Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ngọn lửa Quảng Đức và biến cố Phật giáo 1963 dưới tầm nhìn của thế giới

10/01/201820:37(Xem: 527)
Ngọn lửa Quảng Đức và biến cố Phật giáo 1963 dưới tầm nhìn của thế giới

botatquangduc-3a

Ngọn lửa Quảng Đức và
biến cố Phật giáo 1963 dưới tầm nhìn của thế giới
 
Bùi Kha


Sau Thế Chiến Thứ II (1939-1945) hàng hóa và vũ khí của Mỹ để cung ứng cho chiến tranh bị tồn đọng rất nhiều. Mỹ thay chân Pháp ở Đông Dương biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn chống Cọng với khẩu hiệu“Để chận đứng sự bành trướng của chủ nghĩa cọng sản tại vùng Đông Nam Á”, nhưng thực tế cũng còn để tiêu thụ hết số hàng hoá và khí giới thặng dư. Để thi hành hai mục tiêu then chốt cùng một lúc tại Việt nam, chính phủ Mỹ sẽ chỉ chấp nhận một chính quyền bù nhìn, dễ sai và phục tòng Mỹ, nghĩa là một chính quyền Công Giáo (vì Tin Lành còn yếu vào thời điểm đó) trong một quốc gia mà số tín đồ của họ chỉ có 5 % dân số. Chính sách phản dân chủ ‘Đa số phục tùng thiểu số’ do tay sai bản xứ của Mỹ tại Việt Nam thực hiện, do đó, đã là một trong những nguyên nhân xa và gián tiếp đưa đến vụ tranh đấu Phật Giáo 1963, và Ngọn đuốc Thích Quảng Đức và sáu ngọn đuốc khác* nhằm thức tỉnh chính quyền Ngô Đình Diệm và đánh động lương tâm nhân loại về một thực trạng bất công và bóc lột đè nặng lên thân phận người dân Việt kể từ thời Pháp thuộc kéo dài đến không những với chế độ Ngô Đình Diệm mà còn với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, một chính quyền ‘bình mới nhưng rượu còn nguyên’.

Phác họa lại vài nét đơn sơ về bối cảnh lịch sử như thế để thấy cuộc tranh đấu của Phật giáo 1963 không phải chỉ được nhìn một cách đơn giản là vì sự bất công giữa Phật giáo và Kitô giáo (CG và TL) mà nguyên nhân chính, còn là, giữa hai tôn giáo mà chính sách của chúng rất khác biệt. Một bên, nói theo ý của Giám Mục Puginier, là cái càng của con cua thực dân** do chế độ tôn giáo độc tài Ngô Đình Diệm nuôi dưỡng và ưu đải, còn bên kia là các tín ngưỡng dân tộc chết sống với sự thăng trầm của vận nước bị nhà Ngô đàn áp. Biến cố Phật Giáo 1963 chỉ là một giọt nước làm tràn ly nước đã quá đầy. Vì thế cuộc tranh đấu do Phật Giáo khởi xướng là một cuộc tranh đấu không những của toàn dân miền Nam Việt Nam mà cũng là cuộc tranh đấu của những người yêu chuộng tự do bình đẳng công bằng xã hội trên khắp thế giới.

Với cái nhìn thoáng qua chiều dài lịch sử như thế chúng ta mới biết được nguyên nhân tại sao cuộc tranh đấu nầy lại được toàn dân và thế giới nhiệt liệt ủng hộ mà trong đó có nhiều nhân vật lãnh đạo không có cùng một tín ngưỡng với người Phật tử Việt nam và nhiều quốc gia dẫu có chung một khuynh hướng chính trị với chính phủ Ngô Đình Diệm. Chiều hướng ủng hộ tích cực nầy càng mạnh hơn sau khi Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự nguyện đem thân làm ngọn đuốc để cảnh tỉnh lòng người.

Ngài sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, tỉnh Khánh Hòa, xuất gia lúc 15 tuổi, tu học tại chùa Linh Mụ Huế. Trước lúc tự thiêu Ngài trú tại chùa Quán Thế Am, Sài Gòn. Sau khi 8 Phật tử bị giết tối ngày 8.5.1963 tại đài phát thanh Huế, và 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo không được chính quyền Ngô Đình Diệm thỏa thuận, Hoà Thượng Thích Quảng Đức người đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, sau nhiều tuần thiền định để tăng trưởng thêm nội lực, đã tự nguyện hy hiến cuộc đời cho đại nghĩa giữa ngã tư đường Phan Đình Phùng-Lê Văn Duyệt Sài-gòn sáng ngày 11.6.1963.

                                                                                                                                           

 
Bo tat Quang Duc-4

Khác với những lời xuyên tạc của những người bênh vực nhà Ngô, ký giả Nữu Ước Thời Báo (New York Times) David Halberstam đã tường thuật bằng những lời vừa ngạc nhiên vừa kính nễ:

“Tôi được thấy lại cảnh tượng ấy, nhưng chỉ một lần cũng đã quá đủ. Lửa phủ khắp người; thân từ từ khô lại, đầu cháy nám, không khí bay mùi khét thịt, thân hình chìm trong lửa đỏ thật kinh ngạc. Phía sau, tôi có thể nghe tiếng khóc của những người đang lần lượt kéo đến. Tôi quá xúc động khóc không nên lời, quá bàng hoàng để ghi chép hoặc hỏi vài câu, quá bối rối để suy nghĩ... chìm trong biển lửa nhưng ngài vẫn bất động, thịt gân không nhúc nhích, không một tiếng rên la, thân ngã xuống, những người đang đứng xung quanh òa khóc.”

I was to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was smell of burning human flesh; human being burn surprisingly quickly. Behind me I could hear the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked to cry, too confuse to take notes or ask questions, too bewildered to even think... As he burned he never move a muscle, never uttered a sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people around him (quoted by Jollie Hicks): (http://www.uwec.edu/greider/BMRB/culture/student.work/hicksr/).

Những bài tường thuật của Malcolm Browne về cuộc tự thiêu của HT Thích Quảng Đức được hảng thông tấn AP gởi về Mỹ nhanh chóng, và những bức hình tự thiêu do ông chụp cũng được hầu hết các tờ báo khắp thế giới đăng lên trang đầu. Từ đó, lần đầu tiên độc giả khắp nơi bắt đầu tò mò về những gì đang xẩy ra tại Việt Nam, một quốc gia xa lạ ở vùng Đông Nam Á.

Tuy nhiên, thái độ của phái bộ (thông tin) Hoa Kỳ lúc đầu là cố gắng làm giảm cường độ một số các nguồn tin chính thức thường cung cấp cho giới truyền thông. Nhưng đây không phải là một công việc dễ mặc dầu bản doanh của báo giới bị buộc chặt, có nhóm đoàn kết chặt chẻ, và có nhóm lo sợ. Cảnh sát ngầm của chính phủ Diệm lại lén thu băng các cuộc điện đàm của các nhà báo, theo giỏi các máy điện tín, gài người vào các văn phòng và chạy theo ký giả trên các đường phố. Dẫu vậy, qua việc xử dụng các người thăm viếng, nhân viên hàng không, và ngay cả những cảm tình viên quân sự nên giới nhà báo vẫn chuyển đi được các bản tin mà họ chứng kiến. Vì thất bại trong việc điều khiển nguồn cung cấp tin nên chính phủ Kennedy đã phải đưa công việc nầy lên một đơn vị cao hơn.’ (A Reader, The American Experience in Vietnam, edited by Grace Savey, University of Oklahoma Pess, 1989 pp. 112 & 113).

Làm đủ mọi cách, nhưng cả phái bộ truyền tin của Mỹ và của Việt Nam đã không thể ngăn chận nỗi các tin tức về cuộc tranh đấu của Phật giáo, nhất là sau khi HT Quảng Đức tự thiêu, nên cả thế giới hầu như được biết tường tận về biến cố vĩ đại nầy.

a. Quảng Cáo trên New York Times và Washington Post... : Ký giả kiêm nhiếp ảnh gia Malcolm W. Browne viết: 

Những bức hình mà tôi chụp về cái chết của HT. Quảng Đức đã trở thành một sở hữu vật mà người ta gởi đi cùng khắp thế giới. Những bức hình đó mang nhiều ý nghĩa tùy theo cái nhìn và mục đích xử dụng của mỗi người.

Một người quen ở Lisbon gởi thư cho tôi biết rằng những bức hình về cái chết của ngài Quảng Đức được thành phần diều hâu bày bán khắp cùng ngõ hẻm. Một nhóm giáo sĩ nỗi tiếng người Mỹ cũng dùng một trong những bức hình nầy để tạo sự Chú ý cho những trang quảng cáo của họ trên Nữu Ước Thời Báo (New York Times) và báo Hoa Thịnh Đốn (Washington Post) với hàng chữ Chúng ta cũng phản đối: We, too, protest”Sự phản đối của họ là nhắm vào việc người Mỹ ủng hộ chế độ Diệm.” Malcolm W. Browne, The New Face Of War, Revised Edition, The Bobbs-Merrill Company, Inc. Indianapolis-New York,1968, Tr. 261-262. Xin xem thêm Christian G. Appy, Patriots The Vietnamese War Remembered From All Sides, tr. 60-65).

 

tong thong-2

                       

b. Trung Hoa: “Hình tự thiêu của ngài Quảng Đức được Hoa Lục in ra hằng triệu bản (printed millions of copies). Một trong những bức hình đó đã gởi cùng khắp các quốc gia Á-Phi với hàng chữ lớn “Một tăng sĩ Phật Giáo hy sinh thân mạng để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ-Diệm.”

