Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Thiền Tâm

26/01/201805:55(Xem: 3502)
Thiền Tâm

Phat_thanh_dao

Thiền Tâm
Lê Huy Trứ



Contents
Tâm Điểm
Thầy Muốn Điểm Tâm Nào?
Tâm là gì?




Tâm Điểm

 
Tu thiền chỉ xuay quanh một điểm tâm mà chỉ có những bật tu hành một thời gian dài, và đạt được giác ngộ mới vào được tâm điểm.
 
Tôi xin lưu ý, vì những câu chuyện về tâm của Phật Giáo Đại Thừa dưới này quá phổ thông nhiều người thuật lại, thêm mắm thêm muối, tam sao thất bổn, đem râu ông ni cắm càm bà nớ nên tôi không biết chắc là Phật copied Tổ, Tàu đã đạo văn Nhật (Dr. Suzuki), Tàu đã ăn trộm của Tàu, Việt chơm chỉa từ Tàu, Ấn Độ, Nhật, Tây rồi thì mạnh ai nấy vãi tùm lum trên internet làm cho tam thế Phật oan?
 
Tương tự, 2 câu nổ như sấm trong bài kệ 4 câu của Thiền tông dưới đây mà mọi người đổ oan cho Đạt Ma Lão Tổ “noái,”
 
Chỉ thẳng thật tâm, thấy tánh thành Phật!”  
 
Ngài là người Hồ tóc đỏ ngồi diện bích tham thiền 9 năm trên núi Thiếu Thất, trong thiếu lâm tự vì không noái một tiếng Tàu thì noái hồi mô mà noái là ôn nớ noái?
 
Tương truyền do Bồ Đề Đạt Ma, tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ và là tổ đầu tiên của Thiền tông Trung quốc, dạy:
 
Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự
Trực chỉ chân tâm
Kiến tánh thành Phật
 
*
Special transmission outside the scriptures
Not founded upon words and letters;
By pointing directly to [one's] mind
It lets one see into [one's own true] nature and [thus] attain Buddhahood
 
4 câu kệ ở trên được viết vào năm 1108, không phải của Đạt Ma Sư Tổ nói mà chỉ là khái niệm diễn tả về yếu chỉ của thiền.
 
 
This concept relates to Bodhidharma's original depiction of Zen:
A special transmission outside the scriptures; (教外別傳)
No dependence upon words and letters; (不立文字)
Direct pointing to the human mind; (直指人心)
Seeing into one's own nature and attaining Buddhahood. (見性成佛)”  Albert Welter, The Disputed Place of "A Special Transmission," Outside the Scriptures in Ch'an. Access date June 23, 2006
 
Trong sách “ Ba Mươi Hai Vị Tổ Ấn Hoa”, mục Ma Ha Ca Diếp (Mahākā śyapa), Hòa thượng Trúc Lâm viết:
 
“ Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có Ngài [Mahākā śyapa] đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu).
 
Phật bảo:
 
– Ta có chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu-tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A Nan. Thế-Tôn đến trước tháp Đa Tử gọi Ma Ha Ca Diếp (Mahākāśyapa) đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca Diếp, rồi nói kệ phó pháp:
 
Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch:
 
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp.”
 
Thiền Tông đã có một câu chuyện rất nổi tiếng về công án tâm điểm của thời gian này mà từ tiền nhân cho đến bây giờ vẫn chưa mấy ai hoàn toàn điểm trúng cái tâm này.
 
Như đa số những người khác, tôi đã đọc những câu chuyện dưới đây nhiều lần rồi nhưng mỗi lần tôi đọc lại tôi lại hiểu mỗi khác tùy vào tâm trạng của tôi lúc ấy như thế nào?
 
Trong kinh Kim Cang, Phật dạy, "Tu Bồ Đề ! Như Lai nói tâm, không phải thật có tâm, chỉ giả gọi là "tâm." Tại sao vậy? Vì tâm quá khứ tìm không được, tâm hiện tại tìm không được, tâm vị lai cũng tìm không được."
 
Rồi thì chuyện của Ngài Huệ Khả (Nhị Tổ) và Tổ Đạt Ma (Sư Tổ) dưới đây cũng tương tự như trên không biết Phật mượn ý Tổ hay tam thế Phật oan?
 
Thuở xưa, Ngài Huệ Khả (Nhị Tổ) đến cầu Tổ Đạt Ma (Sư Tổ) về pháp an tâm.
 
Tổ Đạt ma hỏi: "Ông đến đây để làm gì?"
 
Ngài Huệ Khả thưa: "Bạch Tổ Sư ! Con đến đây để cầu pháp an tâm."
 
Tổ Đạt Ma hỏi: "Quá khứ tâm bất đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, vậy ông muốn an cái tâm nào?"
 
Ngài huệ Khả thưa: "Trong ba thời (quá khứ, hiện tại và vị lai) con tìm tâm đều không thể được."
 
Tổ Đạt Ma dạy: "Ta đã an tâm cho ông rồi."
 
Ngài Huệ Khả liền tỏ ngộ.
 
Trong Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, HT Thích Thanh Từ, 1998, tr. 46-61 giảng dạy:
 
Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này.
 
Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Đạt-ma không dạy phương pháp gì, ngài chỉ bảo “Đem tâm ra ta an cho.” Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.
 
Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì nó biến mất.
Thuật ngữ nhà Thiền gọi là “Hồi quang phản chiếu.”
 
Chúng tôi gọi “Biết vọng không theo.”
 
