Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tìm Pháp Thích Nghi Để Tu

04/01/202020:59(Xem: 2774)
Tìm Pháp Thích Nghi Để Tu


Phat thuyet phap

Tìm Pháp Thích Nghi Để Tu

Nguyên Giác

 

Bài viết nhan đề “Góp Ý Với Sư Cô Thích Nữ Thanh Tâm” của Cư sĩ Thiện Quả Đào Văn Bình trên mạng Thư Viện Hoa Sen hiển nhiên là nhiều thiện ý, đã đưa ra các nhận định mang tính xây dựng. Từ đó, tất nhiên có phản ứng, và những ý kiến trái nghịch được đưa ra. Trong mọi trường hợp, tất cả những dị kiến nên xem như chuyện bình thường.

Một ngày sau khi bài của tác giả Thiện Quả Đào Văn Bình lên mạng, tôi nhận được một cú điện thoại từ nhà văn Chân Huyền (một vị giáo thọ Làng Mai) hỏi ý kiến về bài viết trên, và rồi nói một số điểm nhìn từ những gì chị hiểu biết. Tôi đáp rằng, tôi có cơ duyên được biết tác giả Thiện Quả Đào Văn Bình là một nhà văn nổi tiếng, cũng là một vị tu học rất nghiêm túc, những gì anh viết lên đều từ thiện ý. Tôi cũng đáp rằng sẽ ghi nhận những lời chị Chân Huyền nói cho minh bạch toàn cảnh về ngộ nhận thường có về “thiền ôm”… Đó là lý do có bài viết này, và sẽ dựa vào chánh pháp để thảo luận.

Trước tiên, xin tâm sự rằng bản thân tôi có giao tình rất mực thân thiết với Thầy Giác Thanh, một học trò lớn đã quá cố của Thầy Nhất Hạnh. Bản thân cũng đã tận lực hỗ trợ cho Làng Mai trong các chuyến đi hoằng pháp tại Việt Nam, và luôn luôn xem anh Chân Văn và chị Chân Huyền vừa là anh chị trong đạo và vừa là hai vị trưởng thượng trong nghề báo hải ngoại. Đồng thời, tôi cũng luôn luôn nhìn Cư sĩ Thiện Quả Đào Văn Bình như một vị đại sĩ hộ pháp rất mực tôn quý. Do vậy, bài viết này sẽ thảo luận về vấn đề rộng hơn: rằng mỗi người sẽ có một pháp thích nghi riêng, rằng không phải pháp nào cũng thích nghi với tất cả mọi người.

Trước tiên, xin ghi lời nhà văn Chân Huyền:

--- Không hề có chuyện “ôm nhau ngồi thiền” tại Làng Mai.

--- Sau khi Thầy Nhất Hạnh được góp ý từ một số vị tôn túc tại Việt Nam, “Thiền ôm” chỉ còn là một pháp ứng xử giữa cư sĩ, trong khi các tu sĩ Làng Mai không còn dùng nữa.

--- Thầy Nhất Hạnh không ưa chuyện thị phi, và Thầy không hề có ý vướng vào các chuyện tranh cãi. Chị Chân Huyền kể rằng Thầy Nhất Hạnh thường nói với học trò chuyện Sư Cụ Thanh Quý (Chùa Từ Hiếu) truyền đăng cho Thầy Nhất Hạnh năm 1960 qu bài kệ 4 câu, với hai câu đầu là “Nhất hướng phùng xuân đắc kiện hành / Hành vô hành hạnh, diệc vô tranh” trong đó pháp hiệu Thầy Nhất Hạnh có trong cả hai câu (Phùng Xuân / Hạnh)…

Và bây giờ, xin phép thảo luận rộng hơn.

*

Thầy Nhất Hạnh đã nghĩ ra nhiều chữ gây chú ý: Thiền lạy, Thiền lái xe, Thiền ăn, Thiền quít, Thiền rửa chén, Thiền tắm, Thiền ôm, và vân vân. Chữ “Thiền” trong các nhóm chữ đó có nghĩa là “Chánh niệm”… Khi dịch sang tiếng Anh, Thầy dùng chữ “mindfulness”…

Thí dụ, “Thiền tắm” được Thầy Nhất Hạnh giải thích như sau, trích:

