Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

13. Sự Liên Tương Của Đời Sống

07/04/201720:28(Xem: 677)
13. Sự Liên Tương Của Đời Sống
THIỀN QUÁN
VỀ SỐNG VÀ CHẾT
Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành
The Zen of 
Living and Dying
A Practical and Spiritual Guide
Nguyên tác Anh ngữ:
Đại Sư Philip Kapleau
Việt dịch: 
HT.Thích Như Điển
TT. Thích Nguyên Tạng

Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc
Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu
Ấn Hành 2017


13. SỰ LIÊN TƯƠNG CỦA ĐỜI SỐNG
Việt dịch: HT.Thích Như Điển

Chúng Ta Là Anh Em

Để hiểu toàn diện về nghiệp lực, điều cần thiết chúng ta phải nhận thấy sự liên quan của tất cả trong cuộc sống, vì chúng ta chẳng phải đơn lẻ, mà đang cùng chung một điệu múa với mọi sự sáng tạo. Nếu tôi chuyển động thì anh chuyển động; nếu anh làm sai, tôi sẽ làm sai; nếu tôi làm tốt thì anh cũng sẽ làm tốt. Niềm hạnh phúc và sự thành công của nhân loại cũng là của tôi, nếu như tôi cũng hoan hỷ về những điều may mắn của những người khác, mà không một chút ganh tỵ. Tương tự khi tôi có thể thấy được và khóc cùng sự khổ đau của người khác, thì tình thương của tôi được thể hiện và tôi có thể làm những gì mà tôi có thể giúp khi họ cần đến. Thế nhưng như Dolores Leckey quan sát thì cứ mỗi lần, khi một người trong chúng ta ngưng lại thì thế giới này cũng ngưng lại một ít, mối liên hệ của chúng ta với những người khác chặt chẽ đến như vậy. Nhưng công bằng mà nói: Chúng ta đến thế giới này một mình và khi chúng ta từ giã cũng chỉ một mình, ta tồn tại bằng những nhân thiện và cản trở bởi những nhân xấu.

Ở giữa sự sống và sự chết, một tác giả khuyết danh viết rằng: “Chúng ta phải tìm ra những ý nghĩa cho cuộc đời của mình. Chúng ta phải dang tay ra đón tiếp người khác và hãy vui mừng với họ, đặc biệt là những khoảnh khắc mà chúng ta có thể tán dương về quá khứ và hướng đến niềm hy vọng tràn đầy cho tương lai. Đây chính là những khoảnh khắc mà ở trong đó chúng ta vượt khỏi giới hạn của con người, giải phóng những ràng buộc trong sự hiện hữu cô độc của chúng ta và nếm hương vị ngọt ngào của cuộc đời.”

Sự cảm nhận khi người khác sai thì tôi cũng sai và chính tôi phải chịu trách nhiệm gánh vác những sai quấy đó một mình, không đồng nghĩa với tôi phải chấp nhận chịu trách nhiệm và sự trừng phạt thích hợp cho từng lỗi lầm của mình. Chúng ta lấy một ví dụ là anh đã cố gắng làm mọi việc để giúp đỡ cho chiến tranh Việt Nam kết thúc. Trong trường hợp này anh có thể nói: “Tại sao tôi lại phải cảm thấy có trách nhiệm cho việc ném bom và những sự khủng bố khác xảy ra ở đó?”. Dĩ nhiên không phải bất cứ ai cũng có thể nói rằng họ đã làm hết khả năng của họ để chấm dứt chiến tranh cả, nhưng có nhiều người đã rất cố gắng làm việc này. Như thế thì trách nhiệm của chúng ta ở chỗ nào? Nó nằm nơi sự cần thiết để giải thể sự tham giận, sân nhuế và những bản tính phá hoại của chính mình. Nó cũng nằm nơi sự phát triển toàn diện năng lực của lòng từ bi và trải rộng lòng từ bi ấy xuyên qua cuộc sống của chúng ta. Chúng ta là những người đùm bọc chăm sóc cho những anh em của chúng ta - không - thật sự chúng ta chính là anh em của mình, bởi vì chúng ta không thể lìa xa nhau được.

Nghiệp Và Sự Tự Tử

Mỗi hành động cố ý với động cơ ích kỷ sẽ dẫn tới kết quả là những nghiệp lực tiêu cực. Sự cố ý kết thúc mạng sống của mình chính là tiêu biểu cho hành động ích kỷ kia. Đời sống của con người mang một giá trị rất lớn, bởi vì chỉ trong cảnh giới con người chúng ta mới có thể đi đến sự giác ngộ và đạt được sự giải thoát hoàn toàn.

