Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Võ phái Hồ Công

29/01/201817:07(Xem: 367)
Võ phái Hồ Công

ton vinh vo thuat co truyen viet nam


Võ phái Hồ Công
 
Châu Yến Loan

 

Quan hệ gắn bó Nghệ An – Quảng Nam không chỉ thể hiện ở mặt Văn học mà còn để lại những dấu ấn sâu sắc nơi Võ học. Bên cạnh các thầy Đồ Nghệ dày công vun đắp cho văn học Quảng Nam phát triển rực rỡ còn có các võ sư xứ Nghệ đã giúp cho nền võ học Quảng Nam trở nên lừng lẫy một thời với các võ sĩ “bất khả chiến bại” trên võ đài và đóng góp nhiều vào sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc.

Tại làng Châu Bí (nay là xã Điện Tiến, huyện Bàn, tỉnh Quảng Nam) nằm dưới chân núi Bồ Bồ, được bao bọc bởi hai con sông Bình Phước và sông Yên,  có một dòng tộc đã sáng chế ra những thế võ độc đáo, xây dựng dòng tộc mình thành một dòng võ nổi tiếng, đó là võ phái Hồ Công.

Tương truyền, người khai sáng ra võ phái này là tướng quân Hồ Công Sùng. Ông xuất thân từ làng Quỳnh Đôi, Nghệ An làm quan dưới triều nhà Mạc đến chức Đô chỉ huy sứ. Đầu thế kỷ XVII, ông từ quan dẫn ba người con trai là Hồ Công Vạn, Hồ văn Bền (người thứ ba không biết tên) đều là tướng quân vào miền đất Châu Bí khai hoang lập làng cùng các vị tổ họ Dương, Trần, Nguyễn. Thủa ấy, đất này là rừng thiêng, nước độc, nhiều thú dữ, nên ông phải tìm cách tự vệ, và việc đánh rắn, đuổi cọp trên núi Cấm đã được ông đúc kết kinh nghiệm, sáng chế ra những thế võ độc đáo, có tên là võ Long Xà.

“Những thế võ đó hầu hết được mô phỏng từ những thế trườn, quật, bắt mồi của loài rắn, phối hợp cương nhu làm cho thân pháp của người luyện võ dẻo dai, uyển chuyển như rồng cuộn trong mây. Khi ra đòn thấy nhẹ như bông nhưng thực chất thì đối phương đón đỡ nặng tựa ngàn cân.

Đặc điểm võ nghệ của Hồ Công Sùng truyền lại là luồn lách nhập nội, đánh đòn ngắn, hiểm độc, có hiệu quả thực dụng, những đòn dài chỉ là đòn gió đề luồn lách”... (1)

Võ Long Xà không truyền cho người ngoại tộc, kể cả con gái họ Hồ cũng không được học những thế võ bí truyền ấy, chỉ có con cháu trai mới được đặc truyền. Mãi cho đến đầu thế kỷ XX, do yêu cầu của lịch sử, võ sĩ Hồ Công hầu hết tham gia các phong trào yêu nước chống xâm lược, họ đã đem kỹ thuật chiến đấu bí truyền của môn phái ra huấn luyện cho nghĩa quân, do đó quy luật “ngoại tộc bất truyền” mới được bãi bỏ.

Trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 do hai chí sĩ Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo, tộc Hồ Châu Bí có nhiều người tham gia. Các ông Hồ Công Cung, Hồ Quảng Ngôn, Hồ Xuyến cùng với các ông Phan Phú Dinh và Phan Bá Thiều mở các lớp dạy võ tại Cấm Lớn huấn luyện nghĩa quân cho phong trào.(2)

Võ phái Hồ Công ở Châu Bí đã đào tạo cho Quảng Nam những võ sĩ tài ba, danh tiếng lừng lẫy, “bất khả chiến bại” như Hồ Hương, Hồ Cưu, Hồ Cập…

 

Võ sư Hồ Hương, truyền nhân đời thứ 7 của võ phái Hồ Công, rất giỏi thuật phi thân (khinh công). Hai tay xách hai giỏ đựng đầy đá, ông nhún mình một cái tức thì từ dưới đất vọt lên trên nóc nhà. Thời ấy, khi trong làng, xã có nhà bị cháy, ông tung người nhảy lên các mái nhà bên cạnh, giở tranh ném xuống đất để khỏi bị lửa cháy lan. Trong trường hợp khẩn cấp, ông có thể "bốc" từng người ném lên các mái nhà để họ cùng giở tranh với ông.

Ngoài việc rèn luyện tinh thông quyền pháp võ Long Xà, Hồ Hương còn học thêm võ thuật với một võ sư người Pháp tên là Big Bag. Sau gần một năm rèn luyện, Big Bag nói rằng đã dạy hết các thế võ cho Hồ Hương chỉ còn dành lại một tuyệt chiêu để “phòng thân”. Nếu Hồ Hương đánh trúng ông 5 roi thì ông sẽ dạy nốt tuyệt chiêu này. Hồ Hương suy nghĩ, tìm tòi sáng chế ra 5 đường roi tuyệt kỹ công phu, khi giao đấu với thầy, 5 đường roi xuất ra một cách thần tốc, tài tình làm cho võ sư Big Bag không kịp trở tay phải nhận đủ 5 đòn vào người.(3)

Võ sư Hồ Công Vinh lại kể rằng: "Ở phủ Điện Bàn có một ông quan võ gọi là Đội Du, rất giỏi về Roi. Nhân chuyến về quê, ông Đội Du thách ông Hồ Hương đấu roi với ông vào dịp lễ hội của phủ Điện Bàn. Dân chúng trong phủ nghe tin ai cũng háo hức đợi xem. Trong khi tập luyện chuẩn bị lên sàn, ông Hồ Hương đã sáng chế được 5 “đường roi” tuyệt kỹ. Đến ngày thi đấu, 5 đường roi được triển khai như giông bão, khiến ông Đội Du tối tăm mặt mày, phải bó tay chịu thua trong chốc lát.

Ông Hồ Hương cùng với các ông Đoàn Cử, Nguyễn Phổ lập ra Hội Võ và tổ chức đấu võ tại đình làng Châu Bí vào các dịp Tết Nguyên Đán đầu thế kỷ XX, làm cho phong trào dạy võ, học võ ở đây lên rất cao.(4)

 

Võ sư Hồ Điệp, vừa là học trò vừa là cháu gọi ông Hồ Hương bằng bác ruột, ông học võ với bác từ năm 7 tuổi. Ông là truyền nhân đời thứ 8 của võ phái, và đã đào tạo rất nhiều võ sĩ lừng danh trên các võ đài như: Hồ Cưu, Hồ Cập, Hồ Hiểu, Hồ Phước, Hồ Hồng Quang, Hồ Ôn, Hồ Dần... Trong những võ sĩ xuất sắc  có Hồ Cưu và Hồ Cập là 2 anh em ruột.

Võ sư Hồ Điệp là người tài ba, đức độ, ngoài 90 tuổi mỗi ngày vẫn múa roi đi quyền. Năm 2001, ông bị ốm rồi qua đời, hưởng thọ 100 tuổi.

 

Võ sư Hồ Cưu sinh năm Quý Sửu (1913), chết năm Mậu Tý (22-1-1948) còn gọi là “Thắng Cưu”. Mỗi khi bước lên võ đài, đặt bút ký bản cam kết “chết không khiếu nại”, bao giờ ông cũng mỉm cười tự tin và cuối cùng luôn là người chiến thắng.

Từ năm 14 tuổi, ông theo học với chú ruột là võ sư Hồ Điệp gần 10 năm trên đỉnh Đồi Mồi. Ông nổi tiếng với biệt tài “hốt ngựa” túm đối phương ném xuống đài. Từ năm 1935 đến năm 1940, Hồ Cưu đã giành được các danh hiệu Vô địch Quảng Nam, Vô địch miền Trung, Vô địch miền Nam, và trong 2 năm 1937-1938, Hồ Cưu vô địch trận đài 5 xứ Đông Dương (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cambodia và Lào) do Pháp tổ chức.

Danh tiếng Hồ Cưu đã làm cho nhiều môn phái khác ghen tị. Một hôm võ sư Quỳ ở làng Cẩm Sơn biết Hồ Cưu đi Hạ Nông (Kỳ Lam), liền tập hợp thêm 3 võ sư và 70 võ sinh, mang theo vũ khí, đón tại đình Thái Cẩm trên đường về Châu Bí, quyết tâm hạ sát Hồ Cưu. Nhưng âm mưu của võ sư Quỳ và đồng bọn bị người em gái của Quỳ báo cho Hồ Cưu biết và khuyên ông tìm đường khác để lánh nạn. Ông cười đáp: “Cô em yên tâm, chẳng ai có thể hại được Cưu này đâu” rồi ông cứ đi đường chính từ Hạ Nông trở về. Đến đình Thái Cẩm, gặp lúc trong đình có hát bội, ông vào xem. Thế là bị lọt vào giữa vòng vây của đoàn võ sĩ đang lăm lăm dao rựa trên tay. Đám hát sợ quá bỏ chạy, Hồ Cưu vớ được cái mâm gỗ làm chiếc khiên đỡ. Dao, rựa của phe võ sư Quỳ thi nhau chém xuống chiếc mâm. Có người trông thấy hoảng hốt chạy tới võ đường Long Xà báo cho võ sư Hồ Điệp rằng Hồ Cưu đã bị băm nát xác. Trong khi đoàn ứng cứu đang trên đường kéo về đình Thái Cẩm giải vây thì cái mâm gỗ vỡ tan, Hồ Cưu phải dùng thế võ “hốt ngựa” túm lấy đối phương để chống đỡ.

Sau trận này quan phủ Điện Bàn đã gọi ông và võ sư Quỳ lên phủ hạch hỏi về tội quấy rối an ninh trật tự. Hồ Cưu đưa ra chiếc áo dài ông mặc đã bị đối phương đâm thủng. Quan phủ đếm trên tấm áo có 21 vết dao, rựa nhưng người ông thì không có vết thương nào đáng kể nên cảm phục cho về…

Từ năm 1942 đến 1948, Hồ Cưu tham gia phong trào Việt Minh, làm công tác truyền bá chữ quốc ngữ và huấn luyện võ thuật cho đội Quyết Tử của tổng Định An.

Hồ Cưu hy sinh năm 1948 trong một lần vượt sông Thu Bồn, hưởng dương 36 tuổi. Ông được đưa về an táng trên đỉnh Đồi Mồi.(5)

 

Võ sư Hồ Cập, em ruột của Hồ Cưu cũng là một võ sĩ “bất khả chiến bại” trong nhiều năm. Ông cùng với Hồ Cưu đã từng so tài với các võ sĩ thượng thặng thời ấy như: Bửu Tiễn, Huỳnh Tiền, Minh Cảnh, Hồ Trọng Sơn, Đỗ Hy Sinh, Tôn Ngọc Lực và đạt các chức vô địch Quảng Nam, Vô địch miền Trung, Vô địch miền Nam, vô địch Đông Dương từ năm 1938 đến 1941 ở hạng B, Hồ Cưu vô địch ở hạng A.

Võ sĩ Hồ Cập nổi tiếng với thế võ “Nghịch cước xuyên tâm” trong trận thắng “Long Hổ Hội” tại Đại Lộc vào năm 1960.

Long Hổ Hội là một võ đoàn đấu võ đài lưu động gồm hàng trăm võ sĩ danh tiếng do ông Tôn Ngọc Sách phụ trách. Đoàn có võ sĩ Tôn Ngọc Lực, 40 tuổi, cao 1,7m nặng 75kg là cao thủ võ lâm chuyên hạ đối thủ bằng những  độc chiêu. Cuối tháng 4–1960, võ đoàn “Long Hổ Hội” đến lập đài ở thị trấn Ái Nghĩa, Đại Lộc, suốt 5 đêm liền chưa có một võ sĩ nào của tỉnh Quảng Nam chịu đòn với Tôn Ngọc Lực được 2 phút. Lúc này, võ sĩ Hồ Cập đã 57 tuổi, cao 1,63m, nặng 56kg, nghe tin đoàn “Long Hổ Hội” đang “làm mưa, làm gió”, khinh thường Quảng Nam không có nhân tài, ông bèn cùng với một số người làng Châu Bí bơi qua sông Vu Gia đến Ái Nghĩa. Giữa lúc Tôn Ngọc Lực vừa mới đánh trọng thương một võ sĩ thì ông nhún mình vọt lên đài xin giao đấu. Hai bên xuất chiêu, lúc đầu, với sức thanh niên sung mãn Tôn Ngọc Lực ra đòn tới tấp, áp đảo Hồ Cập khiến khán giả có lúc phải nín thở vì lo sợ cho tính mạng của ông. Thế nhưng, đến phút thứ ba, bỗng nghe một tiếng ‘hự” rất lớn rồi thấy Tôn Ngọc Lực ngã trên sàn đấu. Được cấp cứu Tôn Ngọc Lực mới tỉnh và ngày hôm sau, võ đoàn “Long Hổ Hội” rút đi khỏi đất Quảng Nam. Về sau Hồ Cập mới cho biết ông đã hạ đối phương bằng đòn “nghịch cước xuyên tâm”… Đó là thế võ bí truyền của phái Long Xà được võ sĩ Hồ Cập sáng tạo bằng cách áp sát đối thủ và tung ra cú đá hiểm hóc, chưa có người nào hoá giải được nên nghịch cước xuyên tâm còn có tên là “câu hồn cước”. (6)

Ông mất năm 1968.

 

Võ sư Hồ Công Vinh

Con của Võ sư Hồ Điệp, là truyền nhân đời thứ 9 của võ phái Hồ Công từ năm 2001 khi thân phụ qua đời. Ông sinh năm 1955, học võ với cha từ thuở nhỏ và thượng đài đấu võ lần đầu tiên vào năm 16 tuổi (1971) tại võ đài Ngô Văn Sở Đà Nẵng. 

Năm 1981, Hồ Công Vinh mở võ đường Long Xà ở Châu Bí, ông đã đào tạo được nhiều võ sĩ xuất sắc như: Nguyễn văn Trị (2 huy chương vàng huyện Điện bàn),  Đỗ Thanh An (huy chương đồng tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng), Trần Văn Đạt (2 huy chương bạc tỉnh QNĐN), Lê Văn Tâm (huy chương vàng tỉnh QNĐN), Hồ Công Thạch (con của võ sư Hồ Công Vinh, huy chương vàng Giải trẻ toàn quốc, huy chương bạc giải vô địch quốc gia), Võ Thành Long huy chương vàng giải vô địch quốc gia 3 năm liền 2004-2006)...(7)

Trong cuộc hội thảo võ thuật tại Ninh Thuận, Hồ Công Vinh đã biểu diễn đòn “Nghịch cước xuyên tâm” của võ phái Long Xà khiến các võ sư vô cùng thán phục. Đây là một đòn khác thường rất sáng tạo vì nguyên tắc võ thuật là “roi liên, quyền nội”, chứ ít ai dùng cước trong khi áp sát đối thủ. Và tuyệt kỹ này được hội nghị chọn vào danh sách 28 thế đối kháng của võ thuật cổ truyền dân tộc…(8)

Võ sư Hồ Công Vinh đang tập hợp tất cả những quyền pháp võ Long Xà để viết lại thành cuốn sách “Võ Long Xà” lưu truyền hậu thế.

Hiện nay tại nghĩa trang tộc Hồ làng Châu Bí, xã Điện Tiến có đến 6 tấm bia mộ ghi danh hiệu “Võ sư” của tộc . (9)

 

                    

 vo su ho cong vinh

                                  Võ sư Hồ Công Vinh múa roi biểu diễn trước sân nhà thờ tộc Hồ Công

                                        Nguồn:  http://baoquangnam.vn


 

Từ Quỳnh Đôi xứ Nghệ, võ tướng Hồ Công Sùng và các con đã chọn núi rừng Châu Bí làm quê hương thứ hai, khai sinh ra Võ phái Long Xà lưu truyền trong dòng tộc với những cao thủ võ lâm làm rạng rỡ cho nền võ học Quảng Nam . Sự nghiệp đó mãi mãi được người dân xứ Quảng ghi nhớ đúng như 2 câu đối ở nhà thờ tộc Hồ Công:

"Hữu khai tất tiên, công đức tòng lai viễn hỉ,

Khắc xương quyết hậu, tử tôn phất thế dẫn chi"

( Khai cuộc dẫn đầu, công đức ngàn sau lưu dấu.

Hưng công mở mối, cháu con tiếp bước noi truyền)

                                      (Nguyễn Thiếu Dũng dịch)

 

                                                                              Châu Yến Loan

 

 

 

 

 

Tham khảo:

 

(1), (4), (7) (9) “Tộc Hồ và võ phái Hồ Công” của võ sư Trần Xuân Mẫn. Nguồn: vo-thuat.net

(2) “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Điện Tiến    (1930-1977)”. NXB Đà Nẵng, năm 2001, trang 21, 37, 105.

(3)“Võ tướng Hồ Công Sùng và võ phái Long Xà” Nguồn: vocotruyenvn.net

(5), (6), (8) “Tìm lại những trận giác đấu của võ sĩ Long Xà”  -Nguồn:Võ đường Vĩnh Xuân Vũ gia thân pháp- VinhxuanVietnam.Vn

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/09/201806:33(Xem: 226)
Việt Nam là một quốc gia nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc Đông Nam Châu Á, và là nơi dừng chân của các thương buôn của vùng Địa Trung Hải. Từ một vị trí địa lý thuận lợi như thế, do đó các quốc gia trong vùng này đã thiết lập các mối quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, tôn giáo… qua hai con đường: Hồ Tiêu, tức là đường biển qua ngã Sri lanka, Indonesia, Trung Hoa, Việt; và đường Đồng Cỏ là đường bộ, xuất phát từ vùng Đông Bắc Á rồi băng qua miền Trung Á, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam, Trung Hoa. Vì vậy các tôn giáo lớn, trong đó có Phật giáo gặp nhiều thuận lợi du nhập vào nước ta.
12/09/201821:21(Xem: 221)
Đọc "Mẹ Hiền", Thi Phẩm của Nguyễn Sĩ Long, Qua sự giới thiệu của anh Phù Vân tôi hân hạnh được biết Thi hữu Nguyễn Sĩ Long hiện ở Áo, là tác giả thi phẩm: Mẹ Hiền. Xuất bản tháng 6 năm 2018. Và tôi được một bản gởi tặng. Xin có đôi lời cảm nhận sau khi đọc thi phẩm cùng lời vô vàn biết ơn. Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán. Bởi chúng ta ai cũng có sự hiện diện của mẹ hiền trong tâm. Mẹ hiền là suối mát, là giọt sương mai tưới tẩm cho hoa lá cỏ cây. Mẹ hiền là nguồn yêu thương đang tuôn chảy bất tận trong huyết quản của chúng ta. Mẹ hiền là hương hoa, đường mật, bánh kẹo, sửa ngọt hiến tặng cho nhu cầu tuổi nhỏ, và hình như kể cả tuổi già nữa. Có một lần tôi nghe Thầy Nhất Hạnh định nghĩa về mẹ như sau: “Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thi
07/09/201809:28(Xem: 757)
Chùa Hoằng Pháp, sinh hoạt và phát triển hợp với tên gọi từ thời khai sơn năm 1957, đã thực hiện vai trò hoằng pháp trong nước suốt 60 năm qua mà tích cực nhất là từ năm 1975 đến thời hiện tại. Những người theo đạo Phật hay có khuynh hướng tìm hiểu đạo Phật đã khá thích thú theo dõi nội dung sinh hoạt tổ chức tại chùa Hoằng Pháp với hơn 60 chương trình tu học đã được thực hiện, bao gồm nhiều đề tài chuyên biệt về tôn giáo, xã hội, giáo dục… dành cho đại chúng thuộc nhiều thành phần và lứa tuổi. Pháp sư, giáo thọ, diễn giả… thuyết pháp, pháp thoại, thuyết trình, nói chuyện… đã quy tụ nhiều nhân vật trong đạo cũng như ngoài đời nổi tiếng hay có bề dày trải nghiệm thực tế ở mức độ sâu và đặc biệt về mặt nầy hay mặt nọ. Nhưng tổng quát, đều có một mẫu số chung là tìm về Phật pháp để chiêm nghiệm, học hỏi hay tu trì sau những trải nghiệm thăng trầm của cuộc sống giữa đời thường. Nhiều nhân vật bày tỏ tấm lòng chân thành qua quá trình nương nhờ Phật pháp và các chương trình tu học của
05/09/201807:16(Xem: 578)
Trên chuyến bay đến Thượng Hải, vào giờ ngủ, bên trong máy bay đã tắt đèn, tôi phát hiện những người còn thức chơi “IPad” hầu hết là người Á châu – Họ đều đang chơi “game” hoặc xem phim. Thật ra ngay từ khi ở sân bay quốc tế Frankfurt, tôi đã thấy phần lớn hành khách người Đức đang yên tĩnh đọc sách hay làm việc; còn đa số khách Á châu đi lại mua sắm hoặc cười nói so sánh giá cả.
03/09/201817:23(Xem: 344)
Nhiều lời Đức Phật dạy trong kinh điển có thể được nhìn thấy qua nhà thơ Bùi Giáng. Toàn thân Bùi Giáng chính là Khổ Đế hiển lộ qua cái được thấy. Tương tự, với Tập Đế. Nụ cười của Bùi Giáng chính là Đạo Đế hiển lộ an lạc qua cái được thấy. Tương tự, với Diệt Đế. Bùi Giáng đùa giỡn ca ngâm với lời lời ẩn nghĩa chính là diệu chỉ tâm không dính mắc của Kinh Kim Cang, hiển lộ qua cái được thấy và cái được nghe. Bùi Giáng đi đứng nằm ngồi giữa phố như không một nơi để tới chính là diệu chỉ sống với cái Như Thị của Kinh Pháp Hoa, hiển lộ qua cách thõng tay vào chợ. Bùi Giáng viết xuống chữ nghĩa xa lìa có/không, dứt bặt đúng/sai, hễ viết xuống là gửi vào tịch lặng bờ kia chính là diệu chỉ gương tâm rỗng rang của Bát Nhã Tâm Kinh. Đó là hình ảnh nhà thơ Bùi Giáng trong tâm tôi nhiều thập niên qua.
03/09/201809:52(Xem: 415)
Cảm Đức Từ Bi (sách pdf) của Cư Sĩ Tâm Huy Huỳnh Kim Quang
28/08/201818:30(Xem: 180)
Trong bài Đôi dòng cảm nghĩ về cuốn Võ Nhân Bình Định của Quách Tấn và Quách Giao do nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2001, Giáo sư Mạc Đường, nguyên viện trưởng viện Khoa Học xã hội TP.HCM có cho biết rằng, họ Quách, mặc dù ông tổ vốn dòng Mân Việt nhưng không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh nên đã rời bỏ Trung Quốc di dân sang Việt Nam. Đến thế hệ Quách Tấn và con là Quách Giao đã trên 300 năm. Vì sống tại Tây Sơn đã nhiều thế hệ “ nên họ Quách có biết dược nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương. Nhất là thời đại Tây Sơn và phong trào Cần Vương. Gia phả của họ Quách đều có ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng này.
26/08/201806:12(Xem: 265)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/201817:53(Xem: 354)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/201817:35(Xem: 437)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.