Nghĩ về Vua Thức Ý Tâm (bài viết mới nhất của HT Thích Bảo Lạc, do Phật tử Quảng Hương diễn đọc)

05/04/202020:49(Xem: 19689)
Nghĩ về Vua Thức Ý Tâm (bài viết mới nhất của HT Thích Bảo Lạc, do Phật tử Quảng Hương diễn đọc)

Duc The Ton-9
Nghĩ về Vua Thức Ý Tâm

Bài viết của HT. Thích Bảo Lạc

Diễn đọc: Cư Sĩ Quảng Hương

Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước





 

 

 

Luận Đại Thừa Trăm Pháp do Bồ tát Thế Thân (TK IV TL) tạo, nêu rõ tám thức Tâm vương hàm Tâm Ý Thức thuộc ngành tâm lý – Duy Thức Học và là một tông phái: Duy Thức Tông - thuộc Đại Thừa Phật Giáo. Tâm Ý Thức như trở thành một đề tài lớn, quan trọng, bàn cãi bất tận lâu nay trong giới Phật học thuộc tâm lý học. Bồ Tát Thế Thân tạo luận, lập Du Già Hành Tông ở Ấn Độ, và sau 3 thế kỷ, Pháp sư Huyền Trang du học sang Ấn Độ, học tông này với Ngài Giới Hiền tại Đại học Na Lan Đà (Ấn Độ) năm 626 Tây Lịch. Sau khi trở về nước (TH), Huyền Trang lập Duy Thức Tông và truyền thừa cho Khuy Cơ (632-682), xiển dương giáo nghĩa lưu truyền hậu thế.

Pháp sư Huyền Trang (602-664) là nhà Phật học lỗi lạc, uyên thâm giáo lý Đại Thừa về vạn pháp, nghiên cứu tường tận, phân tích chi ly hai phần Pháp tướng và Pháp tánh. Pháp tướng là tướng trạng của vạn pháp: Tâm, Ý, Thức, Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp v.v… Pháp tánh hay Pháp tính là thực tướng Chân như hay còn gọi là Pháp giới, Niết Bàn. Theo định nghĩa Pháp tính là nói về thể, cái thể không đổi, nên Chân như là thể của muôn pháp hàm cả nhơ, sạch nơi loài hữu tình hay loài phi tình, tính nó không đổi, không biến nên gọi là Pháp tánh. Pháp tánh này phần nhiều Tiểu thừa không đề cập đến, nhưng các nhà Đại thừa thì bàn cãi rất sôi nổi như các Ngài Từ Ân, tông Pháp Tướng; Gia Tường, tông Tam Luận; Hiền Thủ tông Hoa Nghiêm và Ngài Trí Khải tông Thiên Thai. Mỗi vị có một sắc thái riêng vì là Tổ của bốn tông thật đa diện, mở rộng cho những nhà nghiên cứu Phật Học sau này. Tựu trung, Pháp tánh gồm đủ cả thiện lẫn ác nên sinh ra các pháp có nhiễm, có tịnh.

Pháp tánh rộng khắp và có nhiều tên gọi khác nhau như: Pháp giới, Pháp tánh, Bất hư vọng tánh, Bất biến dị tánh, Bình đẳng tánh, Ly sanh tánh, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không giới (theo kinh Đại Bát Nhã), còn theo Duy Thức luận gồm có bốn như: Thắng nghĩa, Chân như, Pháp giới, Thực tế.

1.Tâm Ý Thức khác hay giống nhau?