Giới luật của Đạo Phật về việc không sát sanh là một phần trong tổng thể phòng hộ sự phá hoại tâm thức của con người và xã hội. Cũng chẳng có một cộng đồng nào chấp nhận việc mạng sống của con người bị cướp đi. (15) Sự tự tử sẽ làm nhiễu loạn cho quân bình của cả một cộng đồng, mà trong đó mỗi người là một phần tử. Nó tác động mạnh đến nền tảng căn bản về cuộc sống của chúng ta. Tác phẩm Talmud nói rằng: “Bất cứ ai có thể cứu được một sinh mạng, thì điều ấy cũng có nghĩa là anh ta đã cứu cả thế giới này”. Điều ấy hẳn đúng. Sự tự sát không có chỗ đứng trong sự thật hiện hữu căn bản. Trên thực tế thì chúng ta đang tồn tại giữa hai bình diện cùng một lúc: Đó là hiện tượng (hay sự liên hệ) và vô điều kiện (hay sự tuyệt đối). Thật ra thì chúng ta không phải là hai, nhưng trong khi chúng ta nói về điều này trong ngôn ngữ của tâm thức thường phân biệt nhị nguyên của chúng ta, thì nó hình như là riêng biệt. Thế nhưng ở trong phút giây trong sáng của tâm thức chúng ta có thể nhận thấy rằng: Không chính là hiện tượng và hiện tượng chính là Không. Tựu trung thì trong phương diện tuyệt đối, sự tự tử không ảnh hưởng gì đến ai cả, bởi không có một người nào hay việc gì có thể làm cho ai bị ảnh hưởng. Nhưng đồng thời chúng ta cũng tồn tại trong sự liên hệ của thời gian và không gian, giữa con người và con người. Ở bình diện này – gia đình, bạn bè và người quen – tự tử sẽ là sự mất mát thật to lớn đối với họ. Bởi vì qua những hành động căn bản ích kỷ của mình - sự tự sát là nguyên nhân của sự đau đớn này. Tôi có lỗi khi đã tạo ra một khối lượng to lớn của nghiệp lực bất thiện, mà kết quả của điều ấy không phải chỉ có ảnh hưởng chỉ cho tôi, mà còn cho nhiều người khác nữa. Nghiệp lực được cấu tạo ở cõi sắc, được thành tựu và được tẩy sạch. Nếu chúng ta có những quyết định chỉ dựa lên cuộc sống trên bình diện tuyệt đối - hoặc là chẳng có sự phân biệt, thì đó là một sự nhầm lẫn to lớn. Điều ấy cũng giống như một người mù chỉ nhìn thấy một khía cạnh tương đối của cuộc đời này. Phương diện không hình tướng không thể được cân nhắc nếu không có sự khác biệt, cả hai đều không thể tách rời nhau.

Nói về sự liên hệ của cá nhân đối với cộng đồng – William James khẳng định rằng: Cả hai đều có điều kiện tương tác với nhau. “Cộng đồng sẽ ngưng hoạt động, nếu không có đóng góp của cá nhân. Sự tác động này sẽ mất đi, nếu không có sự đồng tình của cộng đồng.” Khi nhà thơ John Donne nói rằng: “Cái chết của mỗi người làm cho tôi trở nên nhỏ bé lại.” Ông ta khẳng định về giá trị của tinh thần và khoa học luôn liên hệ với nhau trong đời sống; những gì xảy ra ở nơi đây, cũng có thể ảnh hưởng đến nơi khác cách xa hằng triệu cây số. Mỗi cá nhân trong một xã hội đều ví như là những sợi chỉ của một tấm vải đẹp. Nếu kéo riêng lẻ một vài sợi chỉ ra và như vậy bạn đã phá đi một tổng thể của một miếng vải. Những cái chết khủng khiếp do bị giết hại, tự tử và chiến tranh là những phá hoại đặc biệt to lớn.

Bây giờ thì nhiều người có thể nghĩ rằng, mỗi người có thể làm những gì theo mình thích đối với cơ thể của mình. Thế nhưng cơ thể này có là sở hữu của chúng ta không? Trong trường hợp này nếu là như vậy thì chúng ta có thể kiểm soát sự lão hóa và cái chết. Rõ ràng rằng chúng ta không thể làm được việc ấy. Cũng như vậy, nếu tâm thức của chúng ta thật sự là của chính chúng ta, thì chúng ta phải có khả năng kiểm soát toàn diện về những sự suy nghĩ của mình, nhưng chính điều này chúng ta cũng không thể làm được. Thân thể của chúng ta có một luật định riêng mà nó tuân theo, không bị lệ thuộc vào sự mong muốn của chúng ta. Như thế thì thân thể và tâm thức này thuộc về ai? Tâm và thân của chúng ta như là một sự kết hợp của một con đường mà chúng ta suy nghĩ, cảm nhận cùng những hành động. Đây là món quà nghiệp lực của chúng ta và khiến cho chúng ta sanh lại làm người, với hạnh phúc khổ đau cũng như khả năng thọ nhận được sự hiện hữu vật chất này. Không những thế, sự chấp thủ cho rằng thân và tâm là của tôi, là một bước đi sai lầm đầu tiên trên con đường đi đến sự trói buộc bởi chính mình.

Như Witt Auden đã khẳng định trong tác phẩm “Canzone” rằng:

“Sự đòi hỏi sở hữu thân thể và thế giới của chúng ta là sự tàn phá của chính mình.”

Là một chúng sanh, chúng ta đã thể hiện một kết quả thắng lợi cho việc tranh đấu theo sự tiến hóa từ một hình thức lạc hậu để có được một thân thể như hiện tại, với đầy đủ một hệ thống não bộ cao cấp và một sự cấu tạo vật lý hoàn hảo. Do những nghiệp lực tốt, đa số chúng ta thành tựu được “một thân thể trọn vẹn và một tâm hồn thanh khiết.” Vì vậy mà chúng ta phải có một nhiệm vụ dinh dưỡng để bảo vệ chúng, cho chúng ta và cho những người khác.

Đối với một chúng sanh, không có điều gì vi diệu hơn là có được cơ hội bước đi trên quả địa cầu này.

Nghiệp Và Sự Phá Thai

Trong trường hợp phá thai - ở hầu hết những sự nhận thức đúng đắn thì chẳng phải do dụng cụ của bác sĩ mà cũng chẳng phải bất cứ cái gì khác có thể thật sự phá hoại đời sống của những thai nhi. Bởi vì chúng luôn là sự thật thiên nhiên không thể phá hoại được. Hãy nhìn sự phá thai từ quan điểm tương đối, người ta có thể nhận ra rằng tất cả những phần tử trong sự phá thai, như cha mẹ và Bác sĩ (hay là người khác) những người đã thực hiện, sẽ có phần trong quả báo của những hành động này.