Hình tự thiêu của HT. Quảng Đức cũng là một ấn tượng ảnh hưởng đến tòa Bạch-ốc. Tôi (Browne) được biết rằng lúc ông Henry Cabot Lodge đến gặp cố Tổng Thống Kennedy về việc được bổ nhiệm chức đại sứ tại Việt Nam, Kennedy cũng đã có một bức hình tự thiêu của HT. Quảng Đức trên bàn giấy. Cái chết của ngài Quảng Đức có lẻ là một trong những yếu tố chính để cuối cùng Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch-ốc chống đối chính phủ Diệm, đang đổi hướng lịch sử Việt Nam” [...Quang Duc’s death probably was one of the factors that finally turned the State Department and White House against Diem, altering the course of Vietnamese history to some extent (Malcolm W. Browne, The New Face of War, tr. 263).

c. Báo Le Monde, Pháp ngày 13.6.64 viết“Trước hành động tự sát để đấu tranh, kẻ tàn bạo nhất cũng phải chùn bước.” (Minh Không Vũ Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, bản Ronéo 1984, tr.320)

d. Báo La Gazette de Lausanne tại Thụy sĩ: Viết những lời rất cảm động về cuộc tự thiêu của HT Quảng Đức như sau:

Sự hy sinh rất khích động của vị tăng sĩ thiêu sống ngay tại Sài Gòn buộc người ta phải kính trọng. Sự hy sinh vì Chính Pháp của ông khiến chúng ta liên tưởng tới những người Gia Tô đầu tiên và sự liên tưởng nầy càng làm cho chúng ta cảm thấy oái oăm.” (Hoành Linh Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Hồi Ký Chính Trị, Hoa Kỳ 1986, tr. 640).

e. Báo Journal de Genève: Là một tờ báo khác ở Thụy sĩ có ảnh hưởng lớn trên thế giới nhận định:

Người ta có thể tuyên truyền rằng đó chỉ là cuộc nỗi loạn của phe đa số khắc khổ kiếm chuyện vì chính phủ chỉ là một thiểu số bó kết chặt chẻ với nhau mà bộ tịch lại vênh váo và cứng nhắc. Nhưng việc phải hy sinh vì Chánh Pháp của Hòa Thượng Thích Quảng Đức lại cho thấy rằng Phật Giáo Việt Nam đang phải bảo vệ nếp sống và tư tưởng của họ.” (Đỗ Mậu, sách đã dẫn, tr. 641). 

g. Chính Phủ Ngô Đình Diệm: Sau vụ tự thiêu chấn động dư luận của HT. Quảng Đức, Ngô Đình Diệm thực sự bối rối nên ông qui trách người khác thiếu căn cứ:

Ông Diệm vu khống nhiếp ảnh gia Browne đã hối lộ các nhà sư Phật giáo để giết một nhà sư đồng nghiệp.”

Diem’s reaction was to accuse Browne of bribing the Buddhist monks to murder their fellow monk. (Grace Sevy, sách đã dẫn, tr.112). 

Bà Ngô Đình Nhu: Lúc trả lời cuộc phỏng vấn đài truyền hình MỸ, ký giả Mecklin viết rằng bà Nhu nói:

Tất cả những việc mà Phật Giáo đóng góp cho đất nước từ trước đến nay không có gì ngoài việc thiêu sống một nhà sư”... và “Ông Thích Quảng Đức bị chích thuốc và bị cưởng bách thiêu sống, nhưng về sau bà Nhu đã tìm cách từ chối một số các phát biểu thiếu trách nhiệm nầy.”

All that the Buddhists have done for the country is to barbecue the monk...She claimed that Thích Quảng Đức had been drugged and burned against his will. She later tried to deny having made some of her cynical comments. (Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled, Volum II Vietnam at War, Frederick A. Praeger, Publisher, New York, 1967, tr .1184). 

Việc bà Nhu về sau muốn cải chính những phát biểu bồng bột và thiếu suy nghĩ của bà, như ông Buttinger cho biết, cũng đáng để chúng ta cảm phục và quí mến. Tin nầy cũng phù hợp với TIN QUAN TRỌNG SAU ĐÂY: 

Tôi (Bùi Kha) có người quen ở Orange County cho biết, cách đây gần hai mươi năm, ông Ngô Đình Trác, con trai của bà Ngô Đình Nhu ở tại Pháp, cùng với nhà thơ Du Tử Lê đến chùa Việt Nam Los Angeles, California lúc 2 giờ sáng để gặp Hoà Thượng Thích Mãn Giác. Hòa Thượng tiếp đón vui vẻ. Sau khi thắp hương và lễ Phật, ông Ngô Đình Trác thưa rằng “Mạ con biểu con qua gặp Hòa Thượng và xin Hoà Thượng trình lại với giáo hội Phật Giáo là mẹ con và thay mặt gia đình xin sám hối những lời nói và việc làm trước đây đối với tăng ni và Phật-tử Việt Nam...” Hòa Thượng Mãn Giác rất xúc động, quí mến nghĩa cử của bà Nhu, và an ủi ông Ngô Đình Trác rằng “Lúc đó bà còn nhỏ tuổi và không ai cố vấn...”(HT. Thích Mãn Giác hiện sống tại Los Angles và nhà thơ Du Tử Lê hiện ở Orange County, California).

Ông Ngô Đình Nhu: “Ngày 15 tháng 8 một nhà sư khác tự thiêu ở Huế, ba ngày sau đó một ni cô tự thiêu ở Ninh Hòa (Khánh Hòa có lẽ đúng hơn, BK). Để phụ hoạ với vợ, ông Ngô Đình Nhu cũng nhẫn tâm giả vờ như không có gì hệ trọng:

Nếu Phật Giáo muốn có một vụ nướng thịt khác thì tôi rất vui lòng cung cấp xăng.”

On August 15, another monk burned himself at Hue, followed three days later by a nun at Ninh Hoa. Not wishing to lag behind his wife in callousness, Ngo Dinh Nhu soon afterward stated that “if Buddhists want to have another barbecue, I will be glad to supply the gasoline”. (J. Buttinger, Ibid. p. 995).

Những cuộc tự thiêu đã thức tỉnh thế giới và chấn động lương tâm nhân loại, nhưng ý nghĩa của nó thì thường bị hiểu lầm và có người cho đó là một vụ tự tử (suiside) không hơn không kém. Để làm sáng rõ ý nghĩa các cuộc tự thiêu của Tăng Ni và Phật Tử năm 1963, tôi xin trích dẫn hai ý kiến của hai tu sĩ sau đây, một Tin Lành một Phật Giáo để làm sáng rõ thêm lịch sử.

* Mục sư Donald Harrington tại Nữu ước: Trong buổi giảng tại một thính đường ở New York ngày 30.6.63, Mục sư Harrington đã mô tả trung thực chân tình và cảm phục việc HT Quảng Đức tự thiêu. Bài giảng đó cũng có đoạn nói lên ý nghĩa đích thực của hành động tự thiêu: 

Cách đây hơn hai tuần, vào ngày 11.6.63 vị sư tên Thích Quảng Đức đã ngồi theo kiểu tọa thiền trên đường nhựa nóng. Trong tay Người cầm một xâu chuổi 54 hạt và bắt đầu niệm Phật còn trên chiếc áo cà sa của Người thì đã tẩm ướt đầy xăng. Tất cả Tăng Ni lùi lại, kính cẩn, kinh sợ. Khách bộ hành nhận thấy một biến cố phi thường gì sắp xẩy ra nên tất cả đều dừng lại chờ đợi.

Với vẻ yên lặng, bình thản trên khuôn mặt, Ngài Quảng Đức niệm lớn: “Nam Mô A Di đà Phật”. Thế rồi Người bật một que diêm và ngọn lửa phừng phực bốc lên phủ kín thân thể nhưng Người không hề rên la hay lay động. Người ngồi thẳng trong mười phút, thân hình chìm trong lửa đỏ, và khi lửa tàn, Người nằm xuống bất động...

Người ta có thể tự hỏi sự khủng khiếp và niềm phẫn hận nào đã có thể khiến cho một người của “Tình Thương” của “Hòa Bình”, quyết chí tự thiêu?...

Nếu sự tuyệt vọng hoàn toàn và chán đời cực độ đã đưa con người trên đời nầy đến chỗ tự tử, thì một lý tưởng cao cả nhất và lòng yêu đời nồng nàn nhất một đôi khi cũng đã sản xuất những người tử đạo quả cảm nhất trong lịch sử...

Hòa Thượng Quảng Đức hy sinh đời mình bằng cách tự thiêu để thức tỉnh lương tâm của Tổng Thống Diệm và lưu ý cho toàn thế giới..

Người đã chịu đựng sự đau đớn của tia lửa hồng đang đốt da thịt nhưng không một lời kêu than. Người gởi mấy lời của Người cho Tổng Thống Diệm, và cho đến nay ông Diệm vẫn chưa chịu nghe hay chú ý. Nhưng dù sao tiếng nói ấy vẫn là tiếng nói của tình thương, tiếng nói mà trong thâm tâm của nó chứa đưng sự giải thoát của miền Nam Việt Nam. Người đã để lại một bóng đen sĩ nhục lên sự huy hoàng mà Giáo Hoàng Gioan đã mang lại cho Giáo hội Thiên Chúa. Người đã làm và Người phải làm, cho mỗi người Hoa Kỳ đi tìm linh hồn của Người và cho chính phủ Hoa Kỳ biết rằng, trừ phi chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo cho Phật Giáo đồ và tự do cho dân chúng Việt Nam, tất cả mọi viện trợ của Hoa Kỳ đều phải chấm dứt ngay...