Câu hỏi rất quen thuộc đối với người học Phật xưa nay, dù có câu trả lời của luận chủ Thế Thân qua luận Đại Thừa trăm pháp, nhưng vẫn có người nêu hỏi, vì tâm thuộc về tâm thức như nói “tâm viên ý mã” dù không hình dung được nhưng biết nó vô cùng nhạy bén, linh lợi, dẫn dắt ta đi vào đường tà, mê cung không lối thoát. Bởi vì:

    

" Phàm phu có mắt như mù, 

Có tai như điếc, miệng vù như câm

Mũi quen ngửi mãi cứ lầm, 

Lưỡi ưa nếm vị chốc mòng khổ tâm 

Thân hay xúc chạm ân cần 

Ý hay dao động pháp trần quẩn quanh 

Mạt na thứ bảy đàn anh 

A lại Da thứ tám thành chủ ông " 

(Thơ của Sông Thu TBL)

Cả tám thức, mỗi thức đều có phần hành riêng, quyền hạn cũng bao hàm hầu trọn vẹn, nhằm nói lên các pháp hữu lậu của ba cõi sáu đường trong kiếp luân hồi. Tâm theo luận 100 pháp gồm 5 vị: Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Tâm bất tương ưng hành và Vô vi pháp. Nhưng, tâm – ý - thức chỉ thuộc vị thứ nhất: Tâm vương, Tâm vương gồm có 8 thức: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, Mạt na (thức thứ bảy) và A Lại Da Thức chỉ chung 8 thức Tâm vương, là điểm thứ nhất, khác nhau về danh số: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý mỗi căn liền theo thức, nên gọi chung 6 thức này là Thức, là điểm thứ hai, thức Mạt na thứ bảy gọi là Ý, do bảo vệ tự ngã, phát triển tự ngã và yêu cầu người khác tôn trọng tự ngã. Theo luận Đại Thừa 100 pháp thì người nào cũng đều như thế, cho nên giữa ta và người đấu tranh không dừng, làm cho thế giới điên đảo, biến động, bất an; riêng thức A Lại Da thứ tám gọi là Tâm, vì nó được ví như kho chứa (tàng hay tạng thức) lưu giữ hạt giống thiện, ác. Và thứ ba, khác nghiệp dụng như tâm có thể tạo nghiệp thiện, có thể tạo nghiệp ác. Theo luận Khởi Tín nói: Tâm động thì có tên là nghiệp, và nêu thí dụ, nếu có người ngồi tịnh, tuy thân miệng không động, có thể tâm đang đánh tan vọng tưởng, động niệm, đây chính là tạo nghiệp. Động niệm thiện tạo nghiệp thiện. Động niệm ác thời tạo nghiệp ác, đi xuống ba đường ác. Con người của ta, tâm niệm lúc thiện, lúc ác, nên có thể lên, có thể xuống, vĩnh viễn trong sáu đường luân hồi, hụp lặn trong biển khổ không ngừng. Thế nhưng, đâu phải chỉ có lục phàm luân hồi do tâm biến chuyển ấy, mà thành tựu tứ thánh cũng từ sự hẹp hòi hay rộng dung của cái tâm ấy. Vì sao? Nếu hành giả phát tâm chán ghét, xa lìa thì đó là Thanh Văn, Duyên Giác của Tiểu Thừa; còn như phát tâm Bồ Đề thì đó là Bồ Tát của Đại Thừa. Chỉ có phát tâm Bồ Đề mới thành tựu Phật quả vô thượng (Luận Đại Thừa 100 pháp do Lê Hồng Sơn dịch, trang 60 & 61).