Chẳng luận là việc gì, cho bất kỳ lý do nào, với mỗi hành động chúng ta đã gieo hạt thì chúng ta cũng sẽ nhận  những kết quả của chúng khi mà thời gian chín mùi. Những loại nghiệp mà chúng ta tạo ra cho bản thân và cho những người khác, lệ thuộc vào mức độ của sự có mặt hoặc không có mặt của sự ích kỷ làm động cơ cho hành động của chúng ta. Nếu một người phụ nữ mang thai cảm thấy rằng cô ta thiếu khả năng để chăm sóc, không đầy đủ tình thương cho đứa bé và phá đi cái thai đó, thì cô ta sẽ tạo ra cái nghiệp ít đau khổ hơn là sau này đứa bé sẽ bị tật nguyền khi nó lớn lên. Nếu cô ta phá thai bởi vì cô ta không thích sự can thiệp của thai nhi với ước muốn ích kỷ của mình, thì cô ta tất nhiên sẽ sinh ra một nghiệp lực đau khổ. Nếu sinh ra một đứa bé có thể làm chết người mẹ thì phá thai để cứu người mẹ, vì người mẹ đã được phát triển toàn diện hơn, có thể được ưu tiên hơn là bảo vệ thai nhi kia. Sự phân biệt và xác định rõ ràng về luật nhân quả, cũng như điều chấp nhận hoàn toàn lãnh chịu trách nhiệm cho những việc cần phải làm sẽ giúp cho tâm hồn tội lỗi được trong sạch, sự lo âu, sự hối hận – là những hạt giống cho sự hủy hoại mới.

Nghiệp Và Sự Trợ Tử

Tất nhiên, không ai trong chúng ta muốn thấy những người thân đau khổ. Nhưng nghiệp của một người đã lấy đi chính đời sống của mình và những người đã giúp đỡ cũng như ai hỗ trợ đã lấy đi một sinh mạng thì chẳng giống nhau. Điều quan trọng là tự lấy đi mạng sống của mình kéo theo một hình phạt về nghiệp lớn, theo những lý do đã được nêu ở phần trên. Đáp lại sự ủy thác của người khác để kết thúc cuộc đời của họ, bởi vì sự đau đớn quá lớn, dẫn đến những nghiệp quả ít trầm trọng hơn (điều sau này không bao gồm việc giúp đỡ cho người khác tự sát - hành động này có thể có kết quả nghiêm trọng hơn của nghiệp lực). Việc này có thể làm cho các bạn nghĩ rằng: Ích kỷ khi nghĩ đến nghiệp của chính mình nếu một người thân nào đó của mình trong cơn đau đớn van xin bạn chấm dứt cuộc đời của họ. Thế nhưng điều này trên thực tế không đóng vai trò quan trọng xét theo nghiệp lực của người kia. Có phải là tốt hơn không, xét về nghiệp, khi không đáp ứng điều yêu cầu của người kia vì lợi ích của chính họ? Không dễ tìm ra câu trả lời đúng đắn cho điều này. Mỗi một trường hợp nối liền với hằng tá tình huống riêng biệt và mỗi người phải lấy căn bản giải quyết dựa trên những sự tình này. Với sự hiểu biết hoàn toàn rõ ràng, rằng với bất cứ những gì đã quyết định, thì nhân ấy sẽ dẫn tới kết quả tương ưng.


 

 

Nghiệp Và Quả Báo

Nghiệp chẳng phải là việc của "mắt đổi mắt, răng đổi răng" trong một giới hạn nhỏ hẹp. Đây cũng chẳng phải nhất thiết là mối liên hệ một đối một giữa thiện và ác của một người tạo ra trong kiếp này và những kết quả sẽ diễn ra trong kiếp khác. Trên thực tế thì nếu trong đời trước một người cắt đi cánh tay của một người khác, thì chẳng có nghĩa là trong đời này hắn ta phải bị mất đi một cánh tay. Những diễn biến vô thường liên tục chi phối lẫn nhau. Dòng chảy của nghiệp, cả tốt và xấu, hổn hợp nhau, tiếp tục theo nhau từ quá khứ cho đến đời sống hiện tại và từ đời sống này kéo dài đến tương lai. Nghiệp của chúng ta được quyết định bởi tổng số những hành động của chúng ta, việc tốt và việc xấu, và bởi những cộng nghiệp mà chúng ta có phần trong đó. Những hành động này tạo thành một hình khối, một khuynh hướng, là kết quả tương ưng với những sự kiện của những gì mà chúng ta đã làm. Với ngôn từ khác thì nghiệp của chúng ta tạo thành một con đường - hay cũng có thể là một lối mòn, mà chúng ta theo thói quen thường bước đi trên đó.

Nghiệp Quả Xuất Hiện Trong Hiện Tại Và Tương Lai

Như những hành động của chúng ta có thể tạo thành những nghiệp thiện, bất thiện và vô ký; cũng thế, kết quả của nghiệp có thể xảy ra kéo dài trong 3 thời kỳ. Một vài nghiệp trổ quả ngay trong hiện tại hoặc liền sau khi hành động được thực hiện. Kết quả của hành động ấy cũng có thể là không trổ ra sớm hơn cho đến kiếp sau. Và trong vài trường hợp phải trải qua nhiều kiếp thì quả ấy mới trổ. Trong một vài trường hợp nghiệp lực có thể quá yếu, không tạo ra một phản ứng nào cả. Vì vậy những kết quả trải nghiệm trong đời sống này là những quả đã thành hình của những nhân đã gieo trồng từ đời quá khứ hay trong hiện tại, và kết quả tổng thể từ những hành động tốt hoặc xấu ở trong cuộc đời này sẽ được trải nghiệm, trong đời này và kéo dài đến tận những đời sống về sau.