Chính đây là “Biết được đường vào” của ngài Huệ Khả.
 
“Biết đường vào” chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Đạt-ma: “Từ đây trở đi con dứt hết các duyên.”
 
Tổ Đạt-ma bảo: “Chớ rơi vào đoạn diệt.”
 
Huệ Khả thưa: “Không rơi!”
 
Tổ Đạt-ma hỏi: “Con làm thế nào?”
 
Huệ Khả thưa: “Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến.”
 
Tổ Đạt-ma dạy: “Đây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi.”
 
Đến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa.
 
Khi Tổ Đạt-ma sắp tịch,  hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui.
 
Tổ Đạt-ma nói: “Ông được phần tủy của ta.”
 
Đến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối.
 
Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.”
 

Thầy Muốn Điểm Tâm Nào? 

 
Trong chuyện Thiền Tông rất phổ thông, Thầy Muốn Điểm Tâm Nào?  Thuật lại về chuyện một bà già bán điểm tâm bên đường gặp sư Đức Sơn Tuyên Giám dưới đây.
  
Sư họ Chu, quê ở Kiến Nam, Giản Châu, xuất gia lúc 20 tuổi. Sư thông Luật tạng và các bộ kinh, luận. Vì thường giảng Kim cang bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh nên người đời gọi sư là Chu Kim Cang. Nghe Nam phương Thiền tông thịnh hành sư bất bình nói:
“Kẻ xuất gia muôn kiếp học uy nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật. Những tên ma con ở phương Nam dám nói ‘Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.’ Ta phải quét sạch tận hang ổ của chúng, diệt hết bọn ma quái để đền ân Phật.”
 
Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, sư gặp một bà già bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm.
 
Bà chỉ cái gánh của sư hỏi: “Gói này là cái gì ?”
 
Sư trả lời: “Thanh Long sớ sao.”
 
Bà nói: “Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác.”
 
Sư tự tin đồng ý, bà liền hỏi: “Trong kinh Kim cang có nói: Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, vậy Thầy muốn điểm tâm nào?”
 
Sư lặng thinh, không đáp được, lặng lẽ bỏ đi. Bà già gọi lại, chỉ sư đến tham vấn Thiền sư Long Đàm Sùng Tín.
 
Vừa tới cửa Long Đàm, sư liền nói:
“Nghe danh Long Đàm đã lâu, nay đến đây, đầm (đàm) cũng chẳng thấy, rồng (long) cũng chẳng hiện.”
 
Long Đàm bước ra, nói: “Ngươi đã tới Long Đàm rồi.”
 
Sư không đáp được, liền dừng lại đây học hỏi thêm. Một đêm, sư đứng hầu.
 
Long Đàm bảo: “Đêm khuya rồi sao chẳng xuống nghỉ ?”
 
Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: “Bên ngoài tối đen.”
 
Long Đàm thắp đèn đưa sư. Sư toan tiếp lấy, Long Đàm liền thổi tắt.
 
Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quỳ xuống lễ bái.
 
Long Đàm hỏi: “Ngươi thấy gì?”
 
Sư thưa: “Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ.”
 
Hôm sau Long Đàm thượng đường bảo chúng: “Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vút, dựng lập đạo tràng truyền pháp của ta.”
 
Sư đem bộ sớ sao ra chất đống nổi lửa đốt và nói: “Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu trong đời như một giọt nước rơi vào hồ lớn.”
 
Sư lễ tạ từ Long Đàm rồi đi du phương.
 
Sau khi khai ngộ, Sư nhận ra phải dụng công phu mới có thể thực sự hiểu được Pháp tạng. Nếu không chân chánh dụng công, mà thay vào đó chỉ nói Thiền ngoài miệng, dù có thể nói nhiều cũng chỉ là hời hợt, ở ngoài cửa Không, không bao giờ thấm nhuần được đạo lý chân chánh trong Kinh.”
 
Theo tôi, bà lão bán điểm tâm bên đường này có thể là Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân, biến ra cái quán bên đường để điểm tâm cho Sư họ Chu, hay đây chỉ là câu chuyện ngụ ngôn đầy thiền tánh tuy rất đơn giản nhưng cao siêu của thiền tông để dạy sư họ Chu bài học vô ngã, không nên trì trọng vào kinh điển để bị kinh trì. 
 
Không nên ngạo mạn tưởng mình là cao tăng dám đi tới đất linh để dạy cao nhân trong khi đó trí tuệ của mình còn thua xa bà lão bán điểm tâm tầm thường bên đường trong lãnh thổ của thiền tông.
 
Trở lại chủ đề điểm tâm ở trên, có thể vì còn bình minh, sao mai chưa mọc, Sư vừa mới thức dậy, còn ngái ngũ chưa có càfe/trà mở mắt, bụng thì đói, cần phải “ăn điểm tâm” dằn bụng nhưng vì tâm lòng kim cương còn chưa tỉnh tĩnh nên vô minh lẫn bụng đói, nhứt đầu, tay run, mắt mờ không thấy rõ tâm điểm để điểm tâm nên không thể điểm tâm...chùa.
 
Thật ra cả ba chỉ là “nhất điểm tâm.”  Cứ nhắm mắt mà điểm đại thì trúng ngay “nhất điểm không.”
 
Tóm lại, theo thiển ý, Tâm bất nhị không có tâm điểm để điểm tâm.  Tâm bất nhị là nhất điểm tâm.  Tâm bất nhị là vô điểm tâm.  Mà nhất điểm tâm và vô điểm tâm chỉ là một thể.  Hay vô điểm tâm và nhất điểm tâm không là độc tâm hay không tâm mà là bất nhị nguyên tâm.
 
Tâm bất nhị (vô sanh) không biết gì về tánh nhị nguyên để tạo ra vạn vật.  Cho nên, vạn vật do “tâm vô sanh” tạo ra có thể không hoàn toàn đúng? 
 
Nhưng hình như vũ trụ, vô lượng vật chất lẫn phi vật chất, từ tâm nhị nguyên tưởng tượng như vậy?
 
Hay, có thể nhân sinh bận tâm, phiền não, nhứt đầu, và điên cái đầu đều do “hai phần trái phải đối xứng” của não bộ nhị nguyên suy tưởng rồi lên máu, sôi sục mà ra.
 
Người bình thường muốn kiến tánh được những điều quái dị khó bàn luận này thì phải một là ngộ hay là điên mới ... cười mỉm chi.
 
Khái niệm lạ trên này có thể không hoàn toàn đúng, đúng không?
 

Tâm là gì?

 
Trong Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, trong Duy Lực Thiền, 23/08/2017, Truyền Bình viết:
 
“Trong bài này, chúng ta sẽ khảo sát câu nói trong Kinh Kim Cang có ý nghĩa gì?
 
 “Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc.”
 
Trước hết cần hiểu Tâm là gì? Tâm được mô tả rõ ràng nhất trong Duy Thức Học Phật giáo. Tâm (Citta) bao gồm 8 thức : Thấy, Nghe, Ngửi, Nếm, Tiếp xúc thân thể, Ý thức, Mạt-na thức (Manas) và A-lại-da thức (Alaya). Cơ chế hoạt động của tâm bao gồm 18 giới (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ; lục trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; lục thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc thân thể, ý thức). Tất cả mọi dữ liệu (data) hoạt động của 18 giới được chất chứa trong Manas, đó là cái ta của mỗi chúng sinh. Dữ liệu của tất cả manas được chất chứa trong một cái kho cực lớn gọi là Tàng thức hay A-lại-da thức (Alaya), đó là Tâm.
 
Như vậy Tâm là toàn bộ dữ liệu của Tam giới. Cái vũ trụ mênh mông mà chúng ta đang sống trong đó chỉ là một phần nhỏ của Tam giới.
 
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhất thiết duy tâm tạo” nghĩa là tất cả mọi cảnh giới, trong thế gian hay ngoài thế gian, trong vũ trụ đều là do tâm tưởng.  Dĩ nhiên, Einstein và rất nhiều người không thấy như vậy với nhục nhãn và cái não chấp nhị nguyên của họ.
 
Ông ta biện luận, nếu tôi nhìn không mặt trăng nữa thì nó không còn có đó?
 
Mà thật như vậy, khoa học hiện đại đã chứng minh, đúng như lời kinh xưa ghi lại, Đức Phật quán thấy vi mô, vĩ mô, và ngũ uẩn giai không, thấy thật như vậy, khi các khoa học gia quan sát/không quan sát những bản chất có/không với tính thông minh của hạt (particles) và sóng (waves). 
 
Khoa học gia chỉ chứng nghiệm qua quan sát nhưng không thể giải thích được tại sao khi họ cố tình quan sát thì sóng (waves) biến thành hạt (particles).  Nhưng khi lơ là không nhìn thì hạt trở thành sóng?
 
Nếu họ nghiên cứu một tí Phật Pháp thì sáng tỏ ngay:
 
Sắc (hạt, vật chất, matters, particles) từ Không (sóng, vô sắc tướng, waves, emptiness) mà có.   Khi cố tâm tìm sắc thì nó hiện hữu nhưng khi không cố tình tìm thì nó hoàn không, trở lại cái bản tánh nguyên thủy của nó là Không (vô, emptiness).  Điều này đã chứng minh là vạn vật do tâm tạo. 
 
Những cái tiểu tâm này có tính linh, thông minh.  Nó có thể liên hệ, nói chuyện với nhau trong đại tâm linh.  Tất cả cũng chỉ là một.
 
Cái nguyên lý tự nhiên của vũ trụ này không những xảy ra trong thế giới vi mô mà nó cũng áp dụng cho cả thế giới vĩ mô, và ngay cả như thị trong cõi tâm linh mà khoa học đang dậm chân tại chỗ vì khoa học chưa có đầy đủ trí tuệ để khám phá được cái mà họ vô minh gọi đó là huyền bí này.
 
Ý nghĩa này còn được diễn tả trong câu: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” nghĩa là Tam Giới đều là tâm, tất cả các pháp đều là thức.  Tất cả mọi sắc giới đều chỉ là thông tin (information) từ cái Alaya database.
 
Trong những kinh điển Pali, nền tảng nguyên thủy của tất cả kinh điển Đại Thừa, Nguyệt Xứng (Chandrakirti), trong Prasannapadà Madhyamakavrti, trang 45, có trích đoạn kinh Ratnakùta sau đây nói về cái tâm bất khả này: “Khi ta tìm kỉếm cái tâm thì ta không thể nhận ra cái tâm; cái mà ta không thể nhận ra được thì ta không thể cho rằng nó có thực; cái mà ta không nhận có thực thì cái đó không phải là quá khứ, không phải tương lai và cũng không phải hiện tại; cái không phải quá khứ, tương lai và cũng không phải hiện tại thì cái ấy không tự có bản tính; cái không tự có bản tính thì cái đó không phát khởi; cái không phát khởi thì không có tiêu diệt” (Cittamahi pa rigavesya-mànam na labhyate yam na labhyate tan nopa-labhyate yan nopalabhyate tan naivàtìtamnànàgatam na pratyutpannam yam naivàtitam nànàgatam na pratyutpannam, tasya nàsti svabhàvah. Yasya nàsti svabhàvas tasya nàstyutpàdah yasya nàstyutpàdas tasya nàsti nirodha iti vistarah). (Mervyn Sprung Lucid Exposition of the Middle Way,  1979, trang 46; Th. StcherbaLsky, The Conception of Buddhist Nirvana, 1977, trang 134).
 
Trong pháp luận của Candrakìrti này, những danh từ  “citta” bao gồm cả tơ tưởng, tư tưởng, xúc động tình cảm, cả hai mặt tình cảm và lý trí, ý thức linh động hằng chuyển, “mano” thì có tính cách lý luận trí thức, và “vinnàna” có tính cách trực nhận của giác cảm, được chúng ta hiểu nhầm là đồng nghĩa với nhau (ti cetas cittam mano vijnànamiti tasyaiva paryàyah, trang 303).   
 
Điều này cho thấy, có thể Ngài cũng chưa nắm chắc được tâm cho nên khi thì gọi nó là tâm, khi thì lòng, khi là hồn?  Chó, mèo, trâu, ngựa, người, ma, phật lẫn lộn không có được một căn cước (ID, cái ngã) nhất định? 
 
Những định nghĩa ở trên về Tâm cũng không khác gì những triết luận gia mù khác định nghĩa về con voi ảo tưởng.  Danh không trúng nên ngôn không chỉnh!
 
Tóm lại, Kinh Kim Cang đã trực chỉ nhân tâm, nói lên một thực tế phủ phàng mà nhân sinh vẫn tâm tư, hoài công tìm kiếm ngay cả trước khi Đức Thích Ca tái sinh cho đến bây giờ, đó là tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều bất khả đắc, nghĩa là không có thật, mọi sắc giới đều do tâm tưởng tượng mà ra.  Không có chuyện cảnh giới hiện tại khác về bản chất với cảnh giới quá khứ hay vị lai. Tâm quá khứ, hiện tại, vị lai cũng chỉ là một thứ cá mè một lứa như nhau và đều chỉ là ảo tưởng không phải thật. 
 
Mà đã chấp nhận là nó không có thật rồi thì tại sao chúng ta cứ dài dòng văn tự, lẫm cẫm chia tâm thành ba thì, không gian thời gian, ở ngay lúc này đây để làm gì ... bây giờ đây?
 
Hiện nay vẫn có đa số trí thức cũng vẫn mê muội như Sartre, cho rằng chỉ có hiện tại là Phật, còn quá khứ, vị lai, là Ma, đó là một thứ nhận thức ấu trĩ, vô minh, mà cố Hòa Thượng Duy Lực đã quở trách rằng họ không hiểu Phật pháp, cũng không biết khoa học, lẫn triết lý nhân sinh.
 
Định nghĩa về Tâm của Duy Thức Học Phật Giáo ở trên tuy hấp dẫn nhưng rất khó hiểu cho đa số những người bình thường như chúng ta.
 
Hơn nữa,  không phải ai ai từ Đông lẫn Tây cũng điều đồng ý với cái chủ quan ở trên, đó là, “Tâm được mô tả rõ ràng nhất trong Duy Thức Học Phật giáo.
 
Dĩ nhiên, những học giả, những tôn giáo, và Phật Giáo kinh điển khác cũng đã định nghĩa và luận rất chi tiếc dài dòng về tâm. Nhưng càng đọc nhiều về những suy luận từ tâm tưởng này càng làm cho chúng ta thêm rối trí, đau tim chứ chả ai thật sự hiểu tâm là cái chi chi?
 
Phạm Công Thiện viết, “Người khám phá đầu tiên và cuối cùng tất cả tinh thể bí mật của “Tâm” (Psyché) trong suốt dòng Lịch Sử Tư Tưởng Triết Học Tây phương gần 2.500 năm, đó là tư tưởng gia bí mật nhất của Tây phương Héraclite. Chỉ có hai câu sau đây thôi của Héraclite cũng đủ xô đẩy tất cả tâm lý học, phân tâm học, tâm bệnh học, vân vân, rơi kẹt vào tuyệt lộ.” 
 
Cái Tâm (Psyché, tâm Phật) có cái Tính (Lógos hiểu theo Héraclite, tức là đồng nghĩa với Trí Tuệ Bát Nhã) tự huân trưởng lên” (câu thứ 115).
  
Người không thể bao giờ tìm thấy được những sự tận cùng của Tâm (Psyché, Bồ Đề Tâm), dù người có đi tìm kiếm khắp mọi nẻo đường cái Tính (Lógos, bản lai) của Tâm (Psyché) thì quả là hố sâu của đoạn kiến. (câu thứ 45, sắp loại theo Diels) ”
 
Chữ “Psychologie” xuất phát từ chữ “Psyché” và “Lógos”.
 