HT Bao Lac
Tác giả: HT Thích Bảo Lạc





Hầu hết chúng ta đều nghĩ và nhận rằng tâm là trái tim bằng da bằng thịt ở trong thân. Hoặc có người cho rằng tâm ngoài thân, như Tôn giả A Nan trả lời Phật qua 7 lần nhận tâm đều lầm trong Kinh Lăng Nghiêm. Phật bác tâm trong thân và cũng bác luôn, nếu tâm ở ngoài thân thì thân với tâm riêng biệt, không liên lạc mật thiết nhau. Như thế, cái gì thân biết, tâm không biết; cái gì tâm biết thân không biết. Nhân đó Phật giơ tay lên cho A Nan nhìn thì cả mắt và tâm đều thấy tay Phật cùng một lúc, nên biết tâm không ở ngoài thân. A Nan lại cho rằng, nếu vậy, cái tâm trong nhãn căn (con mắt) cũng bị Phật bác. Lần thứ tư, A Nan cho rằng tâm ở cả trong lẫn ngoài thân. Phật nêu thí dụ: Khi ông nhắm mắt thấy tối, cái tối ấy có ở trước mắt không? Nếu ở trước mắt, thì cái tối ở trước mắt chứ không ở trong thân được, cũng như ông ở trong nhà tối, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng hay đèn, các vật trong nhà tối đều là phủ tạng của ông hay sao? Còn như cái tối không đối với mắt ông, làm sao gọi thấy tối? Lần thứ năm, A Nan nghĩ rằng tâm không ở trong, ngoài và chặng giữa, mà tuỳ hợp, nghĩa là cái suy nghĩ là tâm, hễ nó hợp với chỗ nào thì tâm liền ở nơi đó. Phật bác, vì tâm không có thực thể nên không tùy hợp được. Lần này, tôn giả A Nan tự cho rằng, nếu tâm không ở trong cũng không ở ngoài, vì tâm cùng biết với thân đồng lúc, hẳn phải ở chặng giữa. Nói chặng giữa, nhưng A Nan không xác định được chặng giữa ở chỗ nào? Nó ở cảnh hay ở thân? Vì ở cảnh hay thân đều không nêu lên được đích xác, thì cũng như không có chỗ, còn giả như nêu lên được cũng không nhứt định chỗ nào là chặng giữa. Cuối cùng, Ngài A Nan bạch Phật rằng, như lời Phật dạy: Cái tâm hay biết, phân biệt không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, không ở chỗ nào cả. Vậy cái tâm ấy hoàn toàn không dính mắc đâu cả. Tất cả những suy nghĩ của A Nan qua 7 lần tìm tâm như thế hoàn toàn không thỏa đáng.

Ý có nghĩa là suy tư phân biệt bao trùm mọi tác dụng tâm lý cùng sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cả tám thức: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, Mạt na và A Lại da (alaya) đều có chung tác dụng: Niệm niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn, nên ý cũng gọi là Tâm hay thức đều không gì trở ngại. Nếu ý được dùng làm chỗ y cứ cho cơ năng nhận thức gọi là ý căn, là một trong 6 căn (trong 12 xứ gọi là ý xứ, trong 18 giới gọi là ý giới).


2. Nghiệp dụng tâm thức từ phàm lên thánh: Chừng nào tâm còn nàng phiền não ba độc ngự trị, sai sử thì, lúc đó ta vẫn đang còn loay hoay hụp lặn trong nhiễm ái của sanh tử, đến khi chuyển được 8 thức: 5 thức trước thành: Sở tác trí, thức thứ 6: Diệu quan sát trí, thức thứ 7: Bình đẳng tánh trí, thức thứ 8: Đại viên cảnh trí mới đủ lực chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển vô minh thành Giác Ngộ để trở thành hàng Thánh Giả.

Không thể nào so sánh giữa Phật và chúng phàm phu về mặt tu chứng, ở đây chỉ có thể khái niệm tâm thức giữa Thánh – Phàm phân thành hai vế cho dễ phân biệt:

 

Tâm phàm phu

Có hạn lượng

Hẹp hòi, ích kỷ

Khép chặt

3 nghiệp bất tịnh

Nhiễm 3 độc tham, sân, si

Tự lợi

Tham lam tích chứa

Bất an thường trực

Sống khổ não

Kế thừa gia nghiệp

Tâm Phật Thánh

Vô hạn giới

Từ bi, lợi tha

Rộng mở bao dung

3 nghiệp thanh tịnh

Giải thoát khỏi 3 độc

Lợi tha

Bố thí ban phát

An nhiên tự tại

Sống an lạc

Thừa tự tuệ giác.