Ngọn lửa ấy có thể thành một tia hy vọng cho những người từ lâu bị áp bức bởi người ngoại quốc hay bởi ngay chính đồng bào của họ...” (Vũ Văn Mẫu, sách đã dẫn, tr.322-324. Xin xem thêm trong cuốn: 1963-2003 Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, Giao Điểm 2003, tr.148-160).

* Ý Kiến của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh:

“Báo chí gọi đó là một hành động tự tử, nhưng thực chất không phải. Ngay cả đó không phải là một hành động phản đối. Điều mà những vị sư đã viết trong những bức thư để lại trước lúc tự thiêu là nhằm cảnh tỉnh, là để chuyển đổi tâm tư của những nhà cầm quyền, và để kêu gọi thế giới quan tâm đến những nỗi thống khổ triền miên của người dân Việt Nam. Người tự thiêu là để chứng tỏ rằng nguyện vọng mà họ đề cập là rất tối ư quan trọng...Tu sĩ Việt Nam tự thiêu là để nói lên với tất cả sức mạnh và quyết chí rằng tôi có thể chịu đựng sự khổ đau cùng cực nhất để bảo vệ cho đồng bào của tôi...Để bày tỏ ước vọng bằng cách tự thiêu của một người, vì thế, không phải là một hành động hủy diệt mà là một hành động tạo dựng, đó là, để đau khổ và để chết cho người khác. Như thế, tự thiêu không phải là một hành động tự tử.”

The press spoke then of suiside, but in the essence, it is not.It is not even a protest. What the monks said in the letters they left before burning themselves aimed only at alarming, at moving the hearts of the oppressors, and at calling the attention of the world to the suffering endured then by Vietnamese. To burn oneself by fire is to prove that what one is saying is of the utmost importance. The Vietnamese monk, by burning himself, says with all his strength and determination that he can endure the greatest of sufferings to protect his people. To express will by burning oneself, therefore, is not to commit an act of destruction but to perform an act of construction, that is, to suffer and to die for the sake of one’s people. This is not suicide.

Thầy Nhất Hạnh đi xa hơn để giải thích tại sao sự tự thiêu của HT Thích Quảng Đức không phải là một cuộc tự tử, tự tử là trái với lời dạy của Đức Phật:

“Tự tử là một hành động tự hủy do những nguyên nhân sau đây: (1) thiếu ý chí để sống và gặp những khó khăn; (2) thất bại trong cuộc sống và tuyệt vọng; (3) không muốn sống...Vị tu sĩ tự thiêu (Thích Quảng Đức) không mất nghị lực, không thiếu hy vọng; cũng như không phải không muốn sống. Trái lại, Ngài có đầy nghị lực, tràn hy vọng và mong ước một cái gì tốt cho tương lai. Ngài không có ý nghĩ tự hủy; nhưng tin vào những hoa trái tốt từ sự tự hy hiến đời mình cho kẻ khác...Tôi tin chắc rằng tất cả các vị sư tự thiêu không muốn những người cai trị chết, nhưng chỉ nhằm thay đổi chính sách của họ. Kẻ thù của chúng ta không phải là con người. Kẻ thù của chúng ta là sự thiếu khoan dung, cuồng tín, độc tài, tham đắm, hận thù và kỳ thị, chúng đang nằm sẵn trong tâm của con người.”

      (Suicide is an act of self-destruction, having as causes the following: (1) lack of courage to live and cope with difficulties; (2) defeat by life and loss of all hope; (3) desire for non exsistence... The monk who burns himself has lost neither courage nor hope; nor does he desire nonexsistence. On the contrary, he is very courageous and hopeful and aspires for something good in the future. He does no think that he is destroying himself; he belives in the good fruition of his act of self-sacrifce for the sake of others ... I believe with all my heart that the monks who burned themselves did not aim at the death of their oppressors but only at a change in their policy. Their enemies are not man. They are intolerance, fanaticism, dictatorship, cupidity, hatred, and discrimination which lie within the heart of man.” (Vietnam: Lotus in a Sea of Fire. Hill and Wang, Inc. New York,1967, pp. 106 &107). 

Sau cuộc bố ráp chùa và bắt tăng ni đêm 20.8 bằng kế hoạch “Nước Lũ” của chính quyền Ngô Đình Diệm, thế giới ngày càng hiểu rõ hơn nguyện vọng chính đáng của Phật Giáo Việt Nam. Vì thế, họ đã lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ Phật Giáo và chỉ trích chính sách kỳ thị bạo ngược của chính phủ Diệm.

Trong những cá nhân, đoàn thể và quốc gia ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo ta có thể chia làm ba thành phần. Những người khác tín ngưỡng với Phật Giáo, những quốc gia đa phần theo Phật Giáo và những nước tân tiến kỹ thuật. Sau đây là một số trích dẫn.

1. LM. Lê Quang Oánh***: Từ hồ Than Thở Đà Lạt ngày 12.5.1963, Linh Mục Lê Quang Oánh đại diện khối Giải Sĩ Đồng Tâm, Linh Mục T. Võ Quang Thiêng, nữ sinh M. Ngọc Lan Hương... gởi thư cho Hoà Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam bày tỏ sự đồng tình cuộc tranh đấu của Phật Giáo. Thư có đoạn viết như sau:

“Chúng tôi lên án “Tội bất công” đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam, một nườc văn hiến trên bốn nghìn năm lịch sử.

“Giám quả quyết rằng: “Nhân nghĩa sẽ thắng.”

2. Vatican: Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục cũng đã ba lần lên tiếng về vấn đề Phật Giáo. Ngày 30.8.63 Giáo Hoàng đọc một thông điệp gởi đến nhân dân Việt Nam, nhưng văn thư nầy cũng bị chính quyền Ngô Đình Diệm ngăn cấm không cho phổ biến. Một đoạn trong thông điệp nầy Giáo Hoàng viết như sau:

“Giáo Hoàng đã biểu lộ sự chú tâm và đau đớn theo dõi các biến cố bi thảm đương dầy vò nhân dân Việt Nam và sự lo âu của Giáo Hoàng ngày càng thêm sâu sắc...Giáo Hoàng cầu nguyện để cho tất cả mọi người, trong mối hợp tác khoan dung và trong sự tương kính các quyền tự do chân chính, đoàn kết với nhau để tái lập tương thân và tình huynh đệ.”

Le Pape exprime sa douloureuse préocupation au sujet des tristes évènements qui affigent le cher peuple Viêtnamien, tandis que l’angoisse devient de jour en jour plus profonde et lancinante...Et il fait des voeux que tous, dans une généreuse collaboration et dans un mutual respect des libertés legitimes, unissent pour rétablir la concorde réciproque et la fraternité (Bốn Mươi Năm Nhìn Lại tr.126.

3. Cao Miên: Sau ngày HT Quảng Đức tự thiêu, ông Trần Văn Được, hội trưởng hội Phật Giáo Việt kiều tại Cao Miên, đã viết thư lên án chính phủ Ngô Đình Diệm và thỉnh cầu Quốc Trưởng Sihanouk yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau khi các chùa bị tấn công, tăng ni bị bắt đêm 20.8.63, chính phủ Cao Miên ngày 23.8.63 đã chính thức ra thông cáo kịch liệt lên án chính phủ Việt Nam. Một đoạn trong thông cáo viết:

“Chính phủ Hoàng gia Cam Bốt kinh hải khi nhận đươc tin Chính phủ Sài Gòn đã đàn áp dã man tín đồ Phật giáo...Chính phủ Hoàng gia Cam Bốt hoàn toàn ủng hộ các Tăng Ni Phật tử Việt Nam” (Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, sách đã dẫn, p.133).

Đến ngày 27,8.63, chính phủ Cam Bốt gởi văn thư đoạn giao với Việt Nam bằng những lời lẻ rất nặng nề:

“..Toàn thể dân tộc Cam Bốt cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới đều công phẫn và ghê tởm trước những hành động dã man đàn áp Phật Giáo Việt Nam...” (BMNNL, tr . 134).

4. Tích Lan: Ngọn lửa từ bi hùng tráng Thích Quảng Đức và sự ngược đải Phật tử tại Việt Nam đã khiến bà Sirimavo Bandaranaike, thủ tướng Tích Lan, vô cùng xúc động. Bà kêu gọi các nước theo Phật giáo tại Á châu ủng hộ Tích Lan trong việc yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp vào vấn đề đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam. Ngày 26.8.63 hội nghị Phật Giáo Tích Lan yêu cầu các đoàn thể Phật Giáo trên toàn quốc treo cờ rũ để tang các Phật tử hi sinh vì tín ngưỡng (BMNNL, tr.136).

5. Miến Điện: Sau ngày các chùa tại Việt nam bị bố ráp, chính phủ Miến Điện càng công phẫn hơn. Báo Guandiantai tại Rangoon, thủ đô Miến Điện, cực lực lên án chính sách bạo ngược của chính phủ Ngô Đình Diệm. Báo viết rằng:

Mỹ sẽ lầm khi nghĩ rằng tiếp tục ủng hộ một chính phủ đang ngự trị trên thân xác đau thương của những Phật tử Việt Nam mà có thể giữ được nguyên vẹn tình cảm ngoại giao với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á” (BMNNL, tr.138).