Chúng ta có thể đặt tên cho phương pháp này là thiền tắm. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, khi bước vào nhà tắm chúng ta hãy tắm một cách thật chánh niệm, đừng có vội vã tắm cho nhanh để đi ăn tối hoặc đi làm cái khác. Chúng ta phải biến nhà tắm thành thiền đường và hai mươi hay ba mươi phút ấy là những giờ phút rất thiêng liêng. Chúng ta buông thư tất cả những căng thẳng trong thân và trong tâm, mỉm cười để cho những tia nước mát hoặc những tia nước ấm phả vào người mình, gột sạch đi những bụi bặm trên thân và làm lắng dịu những lao xao trong tâm. Sau khi bước ra khỏi nhà tắm ta sẽ trở nên tươi mát, sảng khoái vì trong lúc tắm những trị liệu đã xảy ra.

Chánh niệm là một loại năng lượng mình có thể chế tác ra được trong mỗi giây phút, trong khi đi, khi ngồi, khi ăn cơm, khi làm việc… Có chánh niệm rồi thì ta mới có khả năng nhận diện, chăm sóc, chữa trị cho những nỗi khổ niềm đau.” (1)

Như thế, là để “chữa trị cho những nỗi khổ niềm đau.”

Có phải, nếu chỉ như thế, tất cả các tín đồ tôn giáo khác đều có thể ứng dụng được? Hình như thế, vì trong sách “An Lạc Từng Bước Chân” Thầy Nhất Hạnh có viết về chánh niệm trong “Bí tích Thánh thể” do Chúa Jesus thiết lập cho các linh mục Thiên Chúa Giáo. Nghĩa là, Thầy Nhất Hạnh giản lược các yếu tố Phật Giáo để chỉ còn yếu tố “tỉnh thức” cho tất cả mọi người ứng dụng trong mọi trường hợp.

 

Tương tự, Thầy Nhất Hạnh viết về "Thiền ôm" với nhịp ba hơi thở trên trang Làng Mai tiếng Anh, trích:

“We may practice hugging meditation with a friend, our daughter, our father, our partner or even with a tree. To practice, we first bow and recognize the presence of each other. Then we can enjoy three deep conscious breaths to bring ourselves fully there. We then may open your arms and begin hugging. Holding each other for three in-and-out breaths. With the first breath, we are aware that we are present in this very moment and we are happy. With the second breath, we are aware that the other is present in this moment and we are happy as well. With the third breath, we are aware that we are here together, right now on this earth, and we feel deep gratitude and happiness for our togetherness. We then may release the other person and bow to each other to show our thanks.” (2)

Nơi đây, xin phép dịch như sau: “Chúng ta có thể thực tập Thiền ôm với một người bạn, với con gái của mình, với bạn tình (hay phối ngẫu), hay ngay cả với một thân cây. Để thực tập, chúng ta trước tiên cúi đầu chào và nhận diện sự có mặt của nhau. Rồi chúng ta vui trong ý thức về ba hơi thở sâu để tỉnh thức tròn đầy nơi đó. Ôm nhau trong ba hơi thở vào và ra. Với hơi thở đầu tiên, chúng ta ý thức rằng chúng ta hiện diện trong khoảnh khắc này và chúng ta hạnh phúc. Với hơi thở thứ nhì, chúng ta ý thức rằng người kia có mặt trong khoảnh khắc này và chúng ta hạnh phúc. Với hơi thở thứ ba, chúng ta ý thức rằng chúng ta cùng nhau có mặt nơi đây, ngay lúc đó trên mặt đất, và chúng ta cảm nhận ơn sâu và hạnh phúc vì cùng bên nhau. Rồi chúng ta có thể buông người kia ra và cúi chào nhau để bày tỏ lòng cảm ơn.”

.

Thực ra, giữ Chánh niệm trong mọi trường hợp – nghĩa là, trong khi đi đứng nằm ngồi – là lời Đức Phật và chư Tổ dạy. Nghĩa là, Thiền suốt ngày, cả sáng trưa chiều tối, là hạnh tinh tấn. Tuy nhiên, các Tổ sư không định danh về  nhiều thứ Thiền như thế. Vì bất kỳ ngôn ngữ nào hiện lên đều dựng thêm một bức màn ý thức ngăn che thực tại. Còn chuyện thường định là tất nhiên của hạnh người tu Thiền.