 

Từ đó ta có thể rút tỉa thành những bài học cần thiết, quí giá như: Mưu toan bị thất kế, tính lừa người liền gặp quả báo tương xứng, hãm hại người bị luật pháp trị phạt tùy tội nặng nhẹ xử phân, bố thí được nhiều điều lợi lạc ở hiện tại và về sau như tiền tiết kiệm gởi ở ngân hàng… Mặc dù vậy, luật pháp thế gian vẫn chưa giải quyết công bằng tội phạm, bởi thiếu liêm chính, công minh, chỉ có luật nhân quả là minh bạch, chính xác ở hiện tại cũng như trong tương lai gần hoặc xa, nhằm khuyến thiện, trừ ác. Do vậy, người có tu tập tụng niệm kinh chú, niệm Phật, tham thiền hẳn có tâm chứng. Chẳng hạn Kinh Dược Sư tuy ngắn gọn mà Đức Thế Tôn vẫn cặn kẻ gia tâm, phân tích lợi hại giữa nhân và quả cho người hành trì tiện so sánh, hầu tránh gây tạo ác nghiệp, mà hổn danh là hắc nghiệp, đối nghịch lại là bạch nghiệp - nghiệp sáng tịnh giải thoát. Đối tượng Phật giảng giải Kinh Dược Sư cho Mạn Thù Thất Lợi, cùng bốn chúng trì tụng, học hỏi để chuyển đổi nghiệp ác thành nghiệp thiện.

Theo Kinh Dược Sư, Đức Thế Tôn giảng giải phần bố thí hay không bố thí, có lợi hay bất lợi như thế nào, rất rõ ràng ta cần phải học hỏi, quán chiếu:

“Đức Thế Tôn bảo Mạn Thù Thất Lợi đồng tử rằng, có những chúng sanh không biết điều lành dữ, cứ ôm lòng bỏn sẻn tham lam, không biết bố thí, mà cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin lòng đã không muốn, nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lắt thịt cho người vậy. Lại có vô lượng chúng hữu tình tham lẫn, chỉ lo tích trữ của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến sự bố thí, kể cả người thân…”

Bố thí là ban cho người của cải, giáo pháp và tâm vô úy hay nói cách khác là tài thí, pháp thí, vô úy thí, cho nên bố thí cũng gọi là cúng dường cho những bậc trên như Phật, chư Tăng, cha mẹ hay cho những ai cần, và nhờ đó các vị an ổn tu hành, cầu nguyện phước lành đến người cúng dường. Bố thí trừ diệt tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt, khinh mạn, do lòng từ bi rộng rãi khi trao món quà tới người nhận bằng tâm hoan hỷ, chia sẻ hiểu biết. Người làm hạnh bố thí như vậy sẽ được quả báo giàu có, ít bịnh, sống lâu, gia đình hiếu thuận an vui hạnh phúc. Trái lại, người không biết điều lành dữ thì tham lam, bủn xỉn thấy kẻ xin tới liền xua đuổi, mắng rủa nặng lời hoặc nếu có cho cũng với thái độ hống hách, khinh thường như muốn tống khứ đi cho khuất mắt. Vì thiếu đức tin nên luôn tiếc của, tự cho cái gì của mình cũng đều quí giá còn hơn vàng, nên muốn tom góp vào thật nhiều nhưng lại không muốn cho ra. Thậm chí việc ăn tiêu của mình cũng không dám xài thì có đâu đem của cho người, cho dù những kẻ ấy là cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc; đã vậy lại còn muốn vơ vét, bòn rỉa của người thân, nếu có cơ hội chẳng kể gì tội lỗi, quả báo, cứ phớt tỉnh làm càng, như kinh văn nêu rõ:

“… Nếu có những người nào thọ các giới của Phật để tu học mà phá giới, phá phép tắc, hủy hoại chánh kiến, bỏ sự đa văn, có thói tăng thượng mạn, che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình phải, người khác quấy, chê bai Chánh pháp, kết đảng với ma. Những kẻ ngu si ấy tà kiến mà lại còn khiến cho nhiều người cũng bị sa vào hố nguy hiểm, khi chết bị đọa vào 3 đường dữ: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Mặc dầu ở trong ác thú, nhưng nhờ đời trước sống trong cõi nhân gian, đã từng nghe qua danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà nay lại còn nhớ niệm đến danh hiệu Ngài thì liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người”.