6. An Độ: Nhiều hội Phật Học An yêu cầu thủ tướng Néru can thiệp. Ngày25.8.63, Tổng Thư Ký đảng Quốc Gia An rất công phẫn chế độ Ngô Đình Diệm và cảm nhận nỗi đau thương của tín đồ Phật Giáo Việt Nam:

“Nhữn gtin tức loan đi từ Sài Gòn đã làm chấn động dư luận tại An Độ, quê hương của Phật Giáo. Những sự tàn bạo mà các đạo hữu Việt Nam là nạn nhân càng làm cho ta phẫn nộ khi nhớ rằng Phật Giáo chủ trương bất bạo động.”(BMNNL,tr.138).

7. Thái Lan: Ngày 22.8.63 thống chế Sarit Thanarat, thủ tướng Thái Lan, đề nghị triệu tập một hội nghị sơ bộ gồm các nước Phật giáo trước lúc đưa vấn đề Phật Giáo Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc. Bốn ngày sau đó Đại tá Mutukhan, Phó giám đốc nha Tôn giáo thuộc bộ Giáo Dục, đã khuyến cáo chính phủ Việt Nam bằng những lời gay gắt và như một tiên tri:

“Vì đã đàn áp Phật tử Việt Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm sẽ hứngg chịu hết những tai hoạ dưới đủ mọi hình thức, hiểu theo giáo lý nhà Phật, kể cả giệt vong và đọa địa ngục...”(BMNNL, p.141).

8. Đài Loan: Bộ ngoại giao Đài Loan tuyên bố rất lo ngại cuộc khủng hoảng tôn giáo tại Việt Nam và mong mõi chính phủ Việt Nam sớm có giải pháp thích hợp để chấm dứt cuộc khủng hoảng.

9. Nam Hàn: Đại đức Kapchong, Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo, gởi thư cho chính phủ Việt Nam yêu cầu chấm dứt việc đàn áp Phật tử. Tướng Chang Chung Sơn, nhân viên trong hội đồng Quân nhân cách mạng, đã gởi thư lên án chíng phủ Việt nam đàn áp Phật tử một cách vô nhân đạo.

10. Nhật Bản: Tổ đình Bổn Nguyệt Tự tổ chức một buổi lễ đại cầu siêu cho cố HT. Quảng Đức và Phật tử Việt Nam hy sinh vì tín ngưỡng. Mặc dù dè giặt nhưng Thứ trưởng Ngoại giao ông Shigenobu Shima tiếp xúc với Đại sứ Việt Nam tại Nhật để biểu lộ sự lo âu về biến cố Phật Giáo Việt Nam.

Báo chí và dư luận của các nước Tây Phương rất nhiệt tình và ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo Việt Nam.

11. Báo Le Monde: Được xem là phản ảnh quan điểm của Bộ Ngoại giáo Pháp. Số ra ngày 10.6.63 đã công kích chính phủ Việt Nam bằng những lời lẽ kịch liệt như sau:

“Biến cố ở Huế đã xẩy ra do sự đàn áp tàn bạo của nhà cầm quyền, và đã là một cơ hội tốt để sự bất mãn của nhân dân bộc phát. Sự tranh chấp nầy đã lột trần sự cô lập và thất nhân tâm của một nhóm thiểu số Thiên Chúa Giáo được ưu đải.” (BMNNL, tr.144). 

12. La Croix: Là một nhật báo có nhiều ảnh hưởng trong giới Công Giáo Pháp đăng bài quan điểm chống đối chính sách độc tôn của chính Phủ Ngô Đình Diệm và kêu gọi tín đồ Công Giáo cầu nguyện cho Phật Tử Việt Nam. (Hoành Linh Đỗ Mậu, tr. 640).

13. Báo New York Times (Nữu Ước Thời Báo): Số ra ngày 8.8.1963 viết:

“... Chính phủ Hoa Kỳ đã tìm đủ mọi cách để buộc ông Diệm phải giải quyết vấn đề Phật Giáo. Nhưng người ta hết sức kinh ngạc khi nghe bà Ngô Đình Nhu, em dâu của Tổng Thống Diệm, vu khống các lãnh tụ Phật giáo là phiến loạn, sát nhân, và áp dụng chiến dịch Cọng sản. Có tin cho biết, chồng bà Nhu, em của Tổng thống Diệm, có thể cầm đầu một cuộc đảo chánh đã làm cho Hoa Kỳ lo ngại. Có nhiều người cho rằng những tin đồn về cuộc đảo chánh như vậy là một phần trong chiến tranh tâm lý chống Phậ giáo, và cũng là một sự hăm dọa đối với Hoa Kỳ.” (BMNNL, tr.147).

14. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: Liền sau khi các chùa trên toàn miền nam bị tấn công, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phổ biến một tuyên ngôn, có đoạn như sau:

“Căn cứ vào các tin loan đi từ Sài goon, rõ ràng chính phủ Việt Nam Cọng Hòa đã có những biện pháp đàn áp nghiêm khắc các lãnh tụ Phật giáo Việt Nam. Hành động nầy là một vi phạm trực tiếp của chính phủ Việt Nam vào lời cam kết theo đuổi một chính sách hòa giải với tín đồ Phật Giáo. Hoa kỳ phiền trách các hành động đàn áp loại nầy.”

Text of Statement issued by Department of State, Washington, on August 21: On the basis of information from Saigon, it appears that the Government of the Republic of Vietnam has instituted serious repressive measures against Vietnamese Buddhist leaders. The action represents a direct violation by the Vietnamese Government of assurances that it was pursuing a policy of reconciliation with the Buddhists. The United State deplores repressive action of this nature. (Vũ Văn Mẫu, tr.333).

15. Liên Hiệp Quốc: Với những hình ảnh Phật tử Việt nam bị đàn áp, bắt bớ, tù đày, vu khống bởi chính quyền Ngô Đình Diệm được đăng tải vào trang nhất của hầu hết các báo khắp thế giới, tổ chức Liên Hiệp Quốc đã không thể làm ngơ, nên ngày 24.9.1963 một phái đoàn đặc biệt được gởi đến Việt Nam để điều tra vụ Phật Giáo. Mặc dầu chính quyền Ngô Đình Diệm không cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc tự do đến những nơi cần thiết để điều tra, nhưng cuối cùng phái đoàn cũng đã thu thập đủ bằng chứng để kết luận rằng ‘Phật tử Việt Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị, khủng bố, tra tấn, tù đày, giết hại và cải đạo trong nhiều năm qua.’

Tóm kết, cuộc tranh đấu Phật giáo 1963 không nằm hạn hẹp trong việc đòi hỏi sự bình đẳng và quyền tự do tôn giáo mà còn là một cuộc đòi hỏi về công bằng xã hội và quyền được sống an bình trong một quốc gia như bao nhiêu quốc gia khác trên thế giới. Cuộc tranh chấp ý thức hệ mà Việt Nam là một bải chiến trường để đọ sức. Khí giới, bom đạn, hàng hoá bị thặng dự sau Thế chiến Thứ hai thì Việt Nam là một thị trường tốt để tiêu thụ. Người Việt trở thành nạn nhân nhưng được các cường quốc che dấu bằng những danh từ hoa mỹ. Vì thế, cuộc tranh đấu Phật Giáo 63 được toàn dân, toàn quân ủng hộ và thế giới tán đồng. Sự tự hy hiến bi hùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức cũng như những ngọn lửa thiêng tiếp nối sau đó là để chính phủ Ngô Đình Diệm tỉnh thức và thế giới lưu tâm. Kết quả là cộng đồng thế giới có lưu tâm nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm lại không đếm xĩa nên cuối cùng, chế độ mất lòng dân và ngược thời đại nầy đã bị sụp đổ...

Những Ngọn lửa thiêng và biến cố 63 đã tạo cơ duyên tốt cho Phật Giáo để chấn hưng và một vận hội mới cho quy trình cách mạng xứ sở, nhưng tất cả đều tùy thuộc vào vận nước, vào thế chính trị quốc tế, vào ý chí của toàn dân và nhất là tùy thuộc vào những con người có lương tâm, trí tuệ và hùng lực của thành phần lãnh đạo.

 

Bùi Kha,

5.4.2013

 

 

--------------------------------------------------------------

*Thượng Toạ Thích Tiêu Diêu, Đại Đức Thích Thanh Tuệ, ĐĐ Thích Thiện Mỹ, ĐĐ Thích Nguyên Hương, Sư Cô Thích Nữ Diệu Quang và Phật Tử Đặng Thị Ngọc Tuyền.

** Giám Mục Puginier nhận định “Không có giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp (rồi đến người Mỹ) như cua bị bẻ gãy hết càng” (Sans les missionnaires et les chrétiens, ecrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabs auquels on aurait cassé toutes les pattes).