Thay vì xử dụng những danh từ “thiện” hay “bất thiện”, thì nên nói chính xác hơn là hành động trọn vẹn hay không trọn vẹn. Một sự mong muốn bất thiện mọc rễ từ sự tham lam, sân hận (giận dữ) hoặc là vô minh (sự suy nghĩ sai quấy) – hoặc với một từ ngữ là: Tự ngã. Còn sự mong muốn thiện được phát xuất ngược lại của những sự nhiệt tình, tự tại, phóng khoáng, tình thương, sự hài lòng cũng như sự trong sáng của tâm thức.

Với những gì chúng ta biết về nghiệp tạo ra bây giờ hoặc trong tương lai, sẽ dễ dàng hơn cho chúng ta hiểu được những gì có thể xảy ra nếu một người có một cuộc đời tốt, bỗng nhiên đi vào chỗ tận cùng và làm lỗi sai lầm trầm trọng, trong sự sửng sốt và kinh ngạc của gia đình và bạn bè, những người luôn hướng về anh ta như một trụ cột biểu hiện cho tấm gương tốt. Việc gì đã xảy? Anh ta bị những nghiệp quá khứ bắt kịp và thành hình ra quả hiện tại do các trợ duyên.

Nếu chúng ta quan sát sự hiện hữu của con người theo quan niệm chỉ có duy nhất một kiếp sống, thì có khi những người xấu ác có một đời sống tốt và người tốt thì khổ đau, rằng những người có những hành vi thật thà dẫn đến không có hạnh phúc; trong khi những người có hành động sai trái lại dẫn đến một cuộc đời tươi đẹp. Nhưng đây chỉ là kết quả của nghiệp tốt hay nghiệp xấu từ quá khứ mang đến. Nếu có thể để truy theo diễn biến của nhiều kiếp sống, thì chúng ta sẽ nhận chân ra rằng những kẻ có hành vi tội lỗi sớm muộn gì cũng sẽ nhận đúng quả báo tương ưng.

Nghiệp Và Ý Muốn Học Những Điều Tốt

Tôi đã nghe một vài người nói rằng nguyên nhân của sự đau khổ trong thế giới có thể không phải do một vài việc sai quấy mà chúng ta đã làm trong quá khứ, nhưng vì sự cần thiết của chúng để ta học hỏi một điều gì đó; ví dụ như là sự ý thức hoặc sự khiêm tốn. Một số người còn đi xa hơn nữa khi nói rằng chúng ta cố ý chọn lựa trải qua những kinh nghiệm đau đớn ấy để học hỏi từ đó. Thế nhưng những khái niệm này lại xuyên tạc lời dạy của Phật Giáo về nghiệp lực.

Hãy suy nghĩ về tình huống sau đây: Tôi bắt đầu băng qua một ngã tư tấp nập, trong khi ngọn đèn cho xe chạy vẫn còn xanh, và bởi vì tôi không chú ý nên tôi đã bị một chiếc xe hơi va vào, rồi bị thương nặng. Sự bị thương của tôi không sanh ra từ sự cần thiết học hỏi về giá trị của chánh niệm. Việc tôi có chú tâm hơn hay không trong tương lai qua kết quả của tai nạn đó đều lệ thuộc ở nơi tôi. Nhưng tai nạn ấy không phải đã xảy ra để dạy cho tôi cần phải chánh niệm.

Hãy lấy một thí dụ khác: Chúng ta có thể bảo rằng, chồng của bạn đối xử không tốt với bạn. Qua những gì bạn đã làm trong quá khứ có thể còn nhớ hoặc không, bạn đã gặt hái sự tệ bạc ấy cho chính mình. Thế nhưng ở đây lại có sự khác biệt rõ ràng giữa sự chấp nhận trách nhiệm cho sự đối xử tệ bạc ấy đối với bản thân mình và nằm yên để tiếp tục nhận lãnh những trừng phạt khác – hoàn toàn không cố gắng thay đổi hoàn cảnh của mình. Trong trường hợp bạn vẫn để cho người chồng tiếp tục đánh đập, chẳng những bạn sẽ làm cho sự đau đớn và khổ sở tiếp tục mà còn giúp cho chồng tiếp tục tạo nghiệp xấu cho chính ông ta. Hãy nhớ rằng chúng ta có năng lực để tự thay đổi nghiệp của mình. Bạn có thể chọn lựa rời khỏi mối quan hệ, hoặc là di chuyển đến nơi khác để sống, hoặc bạn có thể chọn lựa sự cố vấn về tâm lý để hiểu cũng như để thay đổi về những hành vi của chính mình, cái đã đưa đến sự việc này, hay bạn có thể đơn giản ngả lưng ra sau và tự nói rằng: “Đây chính là nghiệp của tôi”.

Tôi biết rằng nhiều người ngày hôm nay tin rằng: Chúng ta tự tạo ra căn bệnh của chính mình và chúng ta cũng có thể chữa trị cho chính mình bằng ý chí hoặc là áp dụng những phương cách trị liệu tự nhiên. Tuy tâm thức và thân thể của chúng ta được cấu tạo bởi nghiệp lực của mình. Bao gồm cả sự chọn lựa cha mẹ và vì vậy cũng có thể dẫn đến khuynh hướng di truyền đưa đến một vài chứng bệnh. Nhưng chúng ta không thể bỏ qua sự liên quan của môi trường và những ảnh hưởng khác.

Chúng ta là một tổng hợp phức tạp bao gồm tâm, thân, ý tưởng và sự mong muốn. Bốn điều này liên kết nhau với một mối liên hệ không thể tách rời. Nhưng vì lý do xử dụng thực tế, ta chia chúng ra từng phần riêng biệt. Và vì vậy mà cơn bệnh của thân - tâm chẳng phải là điều đơn giản chút nào. Ví dụ như trong trường hợp bị cảm lạnh, thì  nguyên nhân thông thường ai cũng biết chính là do vi trùng cảm, thế nhưng sự kiệt sức của thân thể, sự đè nén và ức chế có thể cũng góp phần trong sự quyết định: Con người đó dễ bị cho những con vi trùng xâm nhập. Hoặc giả chúng ta lấy trường hợp ung thư, có thể là một bệnh trạng phức tạp cũng như bí ẩn nhất trong các bệnh. Ung thư không có một lịch sử hình thành đơn thuần và chữa trị nó cũng không phải là một việc đơn giản. Trong khi sự vui vẻ, thái độ lạc quan và ý chí của con người góp phần cho việc vượt qua cơn bệnh được biết đã có ích trong một vài trường hợp. Ngược lại có những trường hợp khác thì không như vậy. Voltaire đã viết “Bác sĩ chính là người viết những toa thuốc mà họ hiểu rất ít về nó, trị những cơn bịnh mà họ lại càng ít hiểu hơn, và chữa trị cho con người, thứ hữu tình mà họ hoàn toàn không hiểu biết”.

Quan niệm cho rằng chính chúng ta tự gây ra những chứng bệnh và chúng ta cũng có thể tự chữa trị nó, đã phản ngược lại với tất cả những sự hiểu biết về y khoa. Sự thật thì một lối sống không điều hòa - ăn kiêng sai, thể dục không đầy đủ, rượu chè và lạm dụng thuốc, tinh thần hỗn loạn, sự đè nén, bất lực đối với sự căng thẳng và những lý do khác - có thể đưa đến tình trạng bệnh hoạn. Nhưng rất nguy hiểm khi kết luận rằng: Anh chỉ cần ứng dụng một chút năng lực ý chí hay những hình ảnh tưởng tượng tích cực - hoặc ngay cả ngoại khoa, phóng nhiệt và hóa học trị liệu - để ảnh hưởng cho việc chữa bệnh. Đối với người đang bệnh, điều này có thể dẫn đến nỗi ám ảnh nếu anh ta tin rằng anh ta có thể tự chữa lành cho chính mình - hoặc anh ta sống không lành mạnh - và cuối cùng bị thất bại. Vì vậy chúng ta sẽ trở thành người không có trách nhiệm hoặc vô cảm nếu phán xét rằng: “Chính anh đã làm cho anh bịnh, hãy tự mình chữa trị đi! Nếu anh không thể thì có nghĩa là anh có vấn đề!”

Điều này làm hồi tưởng lại thời kỳ tôn giáo truyền đi niềm tin rằng, những điều đau khổ và bệnh tật của con người cũng như sự khổ não là vì họ đã mất đi ân huệ của Chúa và dẫn đến sự phẫn nộ của Ngài. Nếu thật sự là như vậy thì những chứng bệnh và sự đau đớn đó chính là kết quả của một đời sống không thanh tịnh. Vậy thì chúng ta phải giải thích như thế nào về cái chết do ung thư của vị lãnh đạo tinh thần vĩ đại như Shri Ramana Maharshi? (hãy xem “Shri Ramana Maharshi”).

Nghiệp Báo Và Lòng Từ Bi

Lòng từ bi và trí tuệ là hai trụ cột của Phật Giáo và cũng là nền tảng của giáo lý về nghiệp lực. Có một số người hiểu lầm rằng nếu họ làm giảm nhẹ sự đau khổ cho người khác, họ đã can thiệp vào nghiệp báo của người kia. Thế nhưng sự suy nghĩ này đã đi ngược lại những lời của Đức Phật: “Ta chỉ dạy duy nhất một điều: Sự khổ, nguyên nhân của sự khổ và con đường vượt lên trên nó” (đồng tác giả của Ph. Kapleau). Và Đức Phật đặc biệt không những chỉ nhấn mạnh về sự khổ đau của một cá nhân, mà cho tất cả mọi chúng sanh. Một người hiểu biết chân thật và chấp nhận định luận của nghiệp thì sẽ thể hiện sự đồng cảm và cảm thông mà giúp đỡ cho những người đang đau khổ. Bởi vì anh ta hiểu rõ rằng một lúc nào đó chính mình sẽ phải trải qua những quả báo đau khổ vì những việc làm sai trái của mình trong quá khứ.

Nhưng từ bi là gì? Có phải đơn thuần là cảm thông với những người đang khổ đau hay giúp đỡ một cách tích cực để giảm bớt sự khổ đau của họ, giống như một người Samaritan tốt, khi họ chẳng thể bước qua những kẻ tật bệnh, mà còn dừng lại để giúp đỡ họ? Có phải đó là sự cứu giúp những người nghèo và kẻ vô gia cư? Lòng từ bi giác ngộ liên hệ nhiều hơn không chỉ là sự giúp đỡ tạm thời. Ngay cả khi anh cho người đói khát ăn, thì sau đó người đói kia sẽ bị  đói trở lại. Cho đến khi nào anh làm cho họ có thể tự tạo ra thức ăn; hoặc chỉ cho họ cách kiếm đủ tiền để mua thức ăn cho mình, thì lòng từ bi của bạn chưa phải là lòng từ sâu sắc nhất. Nguyên tắc này cũng y như vậy đối với những kẻ vô gia cư. Trong khi họ cần được sự giúp đỡ để tìm kiếm, cũng như để được một chỗ đứng trong cộng đồng xã hội mà họ cũng là một thành phần trong đó, sự phát triển mà họ đã đóng góp cho xã hội (có thể là ẩn danh). Lòng từ bi của chúng ta chưa thật sự sáng suốt nếu chúng ta không chỉ rõ cho họ về nghiệp lực của chính họ là những yếu tố căn bản dẫn đến tình trạng hiện thời của họ. Ngay cả trường hợp cộng đồng xã hội đẩy họ vào bước đường cùng đi nữa thì họ vẫn có đủ sức mạnh để đứng dậy và tự thay đổi nghiệp lực của chính mình.