Thí dụ, trong Chương Ngộ Tánh Luận, trong sách Thiếu Thất Lục Môn, bản dịch HT Thích Thanh Từ, nơi trang 129-130 trên bản PDF, trích như sau:

Nếu người biết sáu căn không thật, ngũ uẩn là giả danh, toàn thể mà cầu ắt không có định xứ (tức là không có chỗ nhất định), phải biết người này hiểu được lời Phật nói. Kinh nói rằng: “Ở trong nhà ngũ uẩn ấy là Thiền viện. Ở trong chiếu soi mở sáng, tức là cái cửa Đại thừa. Chẳng nhớ tất cả pháp mới gọi là Thiền định.” Nếu rõ được lời nói này thì đi, đứng, nằm, ngồi đều là thiền định. Biết tâm là không [thì]  gọi là thấy Phật.” (3)

Bản phiên âm Hán Việt là: “Nhược liễu thử ngôn giả, hành, trụ, toạ, ngoạ giai thị thiền định. Tri tâm thị không, danh vi kiến Phật.” (Nếu hiểu được  lời nói đó, thì đi đứng nằm ngồi đều là thiền định. Biết tâm là Không, thì gọi là Thấy Phật.) Đây cũng là lời Đức Phật dạy trong nhóm Kinh Nhật Tụng Sơ Thời, được tứ chúng tụng kinh hàng ngày trong khi Đức Phật sinh tiền.

.

Có một thực tế, chúng ta nên thấy rằng không nên ứng dụng “Thiền ôm” với bất kỳ ai. Vì không phải ai cũng cầm lòng đặng trong ba hơi thở khi ôm người khác phái. Thêm nữa, tâm phân biệt sẽ khởi lên. Thí dụ, ôm em bé hôi mùi sữa, sẽ khác với ôm một ông cụ nằm bệnh nhiều ngày chưa tắm gội. Trong khi đó, nếu nam và nữ thực tập ôm nhau, dị tâm sẽ sinh khởi: mùi hương tóc, mùi nước hoa, làn da mịn khi áp mặt vào nhau, vòng tay sau lưng sẽ nhận ra các lằn áo nịt ngực, và vân vân. Nếu có ai không khởi dị tâm, hẳn là bậc thánh hay đã mấp mé bậc thánh rồi.

Thực sự, khi ôm một người thân (như ba mẹ, con cháu, người hôn phối…) sẽ sinh ra thọ lạc (cảm thọ về vui sướng), và cảm thọ này có thể giúp tạm thời xoa dịu các nỗi đau, giúp tạm thời tạo được sự cảm thông giữa các quan hệ tình cảm (như tình bạn, tình mẹ con, cha con…). Nhưng thọ lạc về thân có thể sẽ dẫn tới nguy hiểm.

Trong Trung Bộ, Kinh MN 22, bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu ghi lời Đức Phật dạy rằng khi thọ dụng các dục (niềm vui các căn ở thân xác: mắt thấy đẹp, tai nghe du dương, mũi ngửi hương thơm…) tất nhiên sẽ khởi ra các dục tưởng (sensual perception) và dục tầm (sensual thinking). Đức Phật nói không thể nào thọ dụng dục (sensual pleasures, vui sướng với các căn) mà không niệm về dục (dục tưởng) cũng như không nghĩ ngợi lan man về dục (dục tầm).

Trích Kinh MN 22, bản dịch Thầy Minh Châu, nói về bất khả này: “Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.” (4)

Kinh MN 22, bản Anh dịch của Sujato, nói về bất khả này: “Truly, mendicants, it’s not possible to perform sensual acts without sensual pleasures, sensual perceptions, and sensual thoughts.” (4)

Kinh MN 22, bản Anh dịch của Bodhi, nói về bất khả này: “Bhikkhus, that one can engage in sensual pleasures without sensual desires, without perceptions of sensual desire, without thoughts of sensual desire—that is impossible." (4)

Kinh MN 22, bản Anh dịch của Thanissaro, nói về bất khả này: “For a person to indulge in sensual pleasures without sensual passion, without sensual perception, without sensual thinking: That isn't possible.” (4)

Đặc biệt, Đại sư Thanissaro trong ghi chú số 4 dưới Kinh MN 22 đã viết rằng có một Luận thư ghi rằng các hành vi bày tỏ ưa muốn tính dục như ôm và vỗ về đều bị cấm (the Sub-commentary adds that other acts expressing sexual desire — such as hugging and petting — should be included under this phrase as well).