***Tôi chỉ liệt kê một người khác tín ngưỡng tiêu biểu.

 

Sách Tham Khảo:

1. Giao Điểm: 1963-2003 Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, Giao Điểm 2003

2. Hoành Linh Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Hồi Ký Chính Trị, Hoa Kỳ 1993

3. Minh Không Vũ Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, bản Ronéo 1984

4. Appy, Christian G. Patriots The Vietnamese War Remembered From All Sides, New York 2003

5. Browne, Malcolm W. , The New Face Of War, Revised Edition,The Bobbs-Merrill Company, Inc. Indianapolis-New York,1968

6. Buttinger, Joseph, Vietnam: A Dragon Embattled, Volum II Vietnam at War, Frederick A. Praeger, Publisher, New York, 1967

7. Nhat Hanh, Vietnam: Lotus in a Sea of Fire. Hill and Wang, Inc.New York,1967

8. Savey, Grace, A Reader, The American Experience in Vietnam, edited by Grace Savey, University of Oklahoma Pess, 1989

9. Tucker, Spencer C. Editor Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, 1997-1998

10. Tuần báo New York Times (Nữu Ước Thời Báo), tháng 6-8.1963

11. U.S. News & World Report: Tháng 6-8.1963

12. Tuần báo Time, tháng 6-8.1964

13. Tuần báo Washington Post tháng 6-8. 1964

14. http://www.uwec.edu/greider/BMRB/culture/ tudent.work/hicksr/

Đã đăng: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1674

 

 

Bo Tat Quang Duc-000 

Độc giả Nguyễn Đăng Lâm viết: Nhiều năm qua tôi ít để ý đến vấn đề chính trị. Nhưng sáng nay người bạn gởi cho bài của ông Bằng Phong Đặng Văn Âu (ĐVA) viết về cuộc tự thiêu của HT Thích Quảng Đức năm 1963... Người bạn còn hỏi “Anh nghĩ sao?”. Tôi đã không có thì giờ mà bạn lại gài tôi vào. Buồn nhĩ.

      Việc nầy đúng ra nên giành cho “người không phải nhân viên Giáo Hội !” Đó là Gs. Trần Chung Ngọc, một người lịch lảm nhiều lãnh vực. Vì không chuyên môn và ít thì giờ nên tôi chỉ giúp ông Bằng Phong Đặng Văn Âu vài tài liệu khiêm tốn trong bài viết cẩu thả của ông mà thôi. Năm đóng góp của tôi xen kẻ rải rác trong bài của ông ĐVA, được để trong dấu ô vuông [  ] in màu xanh đậm và đánh số thứ (1,2,3...)

 

 

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

VIẾT:

 

Thành phố Westminster, Quận Cam, Mùa Phật Đản năm 2016

 

Anh cựu Bộ trưởng VNCH Trần Quang Thuận thân mến,

Nhân mùa Phật Đản và nhân dịp đọc bức thư của Ngài Quảng Độ yêu cầu Tổng thống Obama can thiệp tình trạng nhân quyền lúc sang thăm viếng Việt Nam, tôi viết thư này hỏi thăm sức khỏe anh và hỏi một số điều, mong anh “giải mã”. Đây là thư của một người Phật tử miệt mài trăn trở, buồn đau chuyện nước nhà, gửi cho một nhà trí thức Phật giáo – pháp danh Trí Không – từng đóng vai trò quan trọng trong biến cố năm 1963 đã gây nên hậu quả khốn cùng ghê gớm trên mảnh đất Miền Nam ngày hôm nay. Ước mong anh – một người sinh năm 1930, đã 86 tuổi đời – hãy noi theo đạo hạnh của đấng Chí Tôn mà chân thành “giải mã” những thắc mắc của tôi trước khi về cõi vĩnh hằng.

Tính từ năm 1963 anh lái chiếc xe Hillman, chở Ngài Quảng Đức đặt ở góc phố Lê văn Duyệt – Phan Đình Phùng để Ngài “tự thiêu”, rồi chạy về trốn tại anh nhà ông anh tôi – anh Đặng văn Châu – ở số 57D đường Tú Xương, Quận 3 Sài Gòn cho đến nay (năm 2016) là đã gần 53 năm rồi anh nhỉ?Chúng ta chỉ gặp lại nhau một lần duy nhất. Đó là lần tôi lái chiếc phi cơ C-47 chở anh trong phái đoàn chính phủ VNCH đi kinh lý Miền Trung. Tướng mạo ông Bộ trưởng Trần Quang Thuận sau “cách mạng” thành công bệ vệ hơn khi anh nằm cạnh giường tôi trên lầu ba của nhà ông anh tôi.

Ngày đó, tôi hỏi anh có phải Ngài Quảng Đức tự thiêu hay các Thày “tranh đấu” dàn dựng để gây dư luận quốc tế. Anh chỉ tủm tỉm cười và bí hiểm nói: “Làm cách mạng thì phải đổ máu, chứ biết sao?”.

Năm 1977, Nguyễn Công Hoanvà Ngô Chí Dũng (trong nhóm Người Việt Tự Do) từ Nhật sang Hoa Kỳ, trú ngụ tại nhà tôi ít hôm ở thành phố Arlington cạnh Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tôi hỏi anh ta: “Có phải cậu là người tưới xăng lên Ngài Quảng Đức và châm lửa đốt?”. Anh ta không trả lời.

Sở dĩ tôi đặt câu hỏi cho anh vào năm 1963 và cho Hoan vào năm 1977 là vì tôi muốn biết sự thật. Tôi không tin Ngài Quảng Đức tự thiêu. Cho tới nay, tôi vẫn nghĩ Ngài bị đốt do quỷ kế của tên cọng sản đội lốt nhà sư chui vào Phật giáo, lợi dụng sự ngây ngô của quần chúng nhằm lật đổ chính quyền Miền Nam dưới chiêu bài đấu tranh vì tín ngưỡng. Anh Thuận nên nhớ: “Tôi chống lại bọn cọng sản đội lốt nhà sư Phật giáo; chứ tôi không chống Phật giáo. Không nên dùng luận điệu của bọn lưu manh thường gán ghép cho những ai thắc mắc hành vi của bọn chúng là chống Phật giáo. Luận điệu đó xưa rồi!”.

 

Tôi không có tài liệu để chứng minh Trí Quang là cộng sản. Ngay cả Tố Hữu sau 1975 tiết lộ với người bà con ở Huế rằng chính hắn là người đứng nhận lời tuyên thệ của Trí Quang, Võ Đình Cường gia nhập đảng cọng sản từ năm 1943, tôi cũng không tin, vì tôi không nhìn thấy hồ sơ. Nhưng những hành động của Trí Quang sau khi đã thành công giết chết Tổng thống Ngô Đình Diệm mà vẫn tiếp tục chỉ đạo những cuộc gây rối chống chính quyền Miền Nam, đưa ra yêu sách đòi quyền dân tộc tự quyết (chống sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ) bề ngoài có vẻ hợp lý, có vẻ yêu nước, nhưng nếu thực hiện đòi hỏi của các ông ấy là mất nước. Cộng sản ở Miền Bắc xin Nga Tàu cung cấp vũ khi để xâm lăng Miền Nam thì Miền Nam không thể đứng vững nếu không có Mỹ trợ giúp. Nội cái việc Trí Quang xúi giục Tướng Nguyễn Chánh Thi làm loạn ở Miền Trung chống chính quyền Trung Ương, ra lệnh đồng bào Phật tử mang bàn thờ xuống đường để cản bước hành quân của quân đội VNCH là đã đủ cho ta thấy mục đích của Trí Quang không phải đấu tranh vì tự do tín ngưỡng, vì quyền dân tộc tự quyết. Trí Quang và tay chân bộ hạ là lũ “trâu đánh”; chứ không phải “tranh đấu” vì đạo pháp.

  1. 1.           [Đoạn trên, Ông ĐVA viết không có tài liệu nên tôi mạn phép ghi: “dẫn theo “thư khố” của Đặng Văn Âu].

Trước đây, nhạc sĩ Việt Khang làm bài hát “Anh Là Ai?” sau khi đi biểu tình chống Trung Cộng thì bị Công An đánh đập. Bài hát được phổ biến rộng rãi, người già con nít đều hát như để đồng cảm với nỗi đau của một người trẻ yêu nước bị hành hạ bất công. Tôi nghĩ rằng Việt Khang không trách móc, oán hận bọn côn đồ, vì chúng chỉ là bộ hạ sai đâu đánh đó. Bài hát có ý nghĩa to lớn hơn: Ấy là đặt vấn đề trách nhiệm cho thế hệ cha ông, nên tôi viết bài “Câu Hỏi Thời Đại: Anh Là Ai?”, bởi vì tất cả những chuyện gì xảy ra trong đời đều có nguyên nhân của nó. Vậy, tình trạng xã hội Việt Nam ngày nay sa sút về mọi mặt là phải có nguyên nhân. Nguyên nhân đó do đảng cọng sản gây nên. Tội ác của đảng cọng sản do Hồ Chí Minh gieo rắc là quá rõ ràng, không cách gì bào chữa hay che dấu được. Và Miền Nam rơi vào tay cọng sản, phần lớn là do những tên Việt cộng đội lốt sư sãi giật sập! [   

Một mình Hồ Chí Minh không thể làm nên tội ác được. Nó phải có sự toa rập của nhiều người, mà thành phần chủ chốt là tầng lớp trí thức

  1. 2.           [Các trí thức nầy có sẵn trong chính phủ Thực dân Pháp và sau nầy là chính phủ Mỹ, cọng với hai chính thể Đệ nhất, Đệ nhị Việt Nam Cọng Hòa từ 1954-195. Thế mà thua hai ông Hồ Chí Minh và Thích Trí Quang. Tài liệu tối mật nầy tôi (Đặng Văn Âu) chưa tiện công bố].