Muốn hiểu nổi hai câu trên của Héraclite thì phải bỏ ra ít nhất hai chục năm để học Triết lý Tây phương và phải đốt hết tất cả những quyển sách về Tâm lý học và Triết học và Luận lý học.” (Bước Chân Thứ Hai Đảo Ngược Trở Về Sự Im Lặng. Sự Chuyễn Động Toàn Diện Của Tâm Thức Trong Ánh Sáng Bất Tận Của Phật A Di Đà, Phạm Công Thiện)
 
Thoát nhiên đốn ngộ, một trạng thái nổ bùng của tâm thức, một sự thông thì vạn sự điều thông, tất cả xảy ra trong khoảng khắc như bị điện giựt, ngoài sức tưởng tượng và kiểm soát của chúng ta. 
 
Trí tuệ không cần học mà tự có.  Chân lý tự nó có tánh thuyết phục.  Khi còn vô minh thì dù cho có bỏ ra suốt kiếp cũng khó mà giác ngộ được.  Triết lý Tây Phương bây giờ đã vô dụng chỉ dành cho những triết gia của viện tâm thần. Trong thời đại văn minh kỷ thuật bây giờ, may phước, chúng ta không còn thấy những “gàn triết gia” này chạy đầy đường trên thế giới.
 
Hai câu trên của cái ông Héraclite, “vô danh” đối với số đông nhân loại, không có gì cao siêu để dựng lên, để tôn sùng, và mất công tới hai chục năm để học triết lý tây phương họa ra hiểu được cái ông ta không hiểu nổi, 2500 năm về trước.  Thay vì, chúng ta có thể tìm thấy cái bí tỉ của Héraclite trong vài giây trên internet, và cũng đọc được những giải thích này trong vài dòng ngắn gọn rỏ ràng, nhan nhản trong nhiều kinh sách của Phật Giáo.
 
Xuyên thiền sư có câu kệ: “Tìm kiếm hoài ba thời cái tâm trong ba cõi thời gian mà vẫn không thấy được.” (Tam tế cầu tâm. Tâm bất kiến).
 
Trong kinh Kim Cang, Đức Phật dạy: “Như Lai nói về cái tâm, nhưng thực ra không phải có cái tâm, vì thế mới gọi là cái tâm. Tại sao vậy ? Vì không thể tìm được cái tâm quá khứ, không thể tìm được cái tâm hiện tại, không thể tìm được cái tâm tương lai.” (Như Lai thuyết chư tâm, giai vi phi tâm, thị danh vi tâm. Sở dĩ giả hà ? Tu Bồ Đề, Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc).
 
Duy Thức Tam Thập Tụng, kệ thứ 4, có ghi:
 
Cái tâm có đó, mà không có đó, cái tâm trôi chảy liên tục như dòng sông ‘hằng chuyển như bộc lưu’.”
 
Chữ “Tâm” (Citta) là nền tảng của tất cả kinh điển Phật Giáo. Danh từ “Citta” có nhiều nghĩa tùy theo căn trí bất đồng của nhân sinh.  (The Pali-English Dictionary suggests citta is heart/mind.) 
 
Cũng nên để tâm, chữ Citta xuất phát từ chữ “Cit” có nghĩa là suốt ngày Tơ Tưởng (day dream, mơ tưởng, nghĩ liên miên, lo ra?
 
Tình kia ai đợi mà chờ, Tâm này ai tưởng mà tơ tưởng tình?
 
Và Citta ở trong chữ Cittàkulàni là “Loạn tâm, Tâm điên đảo, Tâm viên.”   Vậy thì tâm đi từ mê tới ngộ hay ngược lại, từ an tới động? 
 
Cho nên cái định nghĩa trên này cũng là vọng ngữ không điểm tâm đặng.
 
Trong kinh Anguttara Nikàya, Đức Phật đã nói: “Này hỡi những tỳ kheo, ta thấy rằng không có hiện tượng nào lướt đi nhanh chóng như cái tâm. Khó mà tìm được một sự so sánh nào để diễn tả được sự lướt đi nhanh chóng của tâm.” (Nàham bhikkhave annam ekadhammam pi samanupassàmi yam evam lahuparivattam yathàyidam cittam yàvàncitam bhikkhave upamà pi na sukarà yàva lahuparivattam cittam ti) (Anguttara Nikàya, I tr. 10).
 
Trong kinh Anguttara Nikàya II, tr. 177, và kinh Samytta Nikàya, I, tr. 39, Đức Phật cũng đã nói: “Hỡi các tỳ kheo, thế giới này được dẫn đạo bởi tâm tư, thế giới này bị quét sạch bởi tâm tư, thế giới này dưới sức mạnh của tâm tư” (S. I. p. 39: Cittena niyyati loko cittena parikassati, cittassa ekadham-massa sabbeva vasam anvagù; A. II, p. 177: Cittena kho bhikkhave loko niyyati, cittena parikassati cittassa uppannassa vasam gacchati).
 
Chỉ có tư tưởng mới lãnh đạo cả thế giới này: “Tâm” và “Tư Tưởng” đều đồng nghĩa ở đây.” Theo kinh Samyutta Nikàya, tác động nổi bật nhất của “citta” (tâm) là “tơ tưởng” (cinteti) (S. I, p. 57).  
 
Tôi không đồng thông với quan điểm như trên của kinh điển, vì tốc độ, sức mạnh, tư tưởng và tơ tưởng không phải là những thành phần của vô sắc tướng lẫn vô lượng sắc tướng trong vũ trụ mà chúng chỉ hiện hữu ở trong tâm tưởng của con người mà thôi.  Ngay cả vũ trụ cũng ở trong tâm vì tâm tạo ra vũ trụ. 
 
Đức Thế Tôn thay vì yên lặng nhưng đã phải giảng về cái Tâm bất khả thuyết đó qua cái ngôn ngữ giả danh của nhân loại.  Cho nên, Ngài nói như vậy mà nó không phải như vậy nhưng nó là như vậy đó.
 
Tâm bất khả đắc, không thể nhân cách hóa, cá nhân hóa, nắm bắt bỏ túi, hay dễ dàng tư nghị qua ngôn ngữ truyền tin giới hạn của nhân sinh.
 
Vì khi đã điểm trúng tâm rồi thì nó không còn là vô tâm, vô ngã nữa mà là hữu tâm, chấp ngã.
 
Tôi không muốn mất công độc giả, lập đi lại lại những luận điệu phổ thông hóa ra thông thường mà ai cũng đã từng nghe, và đọc qua nhiều lần về định nghĩa của nó.
 
Tôi chỉ muốn lập dị tài khôn trình bày cái tâm này đây qua một lăng kính và khía cạnh mà những người mù sờ voi chưa với cao tới được.  Vì tôi là quản tượng đui ngồi trên đầu voi bị mấy đứa mù dưới đất thay vì xờ voi lại sờ nhằm chân tôi, rồi thừa thế leo lên, lần mò, sờ mó, xâm phạm tiết hạnh của tôi bằng cách sờ bóp viên ngọc báu Mani của tôi, mà chúng mù ́ tưởng là họ đang thi nhau rờ voi, và rồi thì chúng nó cải nhau chí chóe tự cho là chỉ có riêng mỗi mình họ mới diễn tả đúng là voi thật, kể cả phần không voi của tôi? 
 
Nghe họ cải nhau riết rồi tôi cũng nhập tâm tưởng tôi cũng là một phần của voi, bất khả phân, thật đúng “dữ sợ như rứa”?
 
Danh từ citta còn được dịch là spirit (soul, linh hồn) trong tiếng Anh, còn nghĩa là tâm (heart).  Spirit cũng có nghĩa là chi (khí), và còn có nghĩa là sự sống, sinh (life). 
 
Gốc Latin của danh từ Spirit là spirare có nghĩa là ‘thở.’  Thở vào là inspiration, thở ra là expiration!  Spirit có nghĩa là tập hợp hơi thở vì đó là sinh lực (lifeforce) tối cần thiết của đời sống.
 
Nếu tâm là “thở” và nếu thở là hít vào thở ra như định nghĩa của tiếng Latin ở trên thì “nó” hít vào cái khí gì?  Oxygen (O2) và thở ra thán khí (CO2)?
 
Nhưng cái gì thở?  Chúng sinh thở hay cái Thở thở?
 
Nếu Tâm là vô sắc tướng, không diện mục, phi vật chất vậy thì Tâm (linh hồn, spirit) có cần thở hít Oxygen như thân xác phải thở, phải ăn, phải uống, phải ngủ để sống không? 
 
8 thức và 18 giới ở trên có thể là bản lai của “tâm ta” chứ không phải là diện mục của tâm ta.  Muốn kinh nghiệm những thức giới này tâm ta phải tạm thời cấu tạo ra thân xác để kinh nghiệm vật chất hữu hình.
 
Rồi vì vô minh và từ đó chủ quan, sở hữu hóa Tâm là của Ta bằng cách gắn thêm cho cái tâm ta (Citta của Ngã) 8 cái thức rất người: “Thấy, Nghe, Ngửi, Nếm, Tiếp xúc thân thể, Ý thức, Mạt-na thức (Manas) và A-lại-da thức (Alaya). Với 18 giới khả năng và cơ chế phàm tục của chúng sinh (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, não bộ; lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; lục thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc thân thể, ý thức.”
 
Rồi thì xây “kho ta” (storehouse-consciousness, alāya-vijñāna, C.    ) để chứa đựng nó như đã diễn tả trườu tượng ở trên, “Tất cả mọi dữ liệu [metadata] hoạt động của 18 giới căn trần được chất chứa trong Manas (mind, citta and viññāṇa)rồi lạc quan cho đó là cái Ta của mỗi chúng sinh. Dữ liệu của tất cả manas được chất chứa trong một cái kho Tàng thức với ý kiến, ý tưởng, lối nhìn, linh tính (Alāya-vijñāna is a reservoir in which all ideas, impressions, perceptions and cognitions are deposited), từ tiền nhân chủ quan suy ra rồi đa số cả tin, chấp ngã tưởng thật là Tâm ta.
 
Mọi vật cũng là tâm và mọi tâm cũng là vật.
 
“Everything material is also mental and everything mental is also material”  David Bohm
 
Tôi cố gắng đơn giản như thế này, chưa ai thật sự biết tâm là cái quái gì, nó ở đâu, và cái bản lai diện mục nó như thế nào nhưng cũng vì đồng vô minh như vậy nên chúng ta điều đồng tâm công nhận trên căn bản là tâm không có sắc tướng, phi vật chất.  
 
Vì như đã nói, không ai thật sự biết nó là cái quái gì nhưng ưa dạy khôn người khác về cái quái dị không biết đó của mình.
 
Có thể đó là lý do mà tôi thường thích nói và viết về cái Tâm vì tôi biết, chả ai biết tôi nói trúng hay sai.  Nhất là khi mà tôi độc tôn, tự phong cho mình là đại thiện tri thức trí tuệ gia, được sắp đứng trên hạng nhì trên các thiện tri thức khác trên thế giới.
 
Rỉ tai mà nghe, ngay chính tôi cũng không biết tôi nói cái quái gì nữa cho nên có đồng tâm với tôi thì không hẳn là điểm trúng tâm mà bất đồng tâm với tôi cũng chưa chắc là điểm trật tâm?  Trừ khi chúng ta cùng nhắm mắt điểm càn may ra trúng ngay tâm điểm?
 
Cho nên, muốn biết điểm đúng hay trật thì phải thấy được tâm điểm để mà nhắm vào.  Ngày nào, chưa tìm ra được cái trọng tâm đó thì làm sao biết được điểm trúng hay trật?
 
Tôi đã vừa mới điểm tâm không.  Thử ngắm dùm điểm Tâm, để nhắm xem là tôi vừa điểm Tâm, trúng hay trật?
 
Tóm lại, vạn vật duy nhân tâm phan duyên tạo ra ... ảo/thật.
 
Điều mà tôi thường nói, đó là nhân sinh không bỏ công, chú tâm, cố tình đi tìm cái có mà mong tìm cái không...có.
 
Chúng ta không thể đi tìm cái biết mình đang có “trong nhà có báu thôi tìm kiếm,” không thể kiếm cái chưa mất, mà chỉ nhìn ra để ngóng tìm cái mình mất.
 
Tuy nhiên, thấy vậy nhưng đừng tưởng như vậy.  Nghe vậy đừng nghĩ như vậy. Đọc những gì tôi viết như vậy nhưng đừng thật thà cả tin như vậy vì nó không đúng như vậy nhưng mà nó thật như vậy.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/01/2022(Xem: 1235)
Chứng ngộ không phải là một kết luận mà người ta đạt được bằng suy luận; nó coi thường mọi xác định của trí năng. Những ai đã từng kinh nghiệm điều nầy đều không thể giải thích nó một cách mạch lạc và hợp lý. Một khi người ta cố tình giải thích nó bằng ngôn từ hay cử chỉ, thì nội dung của nó đã bị thương tổn ít nhiều. Vì thế, kẻ sơ cơ không thể vói tới nó bằng những cái hiển hiện bên ngoài, mà những ai đã kinh nghiệm qua một lần chứng ngộ thì thấy rõ ngay những gì thực sự không phải là nó. Kinh nghiệm chứng ngộ do đó luôn luôn mang đặc tính ‘bội lý,’ khó giải, khó truyền. Theo Thiền sư Đại Huệ thì Thiền như là một đống lửa cháy lớn; khi đến gần nhất định sém mặt. Lại nữa, nó như một lưỡi kiếm sắp rút ra khỏi vỏ; một khi rút ra thì nhất định có kẻ mất mạng. Nhưng nếu không rút ra khỏi vỏ, không đến gần lửa thì chẳng hơn gì một cục đá hay một khúc gỗ. Muốn đến nơi thì phải có một cá tính quả quyết và một tinh thần sung mãn. Ở đây chẳng có gợi lên một chút suy luận lạnh lùng hay phân biệt
12/12/2021(Xem: 1170)
Thế Tôn là bậc tuệ tri mọi pháp, bậc y vương, thầy của trời người trong tam giới. Vì thế, Đấng Thiện Thệ trong 45 năm thuyết pháp đã để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo, là những diệu dược tùy theo bệnh (tham sân si) của chúng sanh mà kê toa thích ứng nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, niết bàn. Riêng trong tạng Pali, ngoài tứ niệm xứ, minh sát tuệ, Thế Tôn từ mẫn với trí tuệ toàn giác (tuệ tri mọi pháp) đã 'có nhiều phác đồ điều trị khác nhau trên nền tảng của đạo đế: Bát Chánh Đạo' diệu dụng mà theo đó tùy theo căn cơ (tùy pháp, hành pháp), sẽ đến bờ giải thoát, hoặc bậc hữu học vv.
16/11/2021(Xem: 2430)
01. Niết-bàn 02. Vô minh 03. Giáo lý Vô thường 04. Không có ngã hay Không phải ngã 05. Pháp môn Không phải ngã 06. Định nghĩa của Niệm 07. Giáo dục lòng Từ Bi 08. Tin vào Trái Tim: Giáo lý về Saṁvega & Pasāda 09. Làm sao để hiểu tâm mình? 10. Hoà Giải, Phải & Trái 11. Gốc rễ của chủ nghĩa Lãng mạn Phật giáo * AFFIRMING THE TRUTHS OF THE HEART - BUDDHIST ESSAYS by Thanissaro Bhikkhu CONTENTS 01. The Image of Nirvāṇa 02. Ignorance 03. All About Change 04. No-self or Not-self? 05. The Not-self Strategy 06. Mindfulness Defined 07. Educating Compassion 08. Affirming the Truths of the Heart: The Buddhist Teachings on Saṁvega & Pasāda 09. How to Read Your Own Mind 10. Reconciliation, Right & Wrong 11. The Roots of Buddhist Romanticism
06/11/2021(Xem: 2727)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
18/06/2021(Xem: 3744)
Tác phẩm này là tuyển tập 7 bài pháp thoại của tôi trong các khóa tu thiền Vipassanā tại chùa Giác Ngộ và một số nơi khác. Kinh văn chính yếu của tác phẩm này dựa vào kinh Tứ niệm xứ thuộc kinh Trung bộ và kinh Đại niệm xứ thuộc kinh Trường bộ vốn là 2 bản văn quan trọng nhất giới thiệu về thiền của đức Phật. Thiền quán hay thiền minh sát (Vipassanā bhāvanā) còn được gọi là thiền tuệ (vipassanāñāṇa). Giá trị của thiền quán là mang lại trí tuệ cho người thực tập thiền. Minh sát (vipassanā) là nhìn thẩm thấu bằng tâm, nhìn mọi sự vật một cách sâu sắc “như chúng đang là”, hạn chế tối đa sự can thiệp ý thức chủ quan vào sự vật được quan sát, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng trần cảnh. Khi các suy luận dù là diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích… thoát ra khỏi ý thức về chấp ngã chủ quan và chấp ngã khách quan, lúc đó ta có thể nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng. Cốt lõi của thiền quán là chính niệm trực tiếp (satimā) và tỉnh giác trực tiếp (sampajāno) với đối tượng
03/04/2021(Xem: 2111)
Trước khi vào nội dung bài viết ta nhắc lại một vài kiến thức của vật lý cấp 2 phổ thông cần thiết cho chủ đề này. Một vài thuật ngữ: Trọng tâm G của một vật: là điểm đặt của trọng lực P tác dụng lên vật đó (P được biểu thị bằng một mũi tên thẳng đứng có chiều hướng xuống dưới). Chân đế: là đa giác lồi nhỏ nhất chứa tất cả các điểm tiếp xúc giữa một vật với mặt phẳng đỡ nó. Chân đế là một hình phẳng, nó cũng có trọng tâm G1, với những hình đặc biệt như hình vuông thì trọng tâm của nó là giao điểm của 2 đường chéo, nếu là hình tam giác thì trọng tâm của nó là giao điểm của 3 đường trung tuyến.
15/10/2020(Xem: 2066)
Có lẽ bài viết này sẽ không đúng thời, đúng lúc vào hoàn cảnh hiện nay (riêng cho Việt Nam, các miền Bắc Trung Bộ từ Quảng Trị vào đến Thừa Thiên (Huế) nơi các vị Thầy khả kính của tôi đang chịu nhiều áp lực của thiên tai (sạt lỡ và lũ lụt trầm trọng hơn bao giờ hết, vượt lên trên những hậu quả của năm 1999 và hơn thế nữa... thế giới đang chịu nạn đại dịch Covid 19 hoành hành làm ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Nhưng hậu bối trộm nghĩ nếu mình không ráng tu học để được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi khi còn được may mắn có cơ hội làm người và có cơ hội giác ngộ hơn những động vật và loài cỏ đá vô tình, thì cũng uổng phí một đời...
03/09/2020(Xem: 1948)
Bài này sẽ khảo sát một số khái niệm về các hiện tướng của tâm, dựa theo lời dạy của Đức Phật và chư Tổ sư. Bản thân người viết không phải là một thẩm quyền nào; do vậy, nơi đây chỉ là một cố gắng trong khả năng hạn hẹp để đọc lại và ghi chép lại một số lời dạy từ kinh luận, hy vọng sẽ giúp làm sáng tỏ một số thắc mắc. Các chữ viết tắt trong bài này có thể đọc ở Đại Tạng Kinh (1) với các kinh: DN là Trường Bộ Kinh, MN là Trung Bộ Kinh, SN là Tương Ưng Bộ Kinh, AN là Tăng Chi Bộ Kinh, Sn là Kinh Tập trong Tiểu Bộ, Ud là Kinh Phật Tự Thuyết, SA là Tạp A Hàm,
17/07/2020(Xem: 3270)
Trong kinh có ghi lại lời cảnh giác của Đức Phật, Ngài đã từngnói rằng: “Phàm tất cả chúng sinh còn lên xuống trong ba cõi, lăn lộn trong sáu đường thì không một loài nào được hoàn toàn trong sạch, không một giống nào dứt hết tội lỗi sai lầm”.Lời nói của bậc toàn giác thật chính xác. Chúng sinh còn trầm luân trong ba cõi, sáu đường, là còn gây nhiều nghiệp xấu. Cho nên, dù chúng ta là ai của những đời trước, kiếp trước? Kiếp này, tuy chung sống ở cõi Ta-Bà nhưng mỗi người ôm vào đời một biệt nghiệp riêng, do tội lỗi hay phước báo đã gây ra trong đời trước. Nhưng nói chung,dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thì con người cũng đã từngbị vô minh che mờ lý trí xúi quẩy tạo ra muôn ngàn tội lỗi, và tội lỗi đó cứ chồng chất mãi theo thời gian.
10/07/2020(Xem: 3315)
Thực tập thiền chánh niệm sẽ giúp cho chúng ta cảm nhận được sự an lạc trong từng giây phút của cuộc sống. Thiền cũng tăng sự tập trung, tăng hiệu quả của bộ nhớ, vượt qua áp lực và căng thẳng trong đời sống hằng ngày. Các lớp học gồm có: Lớp 1: LỚP SƠ CẤP ONLINE - Thời lượng 8 tuần vào lúc 4pm tới 5:30pm chiều thứ 7 hàng tuần. (For English class: Friday Evenings: 7pm to 8:30pm from July 17 to September 4, 2020) Lớp 2: LỚP TRUNG CẤP - Thời lượng 10 tuần vào lúc 8am tới 10am sáng Chủ Nhật hàng tuần. (For English class: Saturday Evenings: 6:30pm to 8:30pm from July 18 to September 19, 2020)
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
90,053,766