Hiển nhiên, Thầy Nhất Hạnh không có ý vẽ đường cho hươu chạy, vì Thầy trong phần hướng dẫn “Thiền ôm” dịch ở trên đã gạt bỏ yếu tố “sexual desire.” Nhưng lằn ranh sẽ rất là mong manh đối với người đời thường.

.

Có một yếu tố nữa nên thấy: trong khi giữ tâm tỉnh thức cao độ, các vui sướng ở các căn sẽ tăng cao độ. Và đó là lý do các bác sĩ tâm lý đang viết các loại sách về, kiểu như, “Tỉnh thức trong tình dục” để tăng cảm thọ cao độ nơi các căn. Và cũng mở các khóa hướng dẫn dùng Thiền tỉnh thức để tăng thọ lạc.

Nếu vào trang Amazon, chọn “Books” (Sách) và gõ nhóm chữ “mindfulness for sex” (tỉnh thức để vui sex) sẽ thấy có 905 cuốn sách có bìa có các chữ liên hệ:

--- 1-16 of 905 results for Books: "mindfulness for sex"…

Do vậy, chúng ta nên tránh để người đời thường chỉ nghe qua tin đồn “Thiền ôm” rồi suy nghĩ sai trái về tứ chúng nhà Phật. Thậm chí, thời này, ai cũng có điện thoại thông minh, chỉ cần một tấm ảnh “ôm nhau” cũng sẽ gây sóng gió ngộ nhận.

.

Tới đây chúng ta cũng nên nói rằng những người chưa hiểu sâu giáo lý, trong khi Thiền định, đặc biệt là Niệm Thọ, có thể dễ dàng ngộ nhận khi gặp ảo cảnh. Như trường hợp cô Megan Vogt, 25 tuổi, khoảng 10 tuần sau khi tham dự khóa Thiền 10 ngày theo phương pháp của ngài Goenka đã tự sát vì có ảo tưởng rằng cô cần chết để cứu mạng gia đình cô. Và cô không phải trường hợp duy nhất tự sát sau khi dự khóa Thiền.

Sau đó là những cuộc thảo luận bùng nổ trên các mạng về Thiền tập. Bản tin về cô Vogt và thảo luận của các mạng Thiền tập có links ở (5).

Thực ra, chúng ta không thể kết luận tổng quát, vì mỗi trường hợp đều có những yếu tố cá biệt. Nhưng nếu theo đúng lộ trình Văn (Học giáo pháp), Tư (Suy nghĩ, biện biệt) và Tu (Giới, Định, Huệ) thì không bao giờ trở ngại. Chưa hiểu giáo lý, chưa tin nhân quả, chưa tin Tam bảo, chưa quy y thọ giới, thì không nên vào thẳng các Thiền thất. Trong mọi trường hợp, điều chúng ta cần nhất là: ly dục. Thà tránh xa, hơn là thử nghiệm.

GHI CHÚ:

(1) Thiền tắm: https://langmai.org/thien-duong/hanh-phuc-la-con-duong/thien-tam/

(2) Hugging Meditation: https://plumvillage.org/extended-mindfulness-practises/

(3) Thiếu Thất Lục Môn: https://thuvienhoasen.org/images/file/0P2hpp1G0QgQAHwt/thieuthatlucmon.pdf

(4) Kinh MN 22, bản của HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn22/vi/minh_chau

Bản Sujato: https://suttacentral.net/mn22/en/sujato

Bản Bodhi: https://suttacentral.net/mn22/en/bodhi

Bản Thanissaro: https://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.022.than.html

(5) --- Did 10-day meditation retreat trigger woman's suicide?

https://www.pennlive.com/news/2017/06/york_county_suicide_megan_vogt.html  

--- Discussion after the suicide:

https://www.dharmaoverground.org/discussion/-/message_boards/message/6387143  

--- Discussion on Vipassana forum: Bad experience at Goenka retreat

https://www.vipassanaforum.net/forum/index.php?topic=672.0

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/12/202122:49(Xem: 421)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/202107:50(Xem: 1749)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/202120:16(Xem: 718)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/202120:37(Xem: 461)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/202104:25(Xem: 706)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/202118:59(Xem: 631)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/202110:22(Xem: 2170)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
01/09/202118:55(Xem: 1395)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
22/08/202121:31(Xem: 556)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/202117:33(Xem: 860)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.