Tại sao tôi quy hết tội lỗi cho tầng lớp trí thức ư? Bởi vì trí thức là bộ óc của dân tộc, mà bộ óc không nhận ra thủ đoạn tàn ác ghê gớm của Hồ Chí Minh, tất nhiên dân tộc ta sẽ sa xuống vực thẳm, thì trí thức phải hứng chịu trách nhiệm.

Người ta bảo rằng trí thức bị lừa. Tôi cho rằng sự bào chữa đó là không đúng. Trần Phú công khai đề ra chủ trương “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” và Hồ Chí Minh triệt để thi hành chủ trương đó, mà trí thức vẫn chui đầu vào thì sao bảo là bị lừa? Chính người trí thức về hùa với Hồ Chí Minh đi lừa dân thì có! Nhân vật điển hình mà tôi từng nhắc đến – bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, anh Cả bà chị dâu của tôi – có cha là vị quan chuyên ngành giáo dục (Tế tửu Quốc Tử Giám) rất thanh liêm bị HCM mang ra đấu tố cho đến chết, mà ông Viện vẫn tán dương, ca ngợi thì đó là vì ngu; chứ đâu phải bị lừa?

  1. 3.           [ Nhiểu người bị hàm oan trong chiến dịch đấu tố ruộng đất. Thì đó là một tội ác. Nhưng những kẻ cuồng tín ngu muội nghĩ rằng, quả đất do Chúa sinh ra, ta là con chiên thì có quyền chỉếm đất cuả dân lương và phá chùa làm nhà THỜ, như chùa Báo Thiên  ở Hà Nôi. Thành phần cuồng tín nầy bị đấu tố chết thì sao gọi là oan ?].

Một học giả người Đài Loan – Hồ Tuấn Hùng – viết cuốn sách Sinh Bình Khảo, tố giác người bà con của ông ta tên Hồ Tập Chương đóng vai Hồ Chí Minh là do âm mưu của Mao Trạch Đông. Tài liệu cộng sản do Tổng Bí thư Hà Huy Tập viết cũng xác nhận Hồ Chí Minh (thật) đã chết từ năm 1932. Báo Trung Cộng cũng viết Hồ Chí Minh là Hồ Quang mang cấp bậc Thiếu tá trong Đệ Bát Lộ Quân. Chắc chắn những Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp … đều là những tay có học vấn, sống cận kề nhiều năm bên lãnh tụ, họ phải biết Hồ Chí Minh không phải là người Việt Nam.

  1. 4.           [Tài liệu của cơ quan tình báo Pháp, Mỹ và của VNCH không hề biết HCM là người Tàu, chỉ một mình tôi, là ĐVA, biết mà thôi]. Giả thiết HCM gốc là người Hoa nhưng đã có công đánh đuổi thực dân Pháp, thì luận cứ của ông ĐVA không thuyết phục được ai ].

 Những người có học vấn ấy đi làm cách mạng để giành độc lập, ta hãy tạm coi họ là trí thức, đã toa rập với thằng Tàu giả danh Hồ Chí Minh đánh lừa đồng bào để bán nước cho kẻ thù truyền kiếp. Tai họa mà dân ta ngày nay phải hứng chịu là do cái ngu, sự phản quốc của thành phần trí thức đó, chứ ai vào đây?

Năm 1954, sau Hiệp định Genève, một triệu người dân Miền Bắc phải bỏ làng mạc, mồ mả tổ tiên, tài sản để trốn chạy cọng sản, vẫn không đủ mở mắt thành phần trí thức ngu si,

  1. 5.           [Phần lớn bỏ chạy vì họ thuộc thành phần “Không có giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp giống như cua bị bẻ gãy hết càng”]. Đó mới thực sự là nguyên nhân .

 (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes). Nguồn: Đánh máy câu tiếng Việt hoặc Anh vào google sẽ tìm thấy xuất xứ. Hoặc Bùi Kha “Nguyễn T. Tộ và vấn đề canh tân”. Trang 153 ] .

       ăn bát cơm Miền Nam, lại dở giọng ngợi ca hoặc ngấm ngầm làm tay sai cho những tên đồ tễ ở Miền Bắc. Cọng sản là đạo (tôn giáo) của Quỷ. Tại sao nhà sư, linh mục lại đòi lật đổ chính quyền để dâng Miền Nam cho Quỷ?

Cho nên, bài hát “Anh Là Ai?” là nhằm hỏi tại sao các anh là trí thức, là khối óc của dân tộc mà ngu quá vậy, để cho thế hệ trẻ chúng tôi phải chịu quỷ sứ đọa đày? Tại sao anh Trần Quang Thuận được chính phủ Miền Nam cho sang Anh học, đỗ bằng Tiến sĩ, mà không nhìn thấy mưu mô thâm hiểm của Trí Quang? Mà không hiểu chủ trương đuổi Mỹ là có mục đích dâng Miền Nam cho cộng sản? Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu rất được Tổng thống Ngô Đình Diệm trọng vọng cũng không thấy thủ đoạn của Trí Quang là tên cộng sản nằm vùng liên tục phá rối trị an, mà vẫn ôm chân Trí Quang để được hắn bố thí cho cái chức Thủ tướng vài ngày. Trí thức cái quái gì mà tồi bại quá vậy? Nay tôi thay mặt nhạc sĩ Việt Khang đặt vấn đề trách nhiệm cho hàng ngũ trí thức, trong đó có Tiến sĩ Trần Quang Thuận, một cư sĩ Phật giáo pháp danh Trí Không đã chạy theo Trí Quang, một tên Việt Cộng giả làm nhà sư quấy rối hậu phương liên tục khiến cho Hoa Kỳ phải bỏ rơi Miền Nam.

Mới đây, một cô giáo ở Hà Tĩnh tên là Trần thị Lam làm bài thơ có tựa đề “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?”. Bài thơ đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi và được nhiều tác giả viết lời phân tích, khen ngợi. Tôi vẫn chưa thấy ai viết lên cái ngụ ý sâu sắc của cô giáo Lam. Cho nên, tôi viết thư này cho anh theo cách lý giải của người quen đọc giữa hai dòng chữ những tác phẩm viết ra từ trong nước. Xin anh Trần Quang Thuận hãy đọc và chiêm nghiệm để tự soi sáng lương tri mình.

Chữ “NGỘ” là phương ngữ của người dân Miền Nam thường dùng để chỉ một sự lạ lùng, vừa gây ngạc nhiên vừa mang ý nghĩa hoặc khen hoặc chê. Ví dụ: Khen một đứa bé mới ba, bốn tháng tuổi đã biết đứng lên đi và nói những câu dí dỏm. Hoặc cười chê một vị tu hành bề ngoài có vẻ đạo cao đức trọng, lại thầm lén làm điều tồi bại bị người đời khám phá, mà vẫn ngang nhiên giảng chánh pháp.

Theo tôi hiểu, chữ “Ngộ” mà cô giáo Trần thị Lam dùng trong bài thơ không nhằm ám chỉ bọn cầm quyền ngu dốt, độc ác, vô liêm sỉ. Cô đang hỏi những người mang danh “lão thành cách mạng” từng vỗ ngực tự hào với câu khẩu hiệu “quyết tử để dân tộc quyết sinh” và những người mang danh nhà trí thức. Tại sao ngày xưa anh hùng là thế, mà ngày nay lại ươn hèn vì sợ mất sổ hưu? Tại sao những nhà trí thức không nhìn thấy bọn cầm quyền này đang công khai làm tay sai cho Trung Cộng tiêu diệt chủng tộc Việt một cách tiệm tiến? Tại sao “cách mạng lão thành”, trí thức không bắt chước lớp trẻ xuống đường, mà chỉ dám đấu tranh trong vòng phấn do chế độ vẽ ra, bằng cái trò viết kiến nghị?

Chứng kiến những sự kiện trái cẳng ngỗng đó, cô giáo Trần thị Lam chỉ nhẹ nhàng viết xuống chữ “Ngộ” để đặt câu hỏi: “Đất Nước mình ngộ quá phải không Anh?” mà lẽ thường thì phải viết chữ “quái đản” thay cho chữ “Ngộ”, mới hả dạ để nói lên sự căm phẫn. Chữ “Anh” được cô giáo dùng ở đây là để chỉ thế hệ đàn anh, vừa có ý nghĩa trìu mến thân thương, vừa trách móc, vì dù sao cô giáo cũng là thành phần trí thức thì không thể dùng lời khiếm nhã?

Tôi còn hiểu thêm chữ “NGỘ” trong bài thơ mang ý nghĩa nhận thức, giống như Đức Thích Ca tọa thiền dưới gốc cây bồ đề một thời gian thì ngộ ra chân lý, rồi đem sự hiểu biết của mình để hoằng pháp dạy dỗ nhân loại. Bởi vì sau câu hỏi “Đất Nước mình NGỘ quá phải không anh?” là câu Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn, Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm…”. Cho nên chữ NGỘ ở đây còn có nghĩa là nhận thức, là giác ngộ. Và khi đã ngộ ra rồi thì phải sám hối cái tội lỗi mà mình đã gây ra. Im lặng là vô trách nhiệm và hèn nhát.

Thưa anh Trần Quang Thuận thân mến,

Tới giờ phút này, anh đã ngộ ra rằng kể từ ngày 11 tháng 6 năm 1963, cái ngày anh chở Thượng tọa Quảng Đức ra góc đường Lê văn Duyệt – Phan Đình Phùng để Ngài “Tự Thiêu” là ngày khởi đầu Miền Nam sẽ mất vào tay Việt Cộng? Là ngày Quỷ Đỏ sẽ biến toàn cõi Việt Nam thành địa ngục?