Chiêm nghiệm quả báo nhãn tiền là nói tắt ngang, thật ra chúng nằm trong ba thời kỳ: Hiện báo ngay bây giờ; sanh báo chờ thời gian chín muồi như người gieo hạt giống phải đợi đủ ngày tháng mới thu hoạch; thời kỳ thứ ba, hậu báo phải chờ lâu hơn qua năm tháng quả mới trổ sanh. Do vậy những người làm ác mà thấy ra hậu quả liền biết sợ sệt như sợ đau khổ, túng quẩn, côi cút, tật nguyền, thù ghét… và trở lại làm việc bố thí, cũng như khen ngợi, tán thán người khác bố thí nên không tham tiếc như trước kia nữa. Bây giờ là cơ hội tốt cho người bố thí, không những cho của cải, tiền bạc, thuốc men, quần áo, chỗ ở, đồ ăn uống, hay công ăn việc làm thuộc ngoại tài do mồ hôi nước mắt tạo thành; lại tiến xa hơn còn đem cho cả đầu mắt, tay chân, máu thịt, các cơ phận … để cứu người thuộc nội tài. Nhờ vậy, kẻ tiếc của giờ đây đủ cơ duyên hành bố thí cho những người cần; và tự xem của cải chẳng đáng giá gì, chỉ cần phát tâm rộng rãi, từ bi, khoan dung, hiểu biết là đầy đủ tất cả nghĩa như ta thường nghe câu “Chọn người giao đúng việc, vật cho đúng đối tượng”. Lẽ dĩ nhiên, người bố thí quên của bố thí, người nhận của và mình là người cho cũng thế, có như vậy việc bố thí mới hàm nghĩa chân chánh trong niềm tin Chánh Pháp giải thoát của Như Lai.


3. Thánh phàm dung thông:

Một bài kệ đáng chú ý nhất của Kinh Hoa Nghiêm như:

Nhược nhơn dục liễu tri

Tam thế nhứt thiết Phật

Ưng quán Pháp giới tánh

Nhứt thiết duy tâm tạo.

Dịch nghĩa:

Nếu người muốn hiểu rõ

Chư Phật trong ba đời

Nên quán tánh Pháp giới

Hết thảy do tâm tạo.

Trong bài kệ đặc biệt có hai cụm từ “Pháp giới tánh” và “duy tâm tạo” mà cổ kim Thánh hiền đã bỏ bao tâm huyết, năng lực và tuệ giác, kể cả thân mạng trong công hạnh tu trì, thành tựu chứng đạt như Đức Thế Tôn và Thánh chúng đệ tử của Ngài, lưu lại hậu thế một gia tài đồ sộ, đó là di sản giác ngộ tâm như chúng ta đang thừa hưởng. Gia sản vĩ đại cao quý ấy xài mãi vẫn không hết mà lại còn làm cho phong phú hơn, nếu hàng hậu bối biết kế thừa thông minh với Tâm – Ý - Thức có chắt lọc tu tập đúng pháp, là bắt được mạch nguồn tâm linh của Thầy - Tổ - Phật với sứ mạng kế thừa xứng đáng. Nhờ đó không còn thấy có sự xa cách giữa Phật và chúng sanh, phàm và Thánh mà tất cả đều dung thông, như nước của muôn dòng đều đổ về biển cả hòa nhập thành một vị, đó là vị giải thoát. Trước đây Ngài A Nan bị nạn Ma Đăng Già quấy rối, Phật phải dùng Thần chú Thủ Lăng Nghiêm giải nạn, rồi nay lại kẹt pháp tu định không tự giải thoát nên thỉnh cầu Đức Thế Tôn chỉ giáo:

A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận q.105 Đại Chánh Tạng cuốn 27 tr 542 Đức Thế Tôn dạy A Nan pháp định Tam Ma Địa (Samadhi) có dẫn câu chuyện dòng họ Thích bị tiêu diệt như thế này:

“…A Nan theo hầu Đức Phật luôn ở bên cạnh Đức Thế Tôn nghe giảng về pháp Tam Ma Địa (Samadhi) cho chí Phật còn giảng rộng nhiều hơn thế. Tuy nhiên A Nan vẫn còn nghi ngờ không biết mình có tiếp nhận được không nên cầu thỉnh Phật chỉ dạy. Phật bảo rằng ông khéo hay thọ trì những gì Như Lai giảng dạy, nhưng cần phải dứt khoát không hồ nghi…”

Vì sao Phật dạy thế? Vì pháp định Tam Ma Địa là Chánh định lìa trạo cử hay dao động, nếu tâm còn nghi ngờ tức chưa định, nên người hành trì cần phải nhiếp tâm mới thành tựu. Vấn đề là tâm Ngài A Nan chưa đủ định lực nên buồn lo dòng họ Thích bị tiêu diệt, mà nguyên nhân là do ông vua ác tên Tỳ Lô Trạch Ca gây ra, như phá hủy thành Ca Tỳ La, sát hại cả dòng họ Thích. A Nan đã chứng kiến cảnh điêu tàn đổ nát như cung điện trở thành gò hoang, lầu quán đổ nát, thành quách ngửa nghiêng, cửa nẻo hư hoại sụp đổ… Quang cảnh hoang tàn vắng vẻ; thậm chí các loài chim bay, thú chạy cũng tìm cách trốn lánh xa không dám xuất hiện. Với cảnh những bé trai gái mồ côi cha mẹ cùng những người thân khác, chạy theo A Nan kêu khóc thảm thiết, chúng bày tỏ nỗi khổ mất cha mất mẹ, cùng người thân, không có ai nương tựa, cậy nhờ. Thảm nạn xảy ra không những chỉ mất nhà cửa, của cải, xóm giềng bà con, mà còn mất cả nhân mạng, kể cả các vị xuất gia, đạo sĩ bị giết lên tới hàng chục vạn người… Đó là nguyên nhân khiến A Nan phân tâm nên không giữ được chánh định. Trái hẳn với tâm lo lắng của A Nan, Đức Thế Tôn đủ cả oai lực, dung dị tự tại hiện ra như luận dẫn:

“Đức Thế Tôn từ tốn an nhiên, sáu căn nhàn tịnh, tuệ giác vững trụ như núi, tâm Ngài thư thái, nhiếp niệm an bình, các căn điều hòa vững chãi, chăm chú an tường, Ngài vào thành nhập định tu quán các pháp hữu vi vô thường hoại diệt.

A Nan quán sát tư thái Thế Tôn sáng rỡ lạ thường, nhan sắc Ngài tươi tắn mát dịu làm sao, nên liền tự nghĩ: Đức Thế Tôn với ta cùng nơi sinh quán, cùng bà con thân thuộc, thì việc mất còn, tan hợp… cùng giống nhau thôi.  Thế nhưng Thế Tôn lại an nhiên bất động vững trụ như núi, còn ta lại bị khổ não thế này! Hẳn là Phật phần nhiều nhờ an trụ trong Không Tam Ma Địa, còn Ta thì luôn tưởng nghĩ tới thành trì. Phật nghĩ tưởng nơi nhàn tịnh, A Nan này nghĩ tới người thân; Phật nghĩ trung dung, A Nan nghĩ tới chúng hữu tình. Phật nghĩ tưởng pháp viên mãn rốt ráo nên Ngài an nhàn bất động như núi”.

Vấn đề cho thấy rõ sự sai biệt giữa bậc Thánh giải thoát với người tu chưa đủ công phu. Cho dù nhập định, hành trì, nhưng một đàng nhắm hướng nội, còn một đàng luôn hướng ngoại, như người nấu cát muốn thành cơm không bao giờ được. Phật biết rất rõ tâm A Nan cùng chúng Tỳ kheo do không biết tu thiện, Ngài từ tốn thong thả đi tới thành Thất La Phiệt và tạm dừng chân ở Lộc Mẫu Tinh Xá. Lúc đó A Nan vẫn còn sầu khổ chưa dứt, liền đến chỗ Phật và bày tỏ rằng, con nhớ lại trước kia có lần cũng chính con đây trong lúc đang nghe Phật giảng pháp mà tâm cứ lo buồn nên con có điểm hồ nghi mong Ngài chỉ dạy: Con cũng thường tu pháp Không Tam Ma Địa, nhưng không biết đó là pháp không gì? Có thuyết nói trụ trong không chỗ hành không và cùng bốn oai nghi hợp với Pháp Không này. Có phải đây là pháp mà Phật luôn an trụ? Con theo đúng lời Phật dạy, trụ bản tánh Không quán bản tính Pháp không vô ngã mà vẫn thấy sự biến hoại vô thường cứ vẫn không hết lo buồn. Nhân đấy Phật dạy A Nan cùng chư Tỳ kheo phải dứt trừ vọng niệm:

- Nghĩ tưởng cung thành lầu quán đổ nát, hoại diệt vô thường tâm không định.
- Nghĩ tưởng người thân thuộc, bằng hữu, lân lý xóm giềng, nói chung là loài hữu tình ly tan, tử biệt làm tâm bất an không thể nhập định thiền quán.

4. Kết luận:

Pháp tánh như đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, không gì khác hơn là các phẩm tâm mà không phân biệt tâm nào, chúng bao hàm hết thảy như vua và quần thần, bề tôi kề cận không rời nhau, như có thơ đề:

Thử xem tám pháp Tâm vương

Như vua một nước đảm đương trị vì

Bao gồm các Bộ, Sở, Ty

Điều hành, sắp đặt, thực thi, chế tài

Mắt thân, mũi, lưỡi, cùng tai

Trông nghe ngửi nếm hòa hài chạm va

Thức thứ sáu quan sát qua

Thu vào chọn lựa Mạt na sẵn sàng

Dẫn đầu A Lại Da Tạng

Duy thức học ví thức tàng chứa dung

Phần hành tập trung ba dạng

Năng tàng, sở tàng, ngã ái chấp tàng

Đi trong sanh tử Niết Bàn

Xuống lên đọa lạc trần gian nổi chìm

Si mê ảo ảnh kiếm tìm

Nghịch lưu thánh cảnh về miền Chân Như…

(Thơ: Tâm Vương - Sông Thu TBL)

 

Tóm lại, thức là hiểu biết phân biệt và tất cả tám thức đều có công dụng hiểu biết phân biệt. Ý có nghĩa sanh diệt tương tục không gián đoạn mà cả tám thức đều niệm niệm sanh diệt tương tục cả. Như vậy, Tâm, Ý, Thức theo đặc tính mỗi thức thì thức thứ tám có nghĩa “tích tập” thù thắng nên gọi là Tâm, còn thức thứ bảy về nghĩa sanh diệt tương tục nên gọi là ý, và sáu thức trước về nghĩa phân biệt thù thắng nên gọi là Thức. Thức, Ý, Tâm hay Tâm, Ý Thức nói khác chỉ khác nhau hình thức, giống nhau về nghiệp dụng vậy.

 

Thích Bảo Lạc

Thiền Lâm Pháp Bảo – 23/3/2020, Sydney.

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

- Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức do H.T Huyền Dung dịch.

- Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm HT Trí Tịch dịch, Chùa Khánh Anh Pháp tái bản

- Kinh Lăng Nghiêm, Tuệ Quang dịch do nhóm Phật tử Sydney tái bản năm 1992, Australia.

- Luận Đại Thừa bách pháp nguyên tác Thế Thân Bồ Tát – Cư sĩ Hồng sơn dịch, Hồng Đức phát hành tại Saigon. năm 2013.

- Thơ: Hạt cát mịn của Sông Thu do Pháp Bảo xuất bản năm 2014 tại Sydney.

- Phật Quang Đại Từ điển cuốn 6 do HT Quảng Độ dịch do TT Văn Hóa Phật Giáo Linh Sơn Đài Loan, ấn hành năm 2000.

- Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh cuốn 27, A Tỳ Đại Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận q.105 Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán, T. Bảo Lạc dịch tiếng Hán sang tiếng Việt tháng 3 năm 2020 tại Sydney.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/02/2026(Xem: 2604)
Mặc dù con đường thức tỉnh tâm linh là một hành trình đầy thách thức nhưng cũng đầy ý nghĩa. Gần đây không biết một đại cơ duyên nào đã đến với tôi, khi tìm kiếm nghe bài giảng từ nguồn giáo lý của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sau khi nghe độ chục bài , tôi phát tâm phiên tả lại và sắp xếp lại cách phân đoạn cho đúng theo lời Ngài, thì chợt nhận ra có một lợi lạc vô cùng, vì khi phiên tả có những đoạn không hiểu tôi đã tìm về nguồn kinh sách mà ngày xưa mình đã học hỏi với các minh sư.
08/12/2025(Xem: 1889)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 3916)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2196)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
31/05/2025(Xem: 3139)
“Đào tạo thanh, thiếu, đồng niên trở thành người Phật tử chân chính nhằm xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo.” Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam không phải là một khẩu hiệu suông. Đó là một tuyên ngôn giáo dục – tâm linh – xã hội sâu sắc. Từng từ trong câu mục đích là một viên gạch xây nên lý tưởng và phương hướng hoạt động của tổ chức. Để thực sự thực hành đúng vai trò Huynh Trưởng, chúng ta cần thẩm thấu từng khía cạnh sau:
31/05/2025(Xem: 1554)
Trong đạo Phật, sự tự do nội tâm, tỉnh thức trong thực tại và giác ngộ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Đức Phật không lập giáo điều, không lập giáo hội,không áp đặt niềm tin, cũng không thiết lập một cơ chế tổ chức mang tính quyền lực hay mệnh lệnh. Ngài chỉ chỉ bày con đường như ngón tay chỉ mặt trăng: Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo – con đường đưa đến thân lạc tâm an, tỉnh thức mọi lúc và giải thoát khổ đau. Vì thế, tất cả những văn bản, văn kiện, định chế như Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
25/04/2025(Xem: 3556)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
22/04/2025(Xem: 3478)
Trong quá trình tiếp cận những vị đạo sư kính quý, người viết đã bao lần theo dõi từ ngày trên những chuyến hoằng pháp của quý Ngài hoặc trên đất Âu Châu, hay thi thoảng đến đất nước Hoa Kỳ để rồi đã tự hỏi : “Phải chăng việc hoằng pháp đòi hỏi sự chia sẻ và hợp tác giữa người nghe và người giảng?” Vì sao vậy ? Theo sự tham cứu người viết được biết : Chia sẻ là một đặc tính có sẵn trong mỗi con người chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối, tạo ra xã hội loài người, học hỏi lẫn nhau, phát triển, tăng cường tri thức thay đổi nhận thức xã hội tốt hơn, và thành công hơn trong cuộc đời ( Share là cách chúng ta dạy những gì chúng ta biết, thu nhận phản hồi củng cố kiến thức ta có và đồng thời giúp đỡ người khác (Information Acquisition).
19/10/2024(Xem: 6290)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.
19/10/2024(Xem: 9590)
Tứ y pháp (四依法; S: Catuḥpratisaraṇa; E: The four reliances) là 4 pháp phương tiện quan trọng theo quan điểm của Phật giáo Bắc truyền, với mục đích giúp hành giả rõ biết pháp nào nên hoặc không nên nương tựa, nhằm thành tựu giác ngộ, giải thoát.