Có lần một người đã hỏi tôi rằng: “Nếu Ngài chấp nhận rằng tất cả sự khổ não là của chính Ngài làm ra và trong cuộc sống này Ngài cần chuộc lại những lỗi xấu xa trong quá khứ, thì làm sao Ngài có thể nhận thức về sự đau khổ của người khác như thế nào?”. Luật nhân quả không có bao gồm tất cả những điều bất hạnh là tự tạo ra. Những gì xảy ra cho một người trong chúng ta, ảnh hưởng đến mọi người, nhưng sự ảnh hưởng không phải lúc nào cũng rõ ràng. Cũng không đúng nếu chúng ta cho rằng chúng ta hiện hữu duy nhất chỉ để chuộc tội cho những việc làm tội lỗi trong quá khứ. Chúng ta hiện hữu để làm sạch nghiệp của quá khứ, cả tích cực lẫn tiêu cực. Sự khẳng định này mang một ý nghĩa bao quát hơn là sự trả nghiệp đã vay trong quá khứ.

Anh có thể hiểu rằng đời sống trong hiện tại của chúng ta giống như là một mái trường khổng lồ hay là một sân vận động; nơi chúng ta tìm đến để phát triển vật chất, tinh thần, đạo đức và trí tuệ - nói một cách khác là để làm tăng lên trình độ tri thức của chính chúng ta và tri thức cho những người khác. Điều này giải thích tại sao chúng ta có những sự ràng buộc mạnh mẽ đối với cha mẹ và người khác, bao gồm cả người phối ngẫu, mà những hành động của những người ấy có lúc đem lại khổ đau cho chúng ta và ngược lại chúng ta cũng mang lại đau khổ cho họ. Sự phát triển của năng lực cần chúng ta trải qua sự đau đớn và đấu tranh. Chúng ta có thể không chấp nhận sự khổ đau đó và chúng ta có thể giận người, hay những người mà chúng ta nghĩ có lỗi. Nhưng rồi thì nghiệp quả xoay chuyển chúng ta đến với những người như vậy. Chính bởi vì ngay trong thời điểm của đời sống hiện tại, sự đau khổ là cần thiết cho sự phát triển và sự tăng trưởng trí tuệ của chúng ta. Nếu chúng ta tri ân và chấp nhận sự khổ đau, thì ta sẽ thấy rằng đó là cơ hội tốt để phát triển, để tăng trưởng và để làm sạch những nghiệp lực không trọn vẹn trong quá khứ, thì chúng ta đã tiến một bước rất lớn về phía trước.

Điều ấy dễ quá nếu chúng ta áp dụng chữ “nghiệp báo” với một biểu cảm cho rằng mình đã tỏ rõ. Sự thật thì những hành động tự kỷ hoàn toàn làm động cơ cho những kết quả của nghiệp lực. Điều ấy cũng không có nghĩa rằng những hành động đó không có hàm ý khác. Chúng ta hãy nói về một người đàn ông và con của ông ta đã bị thảm sát bởi những phần tử khủng bố trên máy bay. Đây có phải là nghiệp quả của họ?

Vâng! Bởi vì họ đã quyết định bay chuyến bay này và như vậy trở thành nạn nhân cùng cộng nghiệp với người trên chuyến bay đó. Khi nói về vấn đề này dĩ nhiên, chẳng phải là để biện minh cho thảm cảnh của khủng bố độc ác hoặc xem thường thảm họa của sự giết hại. Nếu chúng ta nhìn thấy người nào đó đau khổ, chúng ta cần giúp đỡ cô ta nếu có thể được. Nghiệp của người đó có thể nhận lấy sự đau khổ và nghèo khó. Dù sao đi nữa thì chúng ta phải hành động. Đó chính là nghiệp quả của chúng ta. Chúng ta không được phép bỏ qua sự đau khổ của một con người, bởi vì chỉ có đáp ứng cho việc ấy thì chúng ta mới thể hiện lòng từ bi và biểu hiện về tình người của chúng ta. Với một người từ bi và sáng suốt, khi gặp sự đau khổ của người khác, có thể nghĩ rằng: “Đây chính là lỗi của họ, điều này không liên quan gì đến tôi và bỏ mặc ra đi sao?” Câu trả lời dứt khoát là không. Tại sao không? Bởi vì lòng từ bi có trí tuệ không phải chỉ dựa lên sự quyết định của tâm thức. Đây là một bản năng tự phát nằm trong tâm thức sâu thẳm nơi chúng ta, nếu điều ấy đã không bị trở ngại bởi vô minh thì sẽ tự do hoạt động. Ngoài ra sự được giúp đỡ cũng có thể là nghiệp của một chúng sanh, giống như là sự đau khổ của người đó.

Để nói: “Đây là nghiệp xấu của tôi” sau một sự kiện không vui trong đời sống của chính mình là điều lạc quan, vì nó giúp ta suy nghĩ tầm quan trọng của sự sửa đổi trong đời sống của mình. Thế nhưng nếu nói rằng: “Ráng chịu, đó là nghiệp của anh” đối với một người bất hạnh, không những chỉ là biểu hiện sự vô cảm mà còn có khi không hoàn toàn đúng với trường hợp. Ngoài ra phép lịch sự phổ biến, tôn trọng cảm xúc của người khác - là định luật trong một xã hội văn minh. Một cá nhân có thể mang đến sự đau khổ cho chính anh ta bởi những hành động lỗi lầm trong quá khứ, hoặc sự đau khổ của anh ta có thể do liên quan đến cộng nghiệp. Dù sao đi nữa thì một người thật sự có tâm từ bi sẽ ra tay làm bất cứ những gì anh ta có thể để làm giảm bớt sự khổ não cũng như sự đau thương cho người chung quanh. Giúp đỡ người khác, chính là giúp cho chính mình. Không có nghiệp báo của một người nào chỉ giới hạn riêng cho người ấy và cũng chẳng có sự đau khổ của người nào, chỉ là cái khổ của họ. Một màng lưới của sự liên hệ kết nối và nuôi dưỡng mỗi chúng ta.

Nghiệp Và Sự Biến Đổi

Trên thực tế thì chúng ta chẳng thể nào biết rõ ràng về nghiệp của mình, bởi nguồn gốc của nó thật mờ mịt. Nó liên tục thay đổi, hòa nhập, di chuyển, tạo nên. Một câu chuyện cổ tích của Trung Hoa kể về một người nông dân và con ngựa của ông ta chạy mất, biểu hiện cho năng lực phẩm chất của nghiệp lực. Khi những người láng giềng đến thăm ông ta, họ than rằng: “Xui quá! Xui quá!”, người nông dân trả lời rằng: “Có thể”. Ngày hôm sau con ngựa quay trở về và dẫn theo 7 con ngựa rừng khác. “Ồ! Ông thật là may mắn” những người hàng xóm vui mừng ca ngợi. “Có thể” ông nông dân trả lời như vậy. Qua hôm sau người con trai của ông nông dân tìm cách cởi một trong những con ngựa mới ấy, anh ta đã bị hất xuống đất và gãy một cái chân, “Ồ! Sao mà khủng khiếp vậy!” những người hàng xóm đều than khóc, người nông dân liền trả lời “Có thể”. Qua đến ngày hôm sau quân lính đến để tuyển mộ những người trẻ trong làng, nhưng đứa con trai của người nông dân không được thâu nhận vì chân của anh ta đã bị gãy. “Sao ông được may mắn quá!” những người hàng xóm bảo vậy. “Có thể”, ông nông dân trả lời lại.

Rõ ràng rằng tìm cách để đoán trước nghiệp của tương lai từ một điểm nào đó thì thật là điên cuồng, cũng giống như khi người ta nhìn vào hình chụp của những đứa bé mà trước đó chưa hề thấy qua, rồi chọn ra một đứa và tìm cách diễn tả đứa trẻ đó sẽ đạt được gì trong tương lai.

Tạo Nghiệp Tốt

Cho đến thời điểm này, khi chúng ta muốn thoát khỏi lòng tham lam và sân hận, phát triển lòng từ bi và trí tuệ (nhìn rõ chân tướng của mọi vật) và hòa mình vào trong tất cả những hoàn cảnh sống chung quanh, chúng ta sẽ tích tập thiện nghiệp - hay ít nhất cũng không tạo ra những nghiệp bất thiện. Giới của Đức Phật đã cho chúng ta những hướng dẫn rất tuyệt vời:

1.    Không sát sinh, mà còn tôn trọng tất cả mọi đời sống.

2.    Không lấy những gì không được cho, mà phải tôn trọng của cải của người khác.

3.    Không tà dâm, mà ngược lại phải chăm sóc và có đầy đủ trách nhiệm.

4.    Không nói dối, mà luôn nói sự thật.

5.    Không trợ giúp những chất say làm bấn loạn tâm thần của người khác, chính mình cũng không được dùng, và còn phải giữ cho tâm thức trong sạch.

6.    Không nói ác khẩu với người khác, mà phải thông cảm cũng như đồng cảm.

7.    Không khoa trương bản thân, không bêu xấu lỗi người khác, không che dấu những khiếm khuyết của mình.

8.    Không ngại giúp đỡ cho bất cứ ai về tinh thần hay vật chất, mà sẵn sàng cho khi họ cần.

9.    Không để cho sự sân hận làm chủ, mà còn thể hiện sự nhẫn nhục.

Cũng còn nhiều điều khác nữa, tuy nhiên ở đây chỉ chọn ra những điều trọng yếu.

Dù quán sát những điều này, hay những nguyên tắc đạo đức khác, là bước đầu tiên không thể thiếu sót trên con đường đi đến trong đời sống tâm linh. Chỉ có thật sự giác ngộ chân tướng của sự sống và chết mới có thể mang đến sự an lạc không lung lay - trong đời này hay bất cứ đời nào khác.

Để kết luận - đời sống của chúng ta chẳng phải được sắp đặt bởi Chúa hay cũng chẳng phải là ma quỷ, mà là kết quả phát xuất từ hành động của chính chúng ta, khởi đi từ tư tưởng, lời nói và những cảm xúc, bất kể chúng ta có biết hay không về tốt cũng như xấu. Những hành động này sẽ vọng lại nơi chính chúng ta và ảnh hưởng đến tính cách của mỗi chúng ta. Khi mà thái độ của chúng ta thay đổi, thì hoàn cảnh sống chung quanh của chúng ta sẽ thay đổi tương ưng.

Chân trời của chúng ta sẽ rộng mở và cuộc đời của chúng ta sẽ có ý nghĩa tươi đẹp hơn, nếu chúng ta bắt đầu thực tập để thấy rằng ngay cả những sự kiện nhỏ nhất trong đời sống của chúng ta luôn chứa đựng nghiệp lực. Chúng ta sẽ có được hiểu biết mới mẻ về năng lực của bản thân và sự cao quý khi chúng ta càng khiêm nhường hơn. Chúng ta sẽ nhận thức được: Chúng ta không phải là những mảnh vụn riêng biệt được thảy vào không gian bởi vận mệnh cố định, mà là một phần của đại dương mênh mông, nơi tất cả những con sóng kết hợp và chi phối lẫn nhau. Sự nhiệm mầu và niềm vui sẽ thay thế cho sự chán chường và bất bình.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201320:00(Xem: 5069)
Các nhà phân tích cho rằng trình duyệt Firefox do Ross tạo ra có tốc độ nhanh hơn, đa năng hơn và bảo vệ người dùng tốt hơn trước virus và phần mềm gián điệp so với Internet Explorer.
27/06/201721:31(Xem: 2248)
Khoảng 2.500 thành viên gia đình, bạn bè và người dân bang Ohio đã đến cầu nguyện trong đám tang Otto Warmbier, sinh viên Mỹ tử vong sau khi bị hôn mê trong nhà tù ở Triều Tiên. Hàng ngàn người tham dự đã xếp thành 2 hàng khi quan tài của Otto được đưa vào Trường Trung học Wyoming làm lễ tang. Đây là ngôi trường học cũ của Otto Warmbier hồi trung học.
08/04/201319:59(Xem: 5564)
Hôm Thứ Tư tuần qua, bệnh viện Alfred ở vùng South Melbourne đã rút ống tiếp tế thực phẩm và nước uống cho bà Maria Korp, 50 tuổi, theo lệnh của ông Julian Gardner, người được VCAT (Tòa án Hành chánh và Dân sự Victoria) cấp cho nhân quyền làm giám hộ (Public Advocate) bà Maria Korp từ hồi tháng 4 vừa qua.
12/02/201501:36(Xem: 6034)
Trong Kinh Bát Dương có nói rằng:”Sanh hữu hạn, tử bất kỳ”; nghĩa là: “sanh có thời gian, chết chẳng ai biết được”. Điều nầy có nghiã là: khi chúng ta được sanh ra trong cuộc đời nầy, cha mẹ, Bác sĩ có thể đóan chừng ngày tháng nào chúng ta ra đời. Vì họ là những chủ nhân của việc tạo dựng ra sanh mạng của chúng ta; nhưng sự chết, không ai có thể làm chủ được và không ai trong chúng ta, là những người thường, có thể biết trước được rằng: ngày giờ nào chúng ta phải ra đi khỏi trần thế nầy cả. Do vậy Đạo Phật gọi cuộc đời nầy là vô thường.
08/04/201319:58(Xem: 6686)
Sau khi Raymond Moody xuất bản quyển Life after life vào năm 1975, công chúng phương Tây ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm cận tử (KNCT). Các tiến bộ không ngừng của kỹ thuật Y-sinh học đã làm hồi sinh nhiều người : trước đây đã được xem là đã chết lâm sàng. Hai phần ba số người này không nhớ gì cả.
04/08/201007:14(Xem: 3074)
Trong những lần trước, chúng ta đã tìm hiểu về đời sống bên kia cửa tử qua lời kể của những người đã chết rồi hồi sinh (Near death experience). Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về những áp lực vật chất đối với những người vừa từ trần. Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cấi trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có l điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để thỏa mãn nên bị dục vọng hành hạ biến thành một loài quỷ đói. Theo các sách vở viết về thế giới bên kia thì đay là một cõi được cấu tạo bằng những chất liệu rất thanh và nhẹ so với nguyên tử cõi trần nên muốn sống một cách thảnh thơi, các vong linh khi qua đay phải biết loại bỏ đi những phần tử nặng trược tích tụ trong kiếp sống ở cõi trần như dục vọng, sự quyến luyến, lòng ham ăn uống hay đòi hỏi xác thịt.
12/11/201517:08(Xem: 7522)
Những năm trước, nhân đọc một bài pháp thoại, một vị Thiền sư hỏi những người đệ tử của mình, cuộc sống dài bao lâu? Có người bảo 100 năm, 75 năm, 50 năm, 25 năm, v.v... Nhưng câu trả lời của vị Thiền sư đó là: “Cuộc sống chỉ dài như một hơi thở”, vì nếu một hơi thở vào, mà không ra hoặc ngược lại, tức khắc chúng ta từ giã cuộc đời này. Tự nhiên, khi ngắm hoa Quỳnh nở rồi tàn trong một đêm trăng tròn Mười Sáu, chợt nhớ bài pháp thoại năm nao, tâm cảnh hữu tình mà sáng tác một bài thơ: Nếu cuộc sống dài như hơi thở, Ta làm gì giữa hơi thở trong ta?
28/06/201313:15(Xem: 5680)
HỎI: Bạn có tin tưởng tái sinh không? ĐÁP: Vâng, tôi tin. Nhưng, phải lâu lắm tôi mới đạt đến điểm này. Tin tưởng tái sinh không đến một cách ngay lập tức. Một số người có thể đến từ một truyền thống tin tưởng ở tái sinh như một phần trong nếp sống văn hóa. Đây là trường hợp trong nhiều quốc gia Á châu, và vì thế, vì người ta đã từng nghe về tái sinh từ khi họ còn là những thiếu niên, sự tin tưởng điều ấy trở thành một cách tự động. Tuy nhiên, những điều ấy đối với chúng ta từ những nền văn hóa Tây phương, nó dường như lạ lùng lúc ban đầu. Chúng ta thường không dễ bị thuyết phục trong vấn đề tái sinh ngay tức thì, với những cầu vồng và âm nhạc phía sau lưng và “Chúa nhân từ ơi! Bây giờ tôi tin!” Nó không thường hoạt động như thế.
01/07/201114:04(Xem: 3626)
Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh.
05/05/201113:44(Xem: 2996)
Cuối cùng thì một con đường vô thường này mỗi người chúng ta đều phải đối diện! Tuy nhiên, Phật A-di-đà đã từng phát đại nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sanh niệm Phật.