Tới giờ phút này, anh có còn nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm có chủ trương đàn áp Phật giáo không? Anh có thấy được rằng sau khi giết trọn gia đình họ Ngô, Trí Quang vẫn liên tục xách động gây nội loạn để lật đổ các chính quyền kế tiếp và đòi đuổi Mỹ là có ý đồ nhuộm đỏ toàn bộ đất nước?

Tôi nghĩ rằng cô giáo Lam trách “dân không chịu lớn” là trách oan cho dân. Dân có lớn lên được hay chăng là do người trí thức khai sáng. Bọn cọng sản trong nước đàn áp quyền tự do tư tưởng, quyền tự do ngôn luận, nên dân không thể lớn được là điều đương nhiên. Thoát ra khỏi gông cùm cọng sản rồi, không còn ai đè nén, áp bức, tại sao người có học vấn với bằng cấp to lại không nhìn thấy những trò lừa đảo bịp bợm của bọn ma đầu chính trị nhân danh Chống Cộng? Im lặng trước sự sai trái đã là có tội, tại sao còn về hùa với bọn ma đầu chính trị làm cho niềm tin vào lý tưởng quốc gia bị tiêu tan?

Tại sao sau khi cuộc xâm lăng của cọng sản thành công, anh Thuận không ở lại đất nước để hưởng công lao vì đã tiếp tay cho các Việt Cộng đội lốt nhà sư? Tôi nghi ngờ anh đưa gia đình sang Mỹ không phải vì mục đích tị nạn chính trí, mà vì nhận một chỉ thị bí mật của Trung Ương Đảng? Làm sao ai hiểu được thủ đoạn gian ác của cọng sản? Bởi vì nếu anh là một Phật tử chân chính đi tìm tự do thì anh phải khuyên Tiến sĩ Trần Chung Ngọc không nên chửi Công Giáo và khuyên Tướng Đỗ Mậu không nên mạt sát ông Ngô Đình Diệm một cách láo lếu. Chỉ có những phần tử có âm mưu phá hoại sự đoàn kết để chống lại ác quỷ cọng sản mới dùng tôn giáo này đánh phá tôn giáo kia mà thôi. Anh Thuận có nhận thấy rằng cọng sản đã lợi dụng Phật giáo để xâm lăng Miền Nam? Rồi bây giờ chúng xuất cảng nhiều sư quốc doanh ra hải ngoại giảng giáo lý từ bi của Đức Phật một cách sai lạc và biến chùa chiền thành nơi kinh doanh buôn thần bán thánh một cách trắng trợn?Việt Cộng đang làm ô danh Phật giáo, khiến nhiều Phật tử chân chính không còn muốn đến chùa nữa, anh Thuận có biết không?

Trước năm 1975, thiền sư Nhất Hạnh vận động bọn trí thức ngu xuẩn lập phong trào hòa bình, đòi đuổi Mỹ và đòi quân đội Miền Nam buông súng mà không hề đả động đến sự xâm lược của cọng sản từ Miền Bắc là hành vi của kẻ bất lương, chứ Nhất Hạnh không thật lòng yêu chuộng hòa bình. Rồi trong biến cố 911 bọn khủng bố đánh bom trên đất Mỹ, Nhất Hạnh dùng tiền “cúng dường” của đệ tử thập phương để đăng nguyên trang quảng cáo trên tờ New York Times tỏ ra hả hê như bọn cầm quyền cọng sản trong nước reo hò trước cái chết của người Mỹ vô tội. Tôi hỏi anh: Tại sao anh im lặng trước hành vi bỉ ổi, vô nhân tính của Nhất Hạnh? Phải chăng anh đồng lõa với Nhất Hạnh? Anh Thuận có biết cái loại tu hành như Nhất Hạnh là làm ô danh Phật giáo không? Là làm tổn thương sự thành kính của những Phật tử chân chính đối với Tam Bảo không?  

  1. 6.           [Dẫu thế nào, tôi, Đặng Văn Âu, cần cho các ông biết, nếu bất kỳ một chính phủ nào không do người đạo Công Giáo cầm đầu, thì con chiên và Giáo hội sẽ tìm đủ mọi cách lật đỗ rồi lập nên một chính phủ Công giáo].

Được gọi là Người Trí Thức, tôi nghĩ, là người đem sự hiểu biết của mình để giảng dạy cho quần chúng. Trên đời làm gì có chuyện tình nghĩa quốc tế yêu thương nhau như anh em mà nghe theo lời cọng sản tuyên truyền? Hoa Kỳ giúp ta vì họ muốn dùng Miền Nam thành một tiền đồn ngăn chặn làn sóng Đỏ, trước tiên vì quyền lợi của chính họ. Nếu vị trí nước Việt Nam nằm ở một góc khuất của thế giới như Tân Cương, Tây Tạng thì không đời nào Hoa Kỳ đổ tiền, đổ khí giới, hy sinh nhân mạng để giúp ta. Vì không muốn trở thành súc vật dưới sự cai trị của cọng sản, chúng ta đành phải chấp nhận làm người lính tiền đồn; chứ đâu phải ngụy quân, ngụy quyền?! Hơn nữa Hoa Kỳ từng giải phóng Âu Châu khỏi sự thống trị của Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý mà không hề xâm chiếm một tấc đất của Âu Châu; còn có kế hoạch Marshall giúp nền kinh tế trỗi dậy, thì tại sao gọi Hoa Kỳ là Đế quốc Thực dân? Nếu không có Hoa Kỳ giúp thì dân Nam Hàn làm gì có cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người? Nếu không có Hoa Kỳ, làm sao anh có thể làm Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa?

Bọn trí thức Miền Nam theo cọng sản là ngu vì không thấy sự giúp đỡ của Hoa Kỳ là cần thiết cho sự sống còn của chính mình. Nếu không thân cọng sản mà im lặng trước luận điệu của bọn ngu là hèn vì chỉ biết sống an thân để thụ hưởng, chứ không dám phá vỡ cái ngu của chúng để đồng bào mình sáng mắt. Vì vậy mới tồn tại bọn Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá Thành, Trương Như Tảng, Châu Tâm Luân, Chu Phạm Ngọc Sơn, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm… Vì bọn trí thức ngu và hèn ấy đã làm cho cuộc chiến đấu dũng cảm của quân dân Miền Nam trở thành phi chính nghĩa trước con mắt thế giới.

Người trí thức ngoại quốc như triết gia Jean-Paul Sartre, ca sĩ Joan Baez … không hiểu bọn cộng sản lưu manh, tàn bạo, cho nên họ chống chiến tranh VN. Nhưng sau 1975 khi họ nhìn thấy hàng triệu người dân Miền Nam liều mạng nhào ra biển đi tìm tự do thì họ hối hận và nặng nề lên án cọng sản. Họ xứng đáng là trí thức. Cònbọn trí thức Việt Nam vừa ngu vừa hèn, nên không nói được một lời ăn năn, sám hối thì đáng khinh biết là chừng nào. Có bao giờ anh dành một phút ân hận vì đã chở Ngài Quảng Đức “tự thiêu” để giật sập nền Cộng Hòa của Miền Nam? Có bao giờ anh tỏ ra xót xa khi nhìn thấy thanh niên VN xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước mà bị bọn Công An côn đồ đánh tóe máu?

Tưởng rằng qua kinh nghiệm mất nước, trí thức phải ngộ ra sự bất xứng của mình để bớt ngu đi. Tôi được một người bạn mua tặng cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” dày 700 trang của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Nể lòng tốt của bạn, tôi đón nhận cuốn sách, nhưng mang về vất xó nhà, không thèm đọc một chữ. Bởi vì cái tựa đề cuốn sách là đã cho thấy tác giả tối dạ, đâu cần đọc nội dung?

Anh Thuận hãy thử đọc màn đối thoại giả tưởng sau đây:

“Tiến sĩ Henry Kissinger: Chào ông Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Bộ trưởng Kế Hoạch của Việt Nam Cộng Hòa. Ông có khỏe không?

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng: Cám ơn ông Bộ trưởng. Tôi vẫn khỏe, nhờ tập thể dục thường xuyên, ăn uống điều độ và viết sách mỗi ngày.

Tiến sĩ Henry Kissinger: Không! Tôi muốn biết thần kinh của ông có bị xáo trộn không?

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng: Vâng! Thần kinh của tôi vẫn ổn định.

