xác quyết rằng cầu nguyện suông, dựa vào tha lực không thể làm thay đổi nghiệp báo của một cá nhân. Bằng hình ảnh cụ thể với những đặc tính đối lập, một tảng đá và một thùng dầu, cả hai được ném xuống dòng sông, đá nặng chìm xuống và dầu nhẹ nổi lên. Không có một sự tập trung cầu nguyện nào có thể can thiệp vào sự chìm của đá và sự nổi của dầu, vì đặc tính của đá và dầu vốn dĩ như thế. Qua đó, Thế Tôn khẳng định nếu tạo nghiệp đen thì chịu quả báo đen và tạo nghiệp trắng thì được hưởng quả báo trắng, cầu nguyện không thể làm thay đổi nghiệp lực, nhất là khi nghiệp đã chín muồi. Rõ ràng, cầu nguyện để mong giải tội, xóa sạch ác nghiệp đã tạo, phó thác hoàn toàn vào tha lực như các Bà la môn hằng tin tưởng là một việc làm vô ích.
Tuy nhiên, cầu nguyện vẫn là một trong những nội dung tu tập trong đạo Phật. Sự cầu nguyện ấy phải được nhận thức như là sự mong ước chuyển hóa nghiệp lực đối với tự thân đồng thời soi sáng, hỗ trợ cho tha nhân chuyển hóa nghiệp lực của chính họ, kể cả người chết. Và như thế, nội dung cầu nguyện trong Phật giáo không đơn thuần và hời hợt thuần tuý dựa vào tha lực hoàn toàn mà chủ yếu là tinh thần tự lực cùng với trợ duyên của tha lực. Ai đã từng cầu nguyện thì kinh nghiệm rõ ràng là không phải bất cứ điều gì mình cầu nguyện cũng được như ý. Theo Phật giáo, đó không phải vì chư Phật, Bồ tát không gia hộ mà người cầu nguyện phải xem xét sự tự lực của mình đã đạt đến ngưỡng để “cảm ứng đạo giao” hay chưa? Cảm ứng đạo giao là kết quả của quá trình nỗ lực, thành tâm, tịnh tín và chuyển hóa trọn vẹn. Cầu nguyện trong Phật giáo, có thể nói là một phương pháp đánh thức, thức tỉnh để chuyển hóa mang đậm sắc thái tự lực.
Đối với sự cầu nguyện của chư Tăng được đề cập trong kinh Vu Lan, trước hết phải quán triệt vấn đề “nhất thiết duy tâm tạo”. Từ nơi tâm, những ác nghiệp của bà Thanh Đề (mẹ tôn giả Mục Kiền Liên) được tạo ra rồi tự chiêu cảm lấy quả báo. Gió nghiệp làm quay cuồng và mụ mị tâm thức của bà nên chỉ luẩn quẩn trong vòng tròn khép kín đói khát, khổ bức cùng tham sân, bỏn sẻn, tật đố. Sự thống khổ bức bách cùng cực đến độ không một sát-na ngừng nghĩ. Vì thế, cần phải làm lắng dịu nổi khổ và đánh thức sự mê mờ triền miên ấy. Do đó, cần có sức mạnh tâm linh cao độ, phát huy tổng thể năng lượng Giới Định Tuệ của chư Tăng, tập trung hướng về để tưới tẩm, soi sáng, thức tỉnh tâm hồn bà.
Để thực hiện được điều ấy, thỉnh cầu chư Tăng chú nguyện sau lễ Tự tứ là tối cần thiết. Sau ba tháng cấm túc an cư, nhất là sau Tự tứ, đa phần chúng Tăng đều có tiến bộ tâm linh rõ rệt, Giới Định Tuệ sung mãn, tâm hoàn toàn thanh tịnh. Thời Thế Tôn tại thế, số lượng chư Tỷ-kheo dự phần vào các quả Thánh tăng lên đáng kể sau mỗi mùa an cư. Khi chư Tăng hợp lực chú nguyện, nguồn năng lượng tuệ giác và từ bi hướng về cảnh giới ngạ quỷ, tưới tẩm cam lộ làm cho nóng bức trong địa ngục dịu xuống, niệm đói khát như lửa cháy thiêu đốt tâm can tạm thời an tịnh, tâm thức mê mờ triền miên chợt bừng tỉnh. Đây là cơ hội quý giá thật hy hữu cho các chúng sanh trong cảnh khổ thức tỉnh, chuyển hóa để tự vượt thoát. Trong thời điểm ấy, khi sự đau khổ tạm thời gián đoạn nếu các chúng sanh biết tận dụng cơ hội hiếm hoi này phát khởi thiện tâm, tưởng nhớ đến Tam bảo, tuệ giác được sanh khởi thì tự khắc sự chuyển hóa sẽ xảy ra.
Do ác tâm keo kiệt, bỏn xẻn, tham lam và bất kính Tam bảo tạo ra chiêu cảm đói khát, khổ bức của ngạ quỷ thì cũng ngay nơi tâm ấy thức tỉnh, bừng sáng để chuyển hóa và giải thoát. “Nhất thiết duy tâm tạo” là vậy. Chư Tăng chỉ có vai trò soi sáng, trợ duyên, tiếp sức cho quá trình chuyển hóa đó, mang tính thụ động. Chính các chúng sanh phải chủ động tỉnh thức để chuyển hóa nghiệp lực của mình. Trong trường hợp, những chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, chấp nhận lấy khổ làm vui, không phát khởi tuệ giác thì chắc chắn sự giải thoát khó có thể thành tựu.
Ác tâm đẩy một chúng sanh sa vào địa ngục, ngạ quỷ thì thiện tâm của chúng sanh ấy đưa họ ra khỏi cảnh khổ. Không ai có thể làm thay họ chuyện này mà mỗi cá nhân phải nương vào nguyện lực, sức từ bi của Tam bảo để tự cứu lấy mình. Dù hoàn toàn chủ động, tự lực nhưng các chúng sanh trong cõi khổ rất cần sự hồi hướng phước báo, nhất là sự trợ duyên và soi sáng từ Tam bảo, vì thế không thể thiếu sự hợp lực chú nguyện, gia hộ của chư Tăng. Đây chính là tinh thần cầu nguyện trong kinh Vu Lan.
Do vậy, muốn pháp sự cúng dường Vu Lan để báo hiếu cho thân bằng quyến thuộc quá vãng có lợi ích thiết thực phải hội đủ các yếu tố cần thiết. Trước hết là sự thành tâm tịnh thí của gia chủ. Sự tịnh thí không phải ở nơi vật phẩm dâng cúng nhiều hay ít mà là tâm thành, nguyện thiết, mong muốn thân nhân thoát khổ với lòng hiếu thảo thực sự. Tiếp đến là sự nhất tâm cầu nguyện của chư Tăng. Bởi nếu không nhất tâm thì nguyện lực bi trí không đủ mạnh để xoa dịu thống khổ và khai mở tuệ giác cho chúng sanh thức tỉnh. Quan trọng nhất vẫn là sự tiếp nhận nguồn năng lượng an lạc, giải thoát từ Tam bảo để chúng sanh tự thức tỉnh, chuyển hóa và tự thăng hoa.
Như thế, dù có hình thức cầu nguyện nhưng nội dung vẫn mang sắc thái tinh thần tự lực. Đây là tuệ giác cần phải thẩm sát để nhận thức đúng đắn về tinh thần cầu nguyện trong Phật giáo.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/09/202016:01(Xem: 308)
Vào sáng ngày 06/9/2020 (nhằm 19 tháng 7 âm lịch), tại ngôi chùa còn mới lạ mang tên Kỳ Viên Khánh Phú, tại xã Khánh Phú, huyện miền núi Khánh Vĩnh, đã diễn ra buổi lễ Vu Lan Báo Hiếu - Cúng Dường Trai Tăng, với đầy đủ nghi thức trang nghiêm, cùng các tiết mục “Bông Hồng Cài Áo”, “Dâng Hoa Cúng Dường” mang đậm niềm tôn kính tri ân, và tình yêu thương rộng lớn của những người con Phật luôn hướng về một ngày mai tươi sáng an vui dưới Ánh Đạo Vàng…
09/09/202015:22(Xem: 387)
Ghi lại hình ảnh và video tổ chức Lễ Vu Lan tại Tự Viện Pháp Bảo Sydney - Chủ Nhật, Ngày 30 Tháng 8, Năm 2020. Tổ chức trong không gian và điều kiện khiêm tốn (dưới 100 người như Chánh Phủ Úc, Tiểu Bang NSW đã quy định) trong mùa COVID. Chương Trình: • Thông Bạch Vu Lan 2020 • Đạo Từ của Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo VNTN UDL TTL • Nghi Thức Cài Hoa Hồng • Tụng Kinh Vu Lan • Hồi Hướng - Hoàn Mãn Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Đạo tràng Phật tử Tự Viện Pháp Bảo chúng con xin thành kính niệm ân: HT Thích Bảo Lạc Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL – TTL kim Phương Trượng Pháp Bảo Tự Viện TT Thích Phổ Huân - Trụ Trì Thiền Lâm Pháp Bảo SC Thích Nữ Giác Anh - Quyền Trụ Trì Pháp Bảo Tự Viện Quý Sư Cô Giác Duyên, Giác Trí, Giác Niệm Sư chú Thanh Ngộ, Cô SDN Diệu Lai Đã tham dự chứng minh cho Lễ Vu Lan đặc biệt mùa Corona 2020 được thập phần viên mãn. Chúng con, chúng tôi cũng xin cảm tạ tri ân: Anh HT Chúc Tâm, chị HT
06/09/202016:10(Xem: 450)
Kính thưa quý thân hữu, Sương Lam rất kính quý hạnh nguyện giúp Đời trợ Đạo của Thầy Thích Tánh Tuệ qua thơ văn, qua những công tác cứu đói dân nghèo Ấn Độ trong mùa dịch COVID 19 và xây giếng nước cho dân nghèo Ấn Độ trong thời gian qua.
06/09/202013:03(Xem: 798)
Lễ Vu Lan PL 2564 (2020) tại Thiền Viện Minh Quang, Adelaide Nam Úc Chủ Nhật 06/09/2020 (19/07/Canh Tý). Viện Chủ Hoà Thượng Thích Minh Hiếu, Trụ Trì Đại Đức Thích Minh Hải.
06/09/202012:12(Xem: 381)
Sáng ngày 05/9/2020 (ngày 18 tháng 7 năm Canh Tý, PL 2564), chùa Đại Bảo Trang Nghiêm đã tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu do Hòa thượng trụ trì Thích Đỗng Tuyên chủ lễ. Chương trình buổi lễ gồm có: Lễ quy y cho hai Phật tử nhỏ tuổi là: Lê Nguyễn Aria Ever Len, sinh năm 2017, pháp danh Bảo Hân; và Nguyễn Đức Bình An, sinh năm 2012, pháp danh Bảo Huy. Hòa thượng chủ lễ niệm hương bạch Phật Tụng kinh và sám Vu Lan Hồi hướng Cúng thí thực cô hồn Tụng kinh Mông sơn thí thực Hồi hướng Chụp ảnh tập thể lưu niệm Hoàn mãn Buổi lễ diễn ra trang nghiêm, thành kính.
06/09/202010:36(Xem: 155)
Thông Bạch Vu Lan 2020 (Phật lịch 2564)
06/09/202007:53(Xem: 285)
Sám Vu Lan Phổ nhạc: Nhạc sĩ Võ Tá Hân Trình bày: Ban Đạo Ca Chùa Giác Ngộ
05/09/202016:47(Xem: 377)
Đây là Mùa Vu Lan thứ bảy mà Ba đã rời xa chúng con nhưng các con của Ba vẫn luôn nhớ về Ba, một Người Cha suốt đời tận tụy lo lắng và thương yêu con cháu và anh em cũng như mở rộng tấm lòng đối với bà con, láng giềng. Hòa vào kỷ niệm "Ngày Nhớ Ơn Cha" của Úc Châu, QT xin chia sẻ câu chuyện về một tấm lòng của Người Cha xin kính dâng tặng Hương Linh Ba Nguyên Bửu và những Người Cha đã quá vãng hay còn hiện tiền vào Ngày Nhớ Ơn Cha Đặc Biệt này. Kính nguyện quý vị cùng gia đình Mùa Vu Lan nhiều an lành. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
05/09/202013:15(Xem: 176)
Ngày Rằm Tháng Bẩy Đại Lễ Vu Lan Con Thắp Nén Nhang Gửi Nhớ Về Trời Vô cùng Nhớ Mẹ ! Con ngồi lặng lẽ Con ngồi rất lâu Con nghĩ gì đâu !
05/09/202009:57(Xem: 316)
Rằm tháng Bảy. Lễ Vu Lan Báo Hiếu... Một mình một xe tà tà rong ruổi theo Quốc Lộ I vô hướng Nam, tôi ghé đến 3 ngôi chùa vùng quê vắng vẻ, để lễ Phật, cúng dường pháp bảo, lạy sám hối và cảm tạ "tứ trọng ân"… - Chùa thứ nhất, là chùa Tịnh Quang, ở xã Suối Hiệp, huyện Cam Lâm, thượng tọa Thích Tâm Hiến trú trì. Chùa đang vào lễ tụng kinh Vu Lan, phật-tử miền quê về dự càng về trưa càng đông, có cả những người con Phật từ những nơi phố hội xa hoa cũng đi ô-tô về dự lễ cài bông hồng tưởng nhớ Cha Mẹ, phóng sanh tạo phước, nam phụ lão ấu ngồi san sát nhau từ bên trong điện ra ngoài sân, ngôi chùa nhỏ "cải gia vi tự" càng thấy chật hẹp và nhỏ bé lại... Ngoài sân, lễ cúng thí thực đã được thiết bày sẵn trang nghiêm với tôn tượng đức Địa Tạng, Tiêu Diện Đại Sĩ và hoa quả bánh trái chè xôi sắc màu hòa quyện đan xen hoa cả mắt... Hình ảnh những cụ già ngồi bên các cháu nhỏ, cùng chắp tay quý kính hòa âm hòa điệu với nhau nhịp nhàng để tụng hồi kinh Vu Lan Bồn từ những bản kinh thuần Việt