Tiến sĩ Henry Kissinger: Thần kinh của ông ổn định, tại sao ông viết sách miệt thị chúng tôi? Chúng tôi đến giúp nước ông ngót 20 năm. Chúng tôi mang gần 1 triệu đồng bào Miền Bắc của ông vào Nam để lánh nạn cộng sản. Các ông không biết quý trọng sự tự do. Đảng phái chia rẽ nhau. Tôn giáo biểu tình đốt Tòa Đại sứ của chúng tôi, đuổi chúng tôi về nước. Các ông Tướng thì tranh giành địa vị, đảo chính nhau liên miên. Con cái ông lớn, nhà giàu thì gửi ra ngoại quốc học, trong khi con cái chúng tôi phải hy sinh trên đất nước ông. Dân chúng Hoa Kỳ không chấp nhận cuộc chiến phi chính nghĩa, chúng tôi đành phải tính kế hoạch chia tay các ông. Ông hãy tự hỏi các ông có xứng đáng là Đồng Minh của chúng tôi không? Chúng tôi giúp Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản mà nào chúng tôi đâu có tháo chạy? Ông dùng chữ tháo chạy là quá đáng và ngạo mạn lắm đấy! Ít nhất chúng tôi đã cứu vớt và cưu mang cả triệu người Việt Nam đến sống ở đất nước chúng tôi. Các ông không chịu sống tử tế, lại bày trò Kháng Chiến bịp, Chính Phủ ma lừa đảo chính đồng bào ông. Bản thân ông có viết bài báo nào để lên án hành động xấu xa đó không? Tôi đã đọc những bài báo của mấy ông trí thức Chống Cộng VN chửi tôi thậm tệ. Có lẽ các ông ấy cứ nghĩ tôi là người Việt Nam phải có bổn phận bảo về quyền lợi của người Việt Nam chăng? Trong Đệ nhị Thế Chiến, Nga Mỹ là Đồng Minh chống lại Đức Ý Nhật. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, Nga Mỹ trở thành kẻ thù, ông Bộ trưởng có biết không? Trước kia Việt Cộng đòi chống Mỹ cứu nước; nay họ đang lạy chúng tôi để cứu nước. Ông Bộ trưởng có biết không? Thế hệ các ông đã hỏng hết rồi. Nguyền rủa, trách móc chúng tôi thì các ông không bao giờ có thể lớn lên được đâu. Hãy nuốt nhục để vươn lên hơn là rên xiết và đổ tội cho người khác.

Hãy tuyên dương những lớp trẻ người Việt do chúng tôi đào tạo như bà Dương Nguyệt Ánh, ông Đinh Việt, ông Lương Xuân Việt … kia kìa. Và hãy suy tôn lớp người trẻ đó làm lãnh tụ; chứ đừng giành nhau chức lãnh tụ để gây thêm chia rẽ.

Nước tôi mới thành lập chỉ hơn 200 năm mà trở thành cường quốc số 1 trên thế giới. Nước ông có tới 4 ngàn năm tuổi mà không chịu lớn là tại vì trí thức của các ông chỉ biết ngồi oán trách và đổ tội cho người khác đấy thôi. Các ông hấp thụ nền giáo dục phong kiến của của Tàu, sự kiêu ngạo của Thực dân Pháp, chỉ biết tiếc nuối thời dĩ vãng vàng son thì khó mà trưởng thành lắm. Ông hãy về đọc bức thư viết từ đường phố VN của cô Nancy Nguyễn gửi cho bố mẹ để mà trở thành người lớn đi. Hãy cố gắng thắp lên một ngọn đèn; chứ đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối!”

Thưa anh Trần Quang Thuận thân mến,

Tôi không nghe rõ câu trả lời lí nhí của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng ra sao nên không thể chép lại cho anh đọc. Có lẽ phải chờ ông Tiến sĩ trả lời trên mặt báo mới được. Nhân đây tôi xin gửi đường link dẫn đến bức thư của cô Nancy Nguyễn để anh đọc thì mới thấy tuổi trẻ VN đang trưởng thành:

https://uyennguyen.net/2016/05 /18/nancy-nguyen-thu-goi-ba-me -tu-mat-duong-day-song/

Tôi đã đọc đi đọc lại thư của cháu Nancy Nguyễn nhiều lần và đã ứa nước mắt vì cảm động và vì tin tưởng nòi giống Việt Nam sẽ không bị hủy diệt, mặc dầu tập đoàn thống trị đầu trâu mặt ngựa cọng sản Việt Nam tuân lệnh Tàu quyết tâm tiêu diệt dân ta. Tuổi trẻ Việt Nam như Phương Uyên, Việt Khang,Trần Huỳnh Duy Thức … là những thiên thần sẽ vực dậy toàn dân đứng lên. Thứ người chỉ biết “ăn mày dĩ vãng” chẳng làm được việc gì. Điều mà các người lớn nên làm là cổ vũ  tuổi trẻ hải ngoạihãy noi gương cô Nancy Nguyễn thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của các bạn trẻ trong nước.

Ông Nguyễn Gia Kiểng viết cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn. Tôi phản bác: “Không! Tổ Quốc Việt Nam không phạm tội tình gì mà phải ăn năn! Bọn bán nước cọng sản, bọn làm tay sai cho cọng sản, bọn làm chính trị lừa đảo, bịp bợm, bọn giả danh tôn giáo buôn thần bán thánh, bọn tha phương cầu thực giá áo túi cơm mới cần phải Giác Ngộ, tức là phải ăn năn, sám hối để chuộc tội lỗi thì Đất Nước sẽ hết điêu linh”.

  1. 7.           [ Một vài phản biện đơn sơ cũng đủ cho thấy trình độ nhận thức của ông ĐVA. Mong độc giả cho thêm tài liệu để “bài viết” của ông Đăng Văn Âu được “phong phú”! ].

...

 






 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/201317:24(Xem: 3663)
Nguyên nhân nào làm cho Phật Giáo Việt Nam đứng lên tranh đấu bất bạo động, và Tăng, Ni, Phật tử tự nguyện thiêu thân làm đuốc, chống bạo quyền Ngô Đình Diệm 1963 ? Vấn đề này, thật là dễ hiểu.
10/04/201317:23(Xem: 2947)
Hôm nay, chủ nhật 21 tháng 6 năm 2009, trường Hạ tại Phật Học Viện Quốc Tế, miền Nam California đã sinh hoạt được 6 ngày. Kim đồng hồ tích tắc đã nhích 8640 phút rất đều đặn, không hề nhanh hơn hay chậm đi, nhưng tâm thế gian, do vui hay buồn mà lại cảm thấy thời gian qua nhanh hoặc chậm.
10/04/201317:26(Xem: 3275)
Hòa thượng (HT) Thích Quảng Đức tên đời là Lâm Văn Túc sinh năm 1897 tại làng Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Lên bảy tuổi Lâm Văn Túc được cậu ruột đem về nuôi và đổi tên là Ngyễn Văn Khiết, Lâm Văn Túc xuất gia với thiền sư Hoằng Thâm, . . .
10/04/201317:22(Xem: 2761)
Cuộc Hội Thảo Về “Bồ Tát Thích Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân” do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Tổ Chức tại Thành Phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 5 năm 2005.
03/10/201306:40(Xem: 4071)
Lễ hiệp kỵ Lịch Đại Tổ Sư lần thứ VII, được tổ chức tại chùa Cổ Lâm, Seattle, tiểu bang Washington, đông đảo chư Tôn Đức Tăng Ni và thính chúng, đã hoan hỷ câu hội trong tinh thần tương kính, tương thuận, tương giáo, tương sám như Luật dạy, cũng như pháp hòa kính, cộng trLễ hiệp kỵ Lịch Đại Tổ Sư lần thứ VII, được tổ chức tại chùa Cổ Lâm, Seattle, tiểu bang Washington, đông đảo chư Tôn Đức Tăng Ni và thính chúng, đã hoan hỷ câu hội trong tinh thần tương kính, tương thuận, tương giáo, tương sám như Luật dạy, cũng như pháp hòa kính, cộng trú mà hành Phật sự khắp mọi miền trên các quốc gia - Châu lục. Cũng như giữ gìn và phát huy bản thể của Tăng Già để làm điểm tựa sức sống trên bản nguyện thượng cầu hạ hóa.ú mà hành Phật sự khắp mọi miền trên các quốc gia - Châu lục. Cũng như giữ gìn và phát huy bản thể của Tăng Già để làm điểm tựa sức sống trên bản nguyện thượng cầu hạ hóa.
09/04/201319:17(Xem: 2103)
Tu viện Quảng Đức tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức (50 năm vị pháp vong thân) 1936-2013
02/06/201607:31(Xem: 1597)
Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu qua lời kể của ông Nguyễn Văn Thông
10/04/201317:25(Xem: 3311)
Tất cả các chi tiết từng giờ, từng ngày trong diễn tiến cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ khởi đầu đến kết thúc bằng cuộc cách mạng lật đổ một chế độ độc tài gia đình trị, tôn giáo trị, của giòng họ Ngô năm 1963, đã được các cơ quan truyền thông báo chí phổ biến từ 42 năm qua,.
29/05/201307:43(Xem: 1320)
Nhân kỷ niệm đúng 50 Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu, người viết bài này xin đóng góp bốn vấn đề để làm sáng tỏ thêm cuộc đời và hành hoạt của Ngài. Trong lịch sử cận đại, Hòa thượng Thích Quảng Đức là một nhân vật lịch sử, một vị tăng Việt Nam của thế kỷ 20 được xưng tụng và ca ngợi là một vị Bồ Tát xả bỏ thân mạng để cứu nguy dân tộc và đạo pháp cũng như làm rạng rỡ cho Phật Giáo Việt Nam. Sự tự thiêu của Ngài ở Saigon vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 chống lại chế độ độc tài và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm không những đã khiến cho người Phật tử Việt kính ngưỡng, mà cả thế giới đều ngạc nhiên và kính phục trước hành động khó nghĩ bàn đó. Trải qua gần nữa thế kỷ, tên tuổi của Ngài đã viết thành sách, và đã khắc trên đá. Phật giáo đồ đã, đang và sẽ xây dựng bảo tháp, công viên và nhiều tượng đài để tưởng niệm đến công ơn của Ngài. Nhiều ngôi chùa, tu viện và trung tâm văn hóa Phật Giáo đã vinh danh ngài bằng cách dùng tên Quảng Đức để đặt tên cho cơ sở. Tên của Ngài đã đư
26/04/201215:06(Xem: 7409)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức