Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chuyển Pháp Luân, Tứ Thánh Đế, 37 phương pháp tu hành viên thành Phật đạo

23/09/201519:19(Xem: 1882)
Chuyển Pháp Luân, Tứ Thánh Đế, 37 phương pháp tu hành viên thành Phật đạo

Chuyen Phap Luan_Tu Thanh De_Tran Minh Hung
LỜI GIỚI THIỆU

Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni đã giảng kinh chuyển pháp luân tứ thánh đế, tại vườn Lộc Uyển, cho năm anh em Kiều Trần Như, tứ thánh đế hay tứ diệu đế là bốn chân lý chắc thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Đức Thế Tôn đã tam chuyển thập nhị hành, là thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển. Thị chuyển tứ thánh đế là việc giới thiệu về bốn chân lý chắc thật khổ, tập, diệt, đạo, để giúp cho chúng ta hiểu thấu được bản chất của nó. Khuyến chuyển tứ thánh đế là việc khuyên bảo chúng ta tu hành theo pháp tứ thánh đế để sớm đoạn diệt được hết khổ đế, được giải thoát giác ngộ chân lý chứng đắc tứ thánh quả. Chứng chuyển tứ thánh đế đó là cảnh giới chứng đắc tứ thánh quả. Khi nghe xong bài pháp chuyển pháp luân tứ thánh đế trên, năm anh em Kiều Trần Như liền giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả. Như vậy, đức Thế Tôn chuyển pháp luân tứ thánh đế, giúp ích cho chúng ta hiểu thấu được bốn chân lý khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, biết được chúng ta cũng như tất cả chúng sinh từ đâu đến thế giới ta bà làm con người nay, chúng ta đến thế giới này để làm gì, tại sao chúng ta bị sinh lão bệnh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, khi chúng ta chết thì đi đến thế giới nào. Khi chúng ta tu hành theo ba bảy pháp trợ đạo, hay tám vạn bốn nghìn pháp môn, làm chủ được thân tâm thanh tịnh, giữ được giới, định, tuệ, giác ngộ tứ thánh đế, chứng đắc được tứ thánh quả, thì đều biết tường tận mọi thứ từ quá khứ, hiện tại và vị lai, có đầy đủ tam minh, lục thông.

Đức Thế Tôn có đầy đủ tam minh, lục thông, đã làm chủ hoàn toàn được thân tâm, vô minh, sinh tử, Ngài đã chiến thắng và chinh phục hoàn toàn được bản thể, thân tâm của chính mình, thắng được kẻ thù lớn nhất của mình là chính mình. Tức là nói cho dù chúng ta có chinh phục, làm chủ được cả thế giới Ta bà này, làm chủ tam thiên, đại thiên thế giới cũng không bằng làm chủ được bản thể, thân tâm, vô minh, sinh tử của chính mình, đạt được cảnh giới minh tâm kiến tính thành Phật. Vì khi chúng ta học Phật tu pháp làm chủ được tâm vô minh, thân tâm, sinh tử, có được Phật tri kiến, Phật tính, chân tâm, là có đầy đủ tam minh, lục thông, thấy biết được túc mạng của mình, của người, của mọi chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai.  

Những danh hiệu của đức Bản Sư Thích Ca Mô Ni, Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Từ Phụ, Chân Thật Ngữ, Lưỡng Túc Tôn, Tỳ Nô Giá Na. Danh hiệu Thiên Nhân Sư là nói Ngài đã giác ngộ chân lý, làm chủ được bản ngã, phá tan tâm vô minh, làm chủ sinh tử, được giải thoát ra khỏi tam giới, có đủ tam minh lục thông, là bậc thầy của cõi trời, cõi người, là người giác ngộ đi trước để dẫn đường chỉ lối cho chư thiên, con người, và mọi chúng sinh trong lục đạo luân hồi đi theo đến bến bờ giải thoát giác ngộ. Như vậy bất cứ một vị chư thiên, loài người, chúng sinh nào trong lục đạo, học Phật tu pháp được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, Bích Tri Phật, Bồ Tát quả, Phật quả, làm chủ được tâm vô minh, sinh tử, được minh tâm kiến tính thành Phật, tâm thoát ra khỏi tam giới, thì đều được gọi là Thiên Nhân Sư, là bậc thầy của chư thiên và loài người cũng như của tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi. Cũng như có đủ những danh hiệu trên.     

Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mâu Ni đã nói trong kinh, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, tất cả con người, mọi chúng sinh trong sáu cõi luân hồi, và trong mười pháp giới đều có Phật tính, từ vô ức kiếp cho đến nay nó vẫn là nó, cho dù chúng sinh có sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác như thế nào, thì nó vẫn không thay đổi, Phật tính không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm, điều đó được khẳng định chắc chắn cho chúng ta biết nếu chúng ta tin tưởng y giáo phụng hành, học Phật tu pháp, thực hành các pháp, thấu hiểu tam tạng kinh điển, mười hai giáo, ba by phẩm trợ đạo, biết được các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, thì chắc chắn được thọ ký làm Phật, thành Phật, là Phật trong tương lai. Sự giác ngộ chân lý giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi, nhập diệt niết bàn sớm hay muộn đều phụ thuộc vào chúng ta học Phật tu pháp tạo nhân duyên như thế nào để sớm đạt được quả báo thành Phật trong tương lai. Đức Thế Tôn đã giảng giải trong kinh cho chúng ta biết được một đại sự nhân duyên để đức Phật Thế Tôn ra đời, trụ thế trong ngũ dục, lục trần, trong đời ngũ trược ác thế, để khai thị Phật tri kiến cho tất cả mọi chúng sinh biết được điều bí mật tối thượng quan trọng này. Điều đó giúp cho chúng ta, cũng như mọi chúng sinh đều được bình đẳng học Phật tu pháp và đều được bình đẳng làm Phật, thành Phật, là Phật trong tương lai. Chúng ta muốn học Phật tu pháp được quả báo tốt nhất, thì cần phải phát tâm lượng dũng mãnh, sớm làm chủ được thân tâm, vô minh, bản ngã, sinh tử, nguyện cho tâm con bằng với tâm của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, Nguyện cho con được làm Phật, thành Phật, là Phật độ chúng sinh.

PHẦN I. NHẬN THỨC VÔ MINH

 

I. TỨ THÁNH ĐẾ

Tứ thánh đế hay còn gọi là tứ diệu đế, là bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển của Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tứ thánh đế được hình thành, sau khi Ngài ngồi thiền tọa dưới gốc cây bồ đề, nhận ra con đường tu hành trung đạo và đạt đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi, chứng nhập vào trạng thái niết bàn tịch diệt. Lần đầu tiên, Đức Thế Tôn lựa chọn pháp môn Tứ diệu đế để chuyển pháp luân, vì năm anh em Kiều Trần Như mà giảng giải căn nguyên của khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế và những nguyên nhân dẫn tâm thức đến sinh tử luân hồi. Pháp Tứ diệu đế, gồm hai phần là tục đế và chân đế, tục đế bao gồm nhân quả của vô minh, của thế gian, của nhân quả luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, quả là khổ đế và nhân là tập đế. Chân đế bao gồm đạo đế và diệt đế, là quy luật nhân quả của pháp xuất thế gian hay nói cách khác, đạo đế là nhân duyên của sự giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi, còn diệt đế là quả báo của đạo đế, khi quả báo diệt đế thành đạt thì tâm thức được giải thoái giác ngộ khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức được nhập vào cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịch.

Tứ diệu đế là bài kinh pháp khởi đầu thuyết pháp, vì người diễn nói của Đức Thế Tôn. Đây là bài pháp chuyển pháp luân đầu tiên của Ngài, là bài pháp quan trọng nhất sau khi Ngài tu hành được chứng đắc quả vị Phật Như Lai. Bài pháp Tứ diệu đế chứa đựng trong đó tất cả các thiện pháp trong thế gian và xuất thế gian, tục đế hay chân đế. Đây là bài pháp bao trùm có dung lượng hàm chứa tất cả tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, những nội dung được hình thành trong suốt bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp phổ độ chúng sinh của Đức Thế Tôn. Bài pháp này phù hợp với tất cả căn cơ, căn tính của mọi người và chúng sinh trong mười pháp giới. 

Tứ thánh đế được Đức Thế Tôn thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như được chia làm ba giai đoạn: thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển.

1. Thị chuyển Tứ thánh đế

Thị chuyển Tứ thánh đế tức là định nghĩa, mô tả về Tứ thánh đế.

1.1. Thị chuyển về khổ đế

Thị chuyển về khổ đế là sự thật về khổ.

Khổ do thân gây ra và khổ do tâm gây ra, được tổng hợp thành tám thứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạch. Hoặc ba khổ là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

1.2. Thị chuyển về tập đế

Thị chuyển về tập đế là giới thiệu các nguyên nhân dẫn đến các sự khổ đau.

Khổ chủ yếu xuất phát từ những nhân duyên như thọ, ái, thủ, hữu trong quy luật mười hai nhân duyên dẫn đến khổ đế. Tập đế trình bầy khái quát rõ ràng, minh bạch chân thật về những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, buồn dầu của thân và tâm là do vô minh, do các hành, nghiệp thức dẫn đến con người bị tái sinh luân hồi. Quy luật sinh lão bệnh tử, luân hồi tiếp nối nhiều đời nhiều kiếp, điều đó khiến cho con người vướng mắc và vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ. 

1.3. Thị chuyển về diệt đế

Thị chuyển về diệt đế là sự thật về sự tu hành đạt được giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi, chứng nhập vào niết bàn tịch diệt.

Diệt đế nói về tâm giải thoát không còn chịu sự sinh diệt luân hồi khổ đau. Thân mạng của chúng ta là do tứ đại là đất, nước, gió, lửa hợp thành, nên nó có sinh ắt có diệt, có thành, trụ, hoại, không, các sự vật, sự việc, hiện tượng, nhân sinh. Tất cả các pháp đều là do nhân duyên hòa hợp mà sinh và cũng do các nhân duyên tàn hoại mà các pháp cũng bị diệt, tức là, cái này có mặt hiện hữu là do nhiều nhân tố tạo thành, thì cái kia cũng có, cái này do các nhân duyên không còn, nó bị tàn hoại, phân ly, thì cái kia cũng bị diệt, tàn hoại và tan biến. Nói cách khác, con người chúng ta, thân thể của chúng ta là do các nhân duyên hòa hợp như đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà có mặt trên cuộc đời này và được phát triển, tồn tại cũng là nhờ vào những nhân tố đất, nước, gió, lửa, được chuyển hóa thành thức ăn, nước uống, không khí ô xi, độ ấm thân nhiệt. Nếu như thiếu những nhân tố trên, thì con người cũng sẽ không thể sống, tồn tại và hoạt động, sẽ bị diệt vong. Điều này cũng tức là nói thân thể của chúng ta là do nhân duyên sinh ra, hiện hữu và cũng do nhân duyên diệt, nó là vô thường sinh diệt, sinh lão bệnh tử, khổ đế, vô ngã hay vô tướng, vô tác, vô nguyện, tức là nói con người chúng ta không có tự tính riêng biệt. Vì chúng không có tự tính riêng biệt độc lập, chúng có mặt tồn tại và phát triển đều phụ thuộc vào các nhân duyên hòa hợp mà có mặt và tàn hoại, hủy diệt, do thiếu các nhân duyên nên bị diệt vong. Giống như thân thể con người của chúng ta thiếu đi sự nuôi dưỡng của thức ăn, nước uống, không khí ô-xi, thân nhiệt, từ bốn đại lượng là đất, nước, gió, lửa, thì sẽ bị tử vong.

1.4. Thị chuyển đạo đế

Thị chuyển đạo đế là sự thật về chân đế, là con đường Phật pháp đưa con người và mọi chúng sinh đến với sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi.

Đó là ba mươi bảy phương pháp tu hành giúp con người đến được sự giải thoát giác ngộ, như tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chính đạo, và sau này là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Nước biển chỉ có một vị mặn, Phật pháp chỉ có một ý nghĩa là giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi. Đức Thế Tôn nói Phật pháp, Tứ diệu đế cho năm anh em Kiều Trần Như, nhưng đó cũng là nói với chúng ta. Khi Ngài tu hành khổ hạnh ép xác trong khu rừng trong suốt sáu năm, Ngài tu hành rất tinh tấn, dũng mãnh, quyết liệt đến mức thân tàn lực kiệt, đến cao độ nhất, mà vẫn không tìm thấy lẽ đạo, không tìm thấy sự giải thoát sinh tử luân hồi, không tìm thấy sự an lạc, thanh tịnh. Chính ngay lúc bên bờ mé của sự sinh tử đó, Ngài đã nhận thấy một sự thật là tu hành khổ hạnh ép xác, ép sáu căn tám thức, ép ba nghiệp thân, khẩu, ý, đến cùng cực sẽ không tìm được đạo lý giải thoát giác ngộ. Cũng tương tự như việc tu hành mà lại hưởng thụ, thỏa mãn sung sướng với ngũ dục lục trần, thì cũng không tìm thấy đạo lý giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Vì Ngài cũng từng là một vị thái tử con của đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia ở một vương quốc giàu có, quyền quý cao sang, không thiếu bất cứ thứ vật thực gì, của ngon vật lạ, thỏa mãn mọi sự ham muốn ở đời sống thế tục, nhưng trong đó không có đạo lý chân lý giải thoát giác ngộ.

Điều này có nghĩa, tu hành đi đến giác ngộ chân lý giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, thì việc tu thân mạng, tu sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, lấy thân mạng, sáu căn tương tác, tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm mục đích tu hành để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi là điều không thể một ai làm được. Vì thân thể con người là do các nhân duyên hòa hợp nương tựa vào nhau, của tứ đại đất, nước, gió, lửa, của thức ăn, nước uống, không khí ô xi, nhiệt độ thân nhiệt, mà tạo lên thân thể con người. Chúng duy trì sự tồn tại của thân thể con người chúng ta. Và khi các nhân duyên này không còn hoặc cơ thể bị bệnh không tiếp nhận được các nhân duyên đó được nữa, thì nó sẽ tàn hoại, diệt vong, tan biến trở về với nguyên thủy tứ đại đất, nước, gió, lửa nguyên thủy ban đầu. Từ đó tiếp tục quá trình nhân duyên mới, để hình thành lên những sự hiện hữu tiếp nối mới theo các quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ di diệt, sinh diệt biến đổi từ dạng này qua dạng khác không ngừng.

Đức Thế Tôn nói, có hai quan điểm về tu hành Phật pháp như vậy, là hoàn toàn sai lầm, hoàn toàn không tìm ra chân lý giải thoát giác ngộ ở đó. Con đường đưa đến sự giác ngộ chân lý giải thoát sinh tử luân hồi là con đường trung đạo, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý giữ ở trung đạo, tức là không hưởng thụ năm dục sáu trần, phước báo nhân thiên, mà cũng không tu hành khổ hạnh ép xác, ép sáu căn, tám thức chịu kham khổ, đói, khát, ngột ngạt, nóng lạnh thất thường. Đó là tu hành giữ thân tâm ở trung đạo tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh đạt đến tịnh viên cảnh trí. Tức là chúng ta tu hành chỉ cần có cơm để ăn, nước để uống, áo để mặc, không khí ô xi để thở, chỉ cần đủ no, đủ uống, đủ ấm, đủ thở, để cho cơ thể con người sống một cách bình thường khỏe mạnh, an lạc, thanh tịnh là đủ rồi.

Ít ham muốn thưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, như mắt thấy sắc đẹp dẫn đến ưa thích, tai nghe âm thanh hay dẫn đến yêu thích, mũi ngửi hương thơm dẫn đến ham muốn thưởng thức, lưỡi nếm thức ăn, nước uống ngon ngọt, hợp khẩu vị thì thích thú khen ngợi, thân tiếp xúc với ái dục, mặc những bộ áo đẹp, đắp chăn ấm đệm êm thì sung sướng. Ý tiếp xúc với pháp trần hay, lôi cuốn hấp dẫn thì si mê, đắm say yêu thích vui sướng và ngược lại không được thỏa mãn thưởng thụ, thì chán ghét buồn khổ. Tất cả những cảm thọ về yêu thích, vui sướng, buổn khổ, chán ghét đó, về năm dục sáu trần, đều khiến cho thân tâm bị ràng buộc dày vò khó chịu, bức bách, bất tịnh. Điều đó không có lợi cho tâm thức của người tu hành, nó là vật cản trên con đường tu hành đi đến sự tịnh hóa thân tâm. Sáu căn tám thức thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý, được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

  Tâm, thân trung đạo được xác lập trên cơ sở sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Nếu sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều là mong muốn hưởng thụ tham đắm vướng mắc vào những cảm thọ về năm dục sáu trần, thì sáu thức cũng là hưởng thụ dục lạc quá mức. Tâm thức này không đi đến sự giải thoát giác ngộ và ngược lại sáu căn tiếp xúc với sáu trần bằng sự khổ hạnh ép xác, khó nhịu, bức bách, sân hận, căng thẳng của sáu  giác quan, thì sáu thức được sinh ra cũng thế. Đây là hai thái cực không đi đến lẽ đạo giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi. Như vậy, tâm trung đạo là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức ở trung đạo trạng thái thanh tịnh. 

  Tâm, thân trung đạo là con đường tốt nhất để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Nói cách khác, đạo đế giúp chúng ta nhận thức được con đường trung đạo để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Đó chính là diệt đế, đó là sự vắng lặng, thanh tịnh tịch diệt của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tịnh hóa thân tâm đi đến trạng thái niết bàn thường lạc ngã tịnh. Như vậy, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham vọng vào những sự thưởng thụ, thỏa mãn, những cảm thọ yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét. Hoặc chịu khổ ép xác, bức bách, sân hận về năm dục sáu trần, thì nó chính là vô minh. Nó là nhân duyên khiến cho tâm thức của chúng ta bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Khi chúng ta nhận thức được nó, làm chủ được mười tám giới, tịnh hóa được nó, không vướng mắc vào nó nữa, thì khi đó diệt đế xuất hiện, niết bàn mở ra để đón tâm thức của mình đã được giải thoát, giác ngộ vào nơi an lạc thường tịnh tịch diệt. Chúng ta có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì còn có hai căn nữa là tống truyền thức căn và a lại gia thức căn. Khi mười tám giới thanh tịnh thì hai thức này cũng được thanh tịnh, quá khứ, hiện tại, tương lai cũng được tịnh hóa, thì đạt được trạng thái tâm thức tịnh viên cảnh trí.

 

2. Khuyến chuyển Tứ thánh đế

Khuyến chuyển Tứ thánh đế là giai đoạn khuyến khích động viên người tu hành tinh tấn, tập trung tinh thần nghe giảng pháp.

Tùy kinh văn nhập quán, thấy biết được những sự thật về khổ đế, sự thật về tập đế là nguyên nhân chắc thật dẫn đến khổ đau của con người. Sự thật về diệt đế là sự thật về sự giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức, sáu căn tám thức tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh nhập vào niết bàn tịch diệt. Đạo đế là sự thật chắc thật, chính xác, là con đường chân chính đưa con người tu hành từ sự ràng buộc của tâm vô minh, sinh tử luân hồi, đạt được giải thoát giác ngộ chân lý, làm chủ tâm vô minh, nhận thức rõ được tâm vô minh, vượt qua được sinh tử luân hồi, đạt đến cứu cánh niết bàn thường lạc ngã tịnh. 

3. Chứng chuyển pháp Tứ thánh đế

3.1. Chứng chuyển khổ đế

Chứng chuyển khổ đế là sự thật về khổ, đã được khổ chứng, chứng thực về khổ đau, khẳng định tại nơi thấy biết của thân tâm mình, không còn một chút nghi ngờ thắc mắc về sự thật khổ đế.

Sự có mặt của khổ đế là một quy luật tất yếu của cuộc sống con người, ai cũng phải trải qua những sự thật về khổ đế. Đức Thế Tôn giảng giải cho năm anh em Kiều Trần Như thấy được sự thật về khổ đế, mà chính Ngài đã khổ chứng được sự thật mầu nhiệm đó. Đây được xem là thân giáo, tâm giáo của Đức Thế Tôn, lấy chính mình làm mô phạm, làm nhân chứng, tâm chứng cho năm anh em Kiều Trần Như biết rõ ràng, tường tận sự thật về khổ đế, mà chính Ngài đã khổ chứng tu hành giác ngộ được chân lý vi diệu mầu nhiệm đó, một cách đúng sự thật, như những gì nó đang diễn ra xung quanh chúng ta, ở đây và tại thời điểm không gian này. Khổ đế là quả và tập đế là nhân, là quy luật nhân quả chân thật, chính xác.

3.2. Chứng chuyển tập đế

Chứng chuyển tập đế là sự thật về những nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế, được Đức Thế Tôn giác ngộ phát hiện ra tập đế và Ngài đã đoạn trừ được hết nguyên nhân phát sinh ra khổ đau.

Đức Thế Tôn cũng đã tâm sự, thuyết giảng một cách rõ ràng, tường tận cho năm anh em Kiều Trần Như về quá trình tu hành, tư duy quán tưởng và thiền định đi đến sự giác ngộ chân lý mầu nhiệm chắc thật về tập đế. Đây là những nguyên nhân chắc thật dẫn đến quả báo khổ đế và cũng chính Ngài đã đoạn trừ tận gốc những nguyên nhân tập đế này, đoạn trừ giải thoát dứt điểm tận gốc rẽ những nguyên nhân tập đế, thì khổ đế không còn. Đây cũng là sự giải thoát giác ngộ vượt ra khỏi tục đế, vượt ra khỏi sự ràng buộc của nhân duyên quả báo thiện ác thế gian, ra khỏi tam giới, giải thoát tâm thức khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi ba khổ, tám khổ, bước vào con đường chứng đắc tứ thánh quả diệt đế và đi đến tận cùng của sự thanh tịnh tịch diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh. 

3.3. Chứng chuyển diệt đế

Chứng chuyển diệt đế là sự thật về chân đế, là kết quả, quả báo của sự tu hành đạo đế, tức là từ việc tu hành bằng các phương pháp cách thức tư duy quán chiếu, đi đến nhận thức rõ về vô minh, về tất cả các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan.

Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tồn tại và phát triển, trụ ở thế gian sinh diệt tiếp nối nhau và cũng chính lại do các nhân duyên đó hết, phân tán, tàn hoại, diệt vong. Chúng ta nhìn sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan thông qua sáu giác quan tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức (sáu căn, tám thức). Không nên chỉ nhìn vào bề ngoài phần thô hiện hữu tạm thời của nó, mà phải nhìn bằng tuệ nhãn, tuệ căn, tuệ tâm thức, suy xét cho đến tận cùng, thì mới thấy tất cả mọi sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới quan, cho đến thân thể, xác thân, tâm thức của chúng ta cũng đều là do nhân duyên hòa hợp mà có mặt và rồi cũng do nhân duyên tàn hoại mà diệt vong. Chúng đều là vô tướng, vô thường, sinh diệt, vô ngã, không có tự ngã, tự tính riêng biệt độc lập, mà do nhiều nhân tố nhân duyên hòa hợp liên kết mà tạo thành.

Nhân duyên tứ đại gồm đất, nước, gió, lửa, hay còn gọi là tính không, là không có tự ngã, tự tính riêng biệt đứng độc lập, vô chủ, do cái này có mặt thì cái kia có mặt, có hiện hữu và cái này diệt vong là do cái kia diệt vong. Các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan đều tồn tại và duy trì đều nương nhờ vào nhau, như chính bản thân của chúng ta vậy. Thân thể chúng ta là do các nhân duyên hòa hợp mà có mặt trên cuộc đời này, mà tồn tại và phát triển. Các nhân duyên này đều nương nhờ vào nhau, nương nhờ vào các nhân duyên như đất, nước, gió, lửa được chuyển hóa thành, thức ăn, nước uống, không khí, nhiệt độ thân nhiệt. Đến khi các nhân duyên này không còn hoặc thân thể của chúng ta già bệnh không tiếp nhận được các nhân tố nhân duyên này nữa, tức là không ăn uống được, không hít thở, không giữ được thân nhiệt ổn định thích hợp cho sự sống nữa, thì đi đến diệt vong tàn hoại. Khi đó thân xác sẽ trở về với nguyên thủy đất, nước, gió, lửa, còn tâm thức thì tái sinh vào một thế giới mới theo nghiệp thức vô minh, trong sáu cõi luân hồi. Hoặc gặp được Phật pháp giác ngộ được chân lý giải thoát thì được chứng đắc Tứ thánh quả, là bậc tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán, hoặc tốt hơn là chứng nhập vào cảnh giới trạng thái tâm thức niết bàn thường lạc ngã tịnh, diệt đế mà Đức Thế Tôn đã thấy biết rõ ràng, tường tận, chân thật và thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như nghe.

Khi nghe được Đức Thế Tôn chứng chuyển pháp luân diệt đế, năm anh em Kiều Trần Như liền tin tưởng chắc thật về chân lý giải thoát diệt đế tịch diệt niết bàn. Đây cũng là nhờ vào sự tu hành cần mẫn, tinh tấn, thân cận với Đức Thế Tôn nhiều năm trong khu rừng khổ hạnh trong suốt sáu năm trời. Ngoài ra, do tự thân năm anh em cũng có đầy đủ sự tinh tấn, quyết tâm đi tìm con đường giác ngộ chân lý giải thoát để thoát khỏi sinh tử luân hồi. Họ đã có được nhiều nhân duyên thiện căn phước đức, nhân duyên tốt lành, tuệ căn lanh lợi, linh hoạt, nhậy bén, nhần nhuyễn dễ sử dụng, dễ tiếp thu tri kiến của Đức Thế Tôn. Họ đã cảm nhận chính xác, chắc thật về những điều mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về Tứ diệu đế, là tam chuyển thập nhị hành. Cũng nhờ chính nhân duyên lành này, mà năm anh em Kiều Trần Như nghe xong bài thuyết pháp về bốn chân lý mầu nhiệm chắc thật, tứ diệu đế liền lĩnh hội được hết ý nghĩa đạo lý chân lý đó, liền tỏ ngộ tri kiến Phật, giải ngộ chân lý giải thoát, được minh tâm kiến tính, đắc đạo chứng đắc được quả vị tứ thánh. Đây là năm bậc thánh đệ tử đầu tiên của Đức Thế Tôn, tuy tâm thức chưa đạt đến được cảnh giới trạng thái thanh tịnh tịch diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh quang Phật, nhưng cũng đã đoạn diệt được hết phiền não trong tục đế, tâm thức không còn bị vướng mắc ràng buộc trong năm dục sáu trần. Các vị đã phá tan tâm vô minh, ko bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Các vị đã làm chủ được tâm vô minh, làm chủ được năm dục sáu trần, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhận thức được nguyên nhân sinh ra khổ đế, và loại bỏ được hết nguyên nhân tập đế. Trong qua trình tiếp xúc của sáu căn, tám thức, của ba nghiệp thân, khẩu, ý, đều là những cảm thọ thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh được giác ngộ chân lý giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Niết bàn là trạng thái tâm thức thường lạc ngã tịnh, là nơi thanh tịnh tịch diệt, nơi chỉ có những tâm thức của người giác ngộ chân lý giải thoát như Đức Thế Tôn mới vào được cảnh giới niết bàn thường tịch diệt. Niết bàn không cho phép thân tứ đại của chúng ta, cũng như tâm thức vô minh, tâm thức còn bị năm dục sáu trần ràng buộc, vô minh làm chủ, che lấp chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, thân tâm sáu căn tám thức bất tịnh, bất thiện thì không thể chứng nhập được vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, chỉ có một cách là lấy pháp đạo đế soi sáng vào tâm thức tăm tối vô minh của chúng ta, giúp cho chúng ta nhận thức được vô minh. Làm chủ vô minh không cho nó ràng buộc tâm thức, sáu căn tám thức của chúng ta nữa, thì con đường đi đến chứng nhập niết bàn đã được mở để đón mời chúng ta vào nơi tâm thức thanh tịnh tịch diệt, không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm, an vui tịch diệt niết bàn, tâm có được tam minh lục thông. Tam minh, là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. Lục thông, là thiên nhãn thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, biến hóa thông, lậu tận thông.

3.4. Chứng chuyển đạo đế

Chứng chuyển đạo đế là sự thật về đạo lý, chân lý giải thoát sinh tử luân hồi, là con đường của người tu hành đi đến bến bờ của sự giải thoát giác ngộ chân lý cuối cùng tịch diệt niết bàn thường tịnh.

Đức Thế Tôn thuyết giảng kể lại cho năm anh em Kiều Trần Như nghe về con đường tu hành, các phương pháp dựa vào các đạo lý, chân lý, nhận thức hiểu biết, chính tri kiến mà Ngài đã đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát tuyệt đối diệt đế, nhập diệt vào cảnh giới tâm thức ở trạng thái thường tịnh niết bàn. Ngài nói: Trong sáu năm trời Ta tu hành cùng các người trong khu rừng khổ hạnh ép xác, nhịn đói, nhịn khát, ngày đêm quên ăn quên ngủ, xa rời thế tục bên ngoài để tu hành, mong muốn tìm ra đạo lý giải thoát giác ngộ để thoát khỏi sự sống khổ, sinh lão bệnh tử. Mục đích tu hành để được giác ngộ giải thoát thì đúng, còn con đường tu hành thì sai lầm, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức mà được hưởng thụ thỏa mãn những dục lạc thế gian. Hưởng thụ năm dục sáu trần, thì chắc chắn không tìm ra lẽ đạo, nó chỉ mang đến sự đau khổ, phiền não, nhàm chán, hư hoại mê si. Và con đường tu hành khổ hạnh ép xác, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức bị thiếu thốn đủ thứ, như cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, áo không đủ ấm, vừa đói khát, nóng, lạnh thất thường làm cho thân thể bất an, khó chịu, khổ sở, phiền não, bức bách, đau yếu, suy nhược cơ thể. Đến sự sống còn không giữ được, thì làm sao mà trong đó có thể tìm ra đạo lý chân lý giải thoát sinh tử luân hồi.

Điều đó nghĩa là phương pháp tu hành như thế là sai, tư tưởng nhận thức con đường đi sai. Khi Ngài đang bên bờ mé của sự sinh tử, giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc, tận cùng của sự sinh tử, Đức Thế Tôn đã tỏ ngộ, giải ngộ, giác ngộ con đường giải thoát. Ngài đã nhận ra con đường tu hành chân chính chắc thật để đi đến giác ngộ chân lý giải thoát, không phải là hai con đường kia mà ngài đã đi sai, mà là con đường trung đạo, là con đường tịnh hóa thân tâm, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức, thân tâm thanh tịnh mới đi đến giác ngộ chân lý giải thoát nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Còn tất cả các con đường khác do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức hay tám ý thức cho dù là có tinh thông, có thần thông như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát nhập diệt niết bàn thường tịnh. Tức là sáu căn thanh tịnh dẫn đến thân thanh tịnh, mạc đa thức, a lại gia thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, thì chắc chắn chân thật đưa tâm thức đến con đường giải thoát giác ngộ chân lý nhập diệt niết bàn thường tịnh. Thân trung đạo được thể hiện qua việc thọ nhận thức ăn, nước uống, các đồ vật vừa đủ, bình thường hợp lý hợp tình, an toàn vệ sinh thực phẩm, giúp cho thân tâm hoạt động bình thường, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức không để lại những ấn tượng, cảm thọ lưu luyến, ràng buộc, tưởng nhớ đến sự hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần, mà thân tâm, sáu căn tám thức cảm thọ thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí xuất hiện, đây là cửa ngõ cánh cửa đầu tiên để bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ sinh trí tuệ bát nhã nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Đức Thế Tôn khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát, trải qua bốn mươi chín ngày đêm tu hành thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, chính trí kiến của chư Phật Như Lai, tại gốc cây bồ đề. Ngài đã chứng đắc được tam minh, lục thông, tức là chứng được túc mạng minh, nhìn thấy rõ được tất cả đời sống nhân quả sinh diệt mà Ngài đã trải qua trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Ngài chứng được thiên nhãn minh, nhìn thấy rõ tất cả dòng nhân quả sinh diệt của mọi người, chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Ngài chứng được lậu tận minh, hiểu biết được mọi thứ, mọi sự việc, hiện tượng, nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan, hiểu được chân tướng sự thật của các pháp là do nhân duyên hòa hợp, liên kết mà hiện hữu, có mặt sinh ra trụ thế, và cũng chính do nhân duyên tàn hoại, tan dã mà diệt vong. Biết được các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, biết được tất cả mọi việc trong quá khứ, hiện tại, tương lai, biết được vô lượng thế giới chúng sinh, Ngài có đầy đủ tri kiến bát nhã là bậc toàn năng, toàn giác.

Khi Ngài vừa giác ngộ chân lý giải thoát đạt được cảnh giới thiền định nhập diệt được vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì tâm thức của Ngài rất là vui sướng hoan hỷ đến tận cùng. Tâm thức được thanh tịnh giải thoát khỏi tất cả sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh. Hơn nữa đối với một người tu hành chân chính thì sự khao khát giác ngộ chân lý giải thoát chứng nhập niết bàn là điều cao thượng nhất, tốt đẹp nhất, quan trọng nhất, giá trị bậc nhất, duy tuệ thị nghiệp. Khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát chắc thật, thì Ngài liền có ý định, dự định, khao khát nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, và để thân xác thế tục lại trần gian, thân mạng do tứ đại hợp thành.

Đối với người giác ngộ chân lý giải thoát, tâm chứng đắc cảnh giới thiền định nhập vào trạng thái thường tịnh niết bàn, thì đều có tư tưởng, ý tưởng, dự định như Ngài. Họ biết được thân xác này là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, chúng có hiện hữu và rồi sẽ tan biến, diệt vong, theo quy luật sinh lão bệnh tử. Thân người là do đất, nước, gió, lửa, tạo thành nhận chịu nhiều sự tác động của nhân duyên, khiến cho thân tâm bất tịnh, bất thiện, thân của ngũ uẩn, của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thân chúng ta rất bất tịnh, chúng bị những cảm thọ về năm dục sáu trần chi phối ràng buộc, bị nhiều nguyên nhân tập đế chi phối, để rồi phải nhận chịu quả khổ đế. Khi người giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, có được chính tri kiến của chư Phât Như Lai, thì nhìn bằng tuệ giác, thiên nhãn minh quan sát con người chỉ thấy phần tâm thức là thiện, là ác, là vướng mắc bất tịnh hay là giải thoát thường tịnh, là tâm thức của người còn bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, hay là tâm thức, sáu căn tám thức thanh tịnh của người giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Khi Đức Thế Tôn giác ngộ giải thoát chứng nhập vào niết bàn, thì tâm thức đã là bậc toàn giác có được tam minh, lục thông, thấy biết được tất cả mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngài thấy biết được sáu cõi luân hồi của con người, trong đó con người thường phải gánh chịu nhiều đau khổ, ba khổ, tám khổ. Khi đó, chư thiên ở ba cõi trời, là trời dục giới, trời sắc giới và cõi trời vô sắc giới, những vị chư thiên này cũng là những người tu hành có đạo hạnh, có được ngũ thông, lục thông, thần thông hơn con người. Chính vì thế mà các vị chư thiên này biết được ở thế gian loài người có Đức Thế Tôn, là bậc giác ngộ chân lý giải thoát đã xuất hiện, liền đến để đảnh lễ, thỉnh giáo cầu đạo. Biết được ý tưởng, tâm tưởng của Đức Thế Tôn muốn nhập vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì các vị chư thiên liền cầu xin Đức Thế Tôn trụ lại ở thế gian, trụ lại ở trong thân xác con người, để giảng kinh thuyết pháp vì mọi người, mọi chúng sinh, diễn nói các pháp, hoằng pháp lợi sinh, phổ độ chúng sinh giác ngộ chân lý giải thoát chứng nhập niết bàn thường tịnh.

Đức Thế Tôn với lòng từ bi thương sót, Ngài nhìn thấy con người, chư thiên và những chúng sinh trong lục đạo luân hồi bị tâm vô minh làm chủ, năm dục sáu trần chi phối, ràng buộc thân tâm trong những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, khiến cho chúng sinh bị ràng buộc, bị kẹt trong vòng nhân quả luân hồi thiện ác, sinh diệt nối tiếp trong lục đạo ba đường ác, là nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế. Vì thế, Đức Thế Tôn đồng ý trụ lại thân xác con người ở thế gian cõi người, để giảng kinh thuyết pháp. Ngài diễn nói tất cả các pháp, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai.

Bài pháp chuyển pháp luân đầu tiên là bài pháp Tứ diệu đế hay còn gọi là Tứ thánh đế, thuyết giảng về bốn chân lý, bốn sự thật về khổ, tập, diệt, đạo, cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn lộc uyển. Thời gian tiếp theo Ngài giảng nhiều bộ kinh trong hơn bốn mươi năm hoằng truyền Phật pháp, nói ra vô lượng pháp tạng kinh điển. Sau này các đệ tử của Ngài đã trùng tuyên kết tập lại cho đến ngày này, là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho con người, mọi chúng sinh nương vào đó, để soi sáng đêm tối vô minh, nhận thức vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, để ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Ngài tạm thời lưu lại thế gian trong bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, kể từ khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát, có được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới thiền định, minh tâm kiến tính, đạt đến trạng thái tâm thức thường lạc ngã tịnh niết bàn. Ngài bỏ lại thân xác tứ đại hợp thành, nhân duyên đất, nước, gió, lửa, tương ứng là thức ăn, nước uống, không khí ô xi, thân nhiệt. Chúng là do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt, chúng là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tâm thức của Đức Thế Tôn ở trạng thái cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịnh, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giản, thường tri kiến Phật. Ngài đã giảng kinh thuyết pháp tại rất nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ ngày nay, rất nhiều những thánh tích còn lưu lại. Ngài giảng nói nhiều pháp môn, nhiều đạo lý chân lý phù hợp với nhiều căn cơ trình độ hiểu biết tri kiến của con người, của chúng sinh, là các phương tiện giúp cho mọi người nhận thức được chân lý giải thoát giác ngộ, thân tâm thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, không bị ràng buộc trong năm dục sáu trần. Nhờ đó, con người sẽ ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, phá tan được tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Phật pháp giống như một con thuyền vượt qua biển khổ đế, tập đế, biển vô minh, biển sinh tử luân hồi, đưa chúng ta đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, an vui, tịch diệt niết bàn, có được đức năng tam minh, lục thông. Khi đến bến bờ giải thoát rồi thì chúng ta cần bỏ lại con thuyền Phật pháp đạo đế, bỏ lại xác thân bất tịnh do tứ đại hợp thành, để tâm thức chứng nhập vào cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịnh. Đức Thế Tôn hiện nay tâm của Ngài đang ở cảnh giới niết bàn thường định tịnh, nhưng Ngài vẫn quan sát được tất cả các thế giới tận hư không. Những điều mà Đức Thế Tôn năm xưa Ngài đã thuyết giảng trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, vẫn còn nguyên giá trị hiệu lực đến tận ngày nay và trong tương lai.

Như vậy, cho dù Đức Thế Tôn vì lòng từ bi cứu giúp chúng sinh mà thọ thân con người trụ lại ở thế gian, thì những điều Ngài nói ra cũng giống như bốn mươi chín năm trước cách đây khoảng 2550 năm, sau khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát dưới cội gốc cây bồ đề, đã thuyết giảng, đã giải nghi ngờ thắc mắc cho nhiều người có căn cơ tri kiến hiểu biết khác nhau, cho nhiều học giả, hành giả, triết gia, tôn giáo, giờ Ngài cũng chỉ là trùng tuyên thuyết giảng lại những đạo lý chân lý giải thoát giác ngộ đó. Ngài dùng pháp phương tiện trong Phật pháp để dẫn dụ, lôi kéo chúng sinh ra khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ. Trạng thái thiền định, bát nhã, niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì không thể giải thích bằng ngôn ngữ hết được. Bằng tri kiến của con người của chúng sinh trong lục đạo luân hồi, thì không thể hiểu hết được tri kiến của chư Phật Như Lai. Cảnh giới đó là không thể nghĩ bàn, không thể đo lường, nhận thức bằng sáu căn tám thức, mà phải thân tâm, sáu căn, tám thức đạt đến cảnh giới thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, thì mới nhập vào cảnh giới thiền định, bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì mới biết được cảnh giới đó. Cho dù có mô tả chân lý giải thoát giác ngộ cảnh giới đó được bằng ngôn ngữ, thì với khả năng, năng lực hiểu biết của con người và chúng sinh trong lục đạo luân hồi, chưa giác ngộ chân lý giải thoát, thì cũng không thể hiểu được và cũng không thể chứng ngộ được chân lý giải thoát đó, mà muốn hiểu được, chứng ngộ được phải bằng việc tu hành tịnh hóa sáu căn, tám thức, thực chứng giác ngộ chân lý, có đủ tam minh, lục thông mới hiểu thấu biết rõ được chân lý giải thoát giác ngộ chứng nhập Niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Lần đầu tiên Đức Thế Tôn quan sát căn cơ cảnh giới của tri kiến hiểu biết, thiện căn, phước đức, nhân duyên của năm anh em Kiều Trần Như, Ngài đã nói pháp Tứ diệu đế hiểu được, chứng được tứ thánh quả là tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán. Nhưng về sau khi Ngài giảng cho các thánh đệ tử của Ngài, đã được chứng ngộ tứ thánh quả, chứng tiểu thừa thanh văn, những đạo quả cao hơn, như giáo pháp nhị thừa, duyên giác, Ngài giảng mười hai nhân duyên. Bồ tát thừa, Ngài giảng các bộ kinh đại thừa, nói về các pháp tu hành của bồ tát, như Lục độ ba la mật, các hạnh nguyện của các chư vị bồ tát, như trong bộ kinh vô lượng thọ, Phổ hiền bộ tát hạnh nguyện, và rất nhiều kinh điển khác, như kinh đại bát niết bàn, Bát nhã ba la mật tâm kinh, và cuối cùng là Phật thừa. Ngài giảng cho các chư vị bồ tát các thánh đệ tử của Ngài đã chứng ngộ tứ thánh quả, chứng đắc được các pháp đại thừa thì mới đủ nhận thức, tri kiến, trí tuệ bát nhã, mới hiểu được pháp Phật thừa, tri kiến Phật, Phật tính.

Phật pháp là pháp phương tiện bình đẳng, từ bi hỷ xả, tùy duyên đối với tất cả mọi người. Chúng sinh tùy theo căn cơ, nhân duyên, thiện căn, phước báo, trí tuệ mà được bình đẳng học pháp tam thừa, ngũ thừa, tu hành được bình đẳng chứng đắc các quả vị tứ thánh quả, đó là nhân thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa, Phật thừa. Chính vì vậy mà ngày nay, chúng ta là bốn chúng đệ tử Phật, tại gia và xuất gia nên nương tựa vào Phật pháp, nương vào tam tạng kinh điển, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng. Chúng ta hãy bám sát không dời bỏ, lấy Phật pháp đạo đế soi sáng vào tâm thức vô minh của mình, mà tự thanh tịnh thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, cho đến khi được giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi, khỏi tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh. Khi đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh, thì mới buông bỏ các pháp phương tiện, tâm thức đến cảnh giới niết bàn, gặp được đức Thế Tồn thỉnh giáo, đảnh lễ, cầu đạo tiếp với Ngài, để ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai.

Ngài A Nan là một đệ tử thường xuyên thân cận nhất với Đức Thế Tôn, Ngài được bầu làm thị giả, giống như người thu nhận những thông tin thuyết giảng giáo huấn của Đức Thế Tôn. Sau đó Ngài A Nan lại trùng tuyên thuyết lại cho đại chúng và những người đồng đạo, cùng là thánh đệ tử xuất gia, tại gia của Đức Thế Tôn nghe. Họ tiếp nhận lời trùng tuyên từ thị giả của Đức Thế Tôn là Ngài A Nan, và để nương tựa vào chính tri kiến đó mà tu hành, hoằng dương Phật pháp lan chuyền đi muôn nơi làm lợi lạc cho chúng sinh. Cũng giống như việc tiếp nhận lời giáo huấn, ghi tâm khắc cốt những lời thuyết giảng trong suốt bốn chín năm đó, và cũng tiếp thu rất nhiều nguồn thông tin từ các thánh đệ tử xuất gia và đệ tử tục gia, cũng như các hành giả, học giả của các học thuyết tôn giáo triết học ở khắp mọi nơi đến tham vấn, thỉnh giáo, cầu đạo, hỏi giải đáp những vấn đề thắc mắc về giáo lý, về phương pháp tu hành, về những điều thấy biết trong cuộc sống tri kiến con người. Ngài A Nan tiếp thu những ý kiến, thắc mắc đó để truyền tin tức, ý tứ đó để hỏi lời giải đáp của Đức Thế Tôn. Về tất cả những thông tin đó, thời gian, địa điểm, đối tượng, bối cảnh tiếp xúc đó Ngài A Nan đều lưu lại trong ký ức, bộ nhớ a lại gia thức.

Chính vì điều đó mà Ngài A Nan đến khi Đức Thế Tôn nhập diệt vào niết bàn thường tịnh, thì Ngài A Nan mới chỉ đắc quả tu đà hoàn, là một trong tứ thánh quả đầu tiên, sơ quả bất thoái chuyển, không còn bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Nhưng đây chỉ là cảnh giới thấp nhất trong tứ thánh quả. Quả này còn có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào Phật pháp, vào pháp phương tiện đạo đế, cho nên thân tâm, sáu căn tám thức chưa đạt đến cảnh giới thanh tịnh tịch diệt, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh tri kiến Phật, bát nhã, tâm chưa nhập diệt vào cảnh giới niết bàn thường tịnh. Tức là sáu căn của Ngài tiếp xúc với sáu trần cảnh, tạo ra sáu thức, hay tám thức là thức thứ bảy, mạc gia thức, thức thứ tám là a lại gia thức, còn vướng mắc. Ngài A Nan còn lưu giữ đạo đế pháp phương tiện, pháp do nhân duyên sinh, pháp do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Đạo đế là nhân, còn diệt đế là quả. Nhân của pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không còn, thì quả  diệt đế làm sao mà có được sự thanh tịnh tịch diệt, cho nên Ngài A Nan chưa chứng đắc được quả vị cao nhất trong tứ thánh quả là a la hán, và các quả vị chứng đắc cao hơn nữa, như quả duyên giác, bích chi Phật, bồ tát quả, Phật quả.

Ngài A Nan là một người thông minh trí tuệ bậc nhất, hầu như tất cả những ý nghĩa trong giáo lý mà Đức Thế Tôn thuyết giảng giáo huấn cho mọi người, thì Ngài đều hiểu thấu, cho đến những đạo lý giải thoát giác ngộ. Tục đế, chân đế Ngài cũng hiểu hết biết rõ, nhưng do lòng từ bi thương nỗi sống khổ của con người và biết được những lợi ích vô cùng to lớn mà Phật pháp, giáo lý mà Đức Thế Tôn thuyết giảng đối với sự giải thoát giác ngộ chân lý, mang lại sự an vui thanh tịnh của con người và của chúng sinh muôn loài trong lục đạo luân hồi ba đường ác, mà Ngài A Nan đã hy sinh thân mạng, tâm mạng, tuệ mạng và tâm đạo, từ bỏ tất cả lợi ích của bản thân để lưu giữ truyền trao Phật pháp, để lại tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, cho các thế hệ tứ chúng đệ tử Phật, chúng sinh hậu thế mai sau. Ngài A Nan vừa là thị giả của Đức Phật Thế Tôn, vừa là một vị hiền hộ Phật pháp, công đức vô lượng.

Phật pháp là tùy duyên không bắt ép ai, không bạo động, tất cả đều là tự nguyện, tự lựa chọn tu hành theo Phật pháp, dựa vào tam bảo, tự đốt đuốc lên mà đi đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh nhập vào thiền định. Niệm Phật đạt được nhất tâm bất loạn, vô niệm, vô trụ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Kết tập kinh điển lần đầu tiên là do Ngài A Nan được bầu làm người thuyết giảng trùng tuyên lại tất cả những bài thuyết pháp giáo huấn của Đức Thế Tôn, trước sự tham gia, có mặt khoảng 1250 vị thánh đệ tử của Đức Thế Tôn, đều là người đã chứng đắc tứ thánh quả đạt được quả vị cao nhất là a la hán. Lần tập kết trùng tuyên lại những giáo lý, đạo lý, chân lý giải thoát giác ngộ thành công viên mãn, Ngài A Nan đã trút được gánh nặng Phật pháp đạo đế ở trong tâm. Ngài đã hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ đối với anh em huynh đệ đồng đạo, đồng tu, đối với chúng sinh, nhân loại từ quá khứ, hiện tại và hậu thế mai sau, trên đền bốn ơn nặng dưới cứu khổ ba đường, nhiệm vụ của Ngài đã hoàn thành. Ngài đã buông bỏ được hòn đá tảng, pháp phương tiện trong lòng xuống, nhân của tục đế, chân đế đã xa lìa, con thuyền đạo đế, bát nhã đã đưa Ngài đến bến bờ giác ngộ chân lý giải thoát. Ngài đã để lại tảng đá lớn, để lại con thuyền đạo đế đã đi cùng Ngài suốt cả cuộc đời đến nay, nó đã được cập bến giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc được quả vị cao nhất trong tứ thánh quả, bậc a la hán, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh tịch diệt, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

 

 

II. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO TỨ THÁNH ĐẾ

Tứ thánh đế là bài pháp quan trọng đầu tiên và cũng là bài pháp chuyển pháp luân tổng quát nhất, bao quát hết tất cả những bài pháp sau này, từ tiểu thừa cho đến đại thừa. Tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, tất cả các thiện pháp trong thế gian và xuất thế gian, tục đế, chân đế, các pháp hữu vi, vô vi, đều nằm gọn trong pháp Tứ thánh đế, tất cả đều do pháp Tứ thánh đế triển khai mà ra.

Tất cả các pháp do nhân duyên sinh, chúng đều nương tựa hòa hợp với nhau mà có mặt, hiện hữu, và đều do các nhân duyên tan rã, tàn hoại mà diệt vong, biến mất. Chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Chúng không có tự ngã riêng biệt, độc lập hiện hữu, ngoài một pháp không còn các pháp khác. Đây là pháp nhất chân pháp giới, tức là những sự hiện hữu có mặt, là do cái kia có mặt, cái này diệt là do cái kia diệt, các pháp đều dung thông, có mặt trong nhau. Điều đó nói rằng Phật pháp chỉ có một vị là vị giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập diệt niết bàn thường tịnh.  

Tứ diệu đế được ví như dấu chân con voi rất to và rộng. Trong các loài động vật, dấu chân của nó lớn hơn tất cả dấu chân các loài động vật khác khi đặt chân lên dấu chân của nó. Điều đó muốn nói tất cả các pháp tục đế và chân đế, các pháp tiểu thừa, nhị thừa, nhất thừa, tam thừa giáo hay ngũ thừa giáo, pháp vô vi hay pháp hữu vi, đều nằm trong pháp Tứ diệu đế là khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. 

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo bao gồm: tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chính đạo.

1. Tứ niệm xứ

1.1. Niệm thân

Niệm thân là những hiểu biết nhận thức về thân. Đó chính là sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sinh ra sáu sự nhận thức, hay tám ý thức, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, mạc đa thức và a lại gia thức. Như vậy thân của chúng ta muốn tồn tại và duy trì sự sống thì cần nhờ vào sự hoạt động tiếp xúc qua lại, dung thông giữa sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức.

Thân thể chúng ta bao gồm sáu căn và nhiều bộ phận cơ quan sinh học, nhiều hệ thống hoạt động tuần hoàn liên kết chặn chẽ với nhau. Nhờ vào sự tiếp nhận các nguồn năng lượng cung cấp từ bên ngoài, như việc ăn uống, nhiệt độ thân nhiệt hợp lý, không khí ô xi, đây là bốn nhân tố được sinh ra từ bốn đại lượng chính là đất, nước, gió, lửa, và nó cũng là bốn đại lượng nhân duyên hòa hợp mà tạo thành thân thể của chúng ta. Như vậy thân thể của chúng ta là do các nhân duyên của đất, nước, gió, lửa, mà được hợp thành, thì nó cũng do các nhân duyên khi tàn hoại, tan rã, diệt vong, mà thân thể chúng ta cũng bị diệt vong theo. Chúng ta không có bốn đại lượng đó, thì thân thể của chúng ta cũng không còn tồn tại và duy trì, hoặc có bốn đại lượng đó, nhưng thân thể của chúng ta bị già yếu bệnh tật hoặc không hấp thụ được, không tiếp nhận, không tiêu hóa được thức ăn, nước uống, hít thở không khí ô-xi, không giữ được thân nhiệt, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, thì thân thể của chúng ta sẽ bị đoạn diệt, tan rã, diệt vong. Khi ấy, thân thể ta lại trở về với nguyên thủy bốn đại lượng ban đầu là đất, nước, gió, lửa hoặc chuyển hóa từ dạng này qua dạng khác. Sự sinh diệt tiếp nối tuần hoàn liên tục, đối với thân thể con người là quy luật sinh diệt nối tiếp sinh lão bệnh tử luân hồi. Đối với vật chất, thực vật, khoáng vật thì là quy luật sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, không có cái gì có thể thoát khỏi quy luật này, quy luật nhân duyên sinh, nhân duyên diệt, tất cả đều là các pháp vô thường sinh diệt. Còn thần thức vô minh nghiệp báo thì đi tái sinh vào một thế giới, cảnh giới khác tương ứng với nghiệp thức thiện ác. Mà chúng ta đã tạo nhân duyên, đã hòa hợp với pháp nào là thiện pháp hay ác pháp, thì có được cảnh giới tái sinh tương ứng với nghiệp nhân duyên đó.

Như vậy, thân thể của chúng ta do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sáu thức mà là thức phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần. Nó không phải là cái ta, cái của ta, nó là tâm vô minh, là nghiệp thức thiện ác của sự tái sinh. Nếu như chúng ta chấp vào nó, thì đương nhiên chúng ta không thể được giải thoát sinh tử luân hồi, mà chúng ta cần tịnh hóa sáu căn tám thức. Không còn sự có mặt của tâm phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, không còn sự ràng buộc của nó, cần phải tùy duyên bất biến, thân tâm thanh tịnh, thanh tịnh bất biến tùy duyên. Giúp đỡ mọi người cùng nhận thức rõ vô minh, đoạn trừ vô minh để đi đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi sinh tử luân hồi, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Khi chúng ta còn có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, thì đây thuộc về tục đế là nhân của quả khổ đế. Nó nằm trong nhân quả thế gian, nhân thiện được quả thiện, nhân ác bị chịu quả ác, nhân quả thiện ác theo nhau như hình với bóng, theo các quy luật sinh lão bệnh tử, luân hồi chuyển thế nhiều đời, nhiều kiếp trong lục đạo luân hồi.

Do đó, chúng ta cần nhận thức rõ ràng tường tận về nó, không cho nó ràng buộc thân tâm chúng ta. Chúng ta học Phật, tu pháp nương tượng vào tam bảo Phật, pháp, tăng, nương tựa vào đạo đế để đem ánh sáng quang minh của chư Phật Như Lai, soi sáng vào những nơi tăm tối của tâm hồn, tâm thức tăm tối vô minh, để nhận biết nó, tìm ra những sự ràng buộc của thân tâm vào năm dục sáu trần. Do có những cảm thọ khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, để đoạn trừ tiêu diệt nó bằng hết sạch sẽ, thì chân lý giải thoát giác ngộ sẽ được sáng tỏ, hiển bầy ra trước mắt chúng ta. Nhận thấy được chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt trong từng sát na, vô ngã, tính không, khi đó tứ thánh quả đợi chúng ta đến nhận, cánh cửa niết bàn được mở ra để đón tâm thức thanh tịnh, tịnh diệt của chúng ta, vào cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịnh. 

1.2. Niệm thọ

Niệm thọ là những cảm thọ về thân và tâm thức, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu nhận thức. Khi sáu thức phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, sinh ra các cảm thọ về tâm là vui buồn, hỷ ưu, còn cảm thọ về thân là sướng khổ, thỏa mãn, bức bách, khổ đau. Hoặc là cảm thọ về sự thanh tịnh, an lạc, tự do, tự tại, giải thoát giác ngộ chân lý đạt đến cảnh giới cứu cánh niết bàn thường tịnh quang Phật.

Cảm thọ thanh tịnh thuộc về chân đế, còn những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán giét, đưa tâm thức của chúng ta đến sự tham ái, thủ, hữu, tâm thức tái sinh vô minh. Điều này chính là do tâm vô minh làm chủ thân tâm, nó đưa chúng ta đến tâm thức tái sinh. Nó ràng buộc chúng ta trong nghiệp thức thiện ác, nhân quả trong tục đế, luân hồi theo sinh lão bệnh tử trong sáu cõi ba đường ác. Cảm thọ về thanh tịnh, không có mặt của các cảm thọ vui buồn, sướng khổ, không nằm trong sự đối đãi của nhân quả tục đế, không nằm trong vòng chi phối của vô minh, nhân quả nghiệp thiện ác trong tục đế. Cảm thọ về thanh tịnh nằm trong chân đế, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh tịch diệt, chứng đắc tứ thánh quả, tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán. Tức là nhân quả trong chân đế, tuy vẫn còn tâm vô minh vi tế, nhưng đã thoát ra khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, thoái khỏi nhân duyên thiện ác luân hồi trong sáu cõi. Cũng là đạt được quả vị bất thoái chuyển, tiến thẳng đến sự giải thoát giác ngộ chân lý cuối cùng, cao nhất cứu cánh niết bàn thường tịnh, cảnh giới niết bàn thường tịnh không còn có tâm vô minh, không còn tục đế, chân đế, tất cả các pháp đều thanh tịnh vắng lặng tịnh diệt.

Nguyên nhân tạo ra những cảm thọ về tâm vui buồn, tâm sướng khổ là do sự nhận thức sai lầm của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, hay tám thức. Tám thức này nhận được thông tin từ mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương thơm, lưỡi nếm vị trần, thân xúc trạm trần cảnh, ý tiếp xúc với pháp trần, đưa đến sáu nhận thức tương ứng là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, và thức thứ bảy là mạc gia thức, thức thứ tám là a lại gia thức. Tám thức này tiếp nhận những thông tin bằng sáu căn, tiếp xúc với sáu trần, đưa ra nhận định sai lầm như nhìn thấy các vật theo hình dạng, kích cỡ, chủng loại, mầu sắc và mang nó so sánh với những cái tương tự, rồi vội vàng kết luận nó là tốt xấu, đúng sai, thị phi nhân ngã, sinh diệt, được mất, vui buồn, sướng khổ, yêu ghét, thương nhớ, hận thù. Đây là cái nhìn của mắt căn, là khả năng của mắt quan sát thấy biết về sắc trần.

Nhưng chúng ta quan sát nhìn bằng tuệ căn, nhìn bằng sự tư duy quán chiếu các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan một cách hiểu biết trí tuệ sâu sa. Nhìn bằng tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì thấy được sự thật chắc thật của các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp liên kết mà sinh, hiện hữu, tồn tại, duy trì. Cũng do các nhân duyên tàn hoại, diệt vong mà các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng này diệt vong, biến mất, sinh diệt nối tiếp không ngừng. Chúng đều tuân theo quy luật sinh lão bệnh tử, sinh trụ di diệt, thành trụ hoại không, tiếp nối tuần hoàn trong sáu cõi luân hồi, ba đường ác.

Đối với thân tâm con người, tức là thân thể con người là do các nhân duyên tứ đại hợp thành, như đất, nước, gió, lửa chuyển hóa thành thức ăn, nước uống, không khí ô xi, thân nhiệt, mà tạo lên thân thể con người sinh học, nhiều bộ phận cơ quan sinh học liên kết tạo thành thân thể chúng ta. Như vậy khi các nhân duyên này không còn hoặc cơ thể không tiếp nhận được các nhân duyên này nữa, không hấp thụ, tiêu hóa được thức ăn, nước uống, không hít thở được ô-xi, không giữ được thân nhiệt, thì bị bệnh tật, tàn hoại, phân hủy, trở về với nguyên thủy đất, nước, gió, lửa, và tiếp tục có chu trình sinh diệt mới, tiếp nối không ngừng.

Những gì có hình tướng, có hiện hữu, tồn tại, thì do tác động của các nhân duyên mà bị tàn hoại, diệt vong và biến mất, trở về với nguyên thủy ban đầu của nó. Sinh diệt tiếp nối liên tục tuần hoàn theo chu kỳ sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không. Tất cả các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, tức là không có tự tính riêng biệt độc lập. Các pháp nương vào nhau liên kết tạm thời với nhau, mà có mặt, có hiện hữu có hình tướng sắc trần, cái này có do cái kia có, cái này diệt do cái kia diệt. Chính vì điều đó, những tâm thức nhận biết thông qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sinh ra sáu thức, tám thức, đều mang đến sự hiểu biết sai lầm tương tự nhau, sắc tướng, âm thanh, hương, vị, xúc, pháp, đều là do có nhân duyên hòa hợp của nhiều nhân tố tạo thành. Nó cũng không có tự tính riêng biệt, chúng đều phụ thuộc vào duyên, chúng đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Như vậy, chúng ta cần dùng sáu tuệ căn để quan sát các sự vật, sự việc, hiện tượng cho đúng với chân tướng sự thật của nó, chúng ta có cái nhìn chắc thật, lấy đạo đế, tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, soi rọi vào những chỗ tăm tối vô minh của tâm thức, để làm chủ vô minh, không bị tâm vô minh, năm dục, sáu trần ràng buộc, tự giải thoái tâm thức mình ra khỏi sinh tử luân hồi, bằng sự thanh tịnh thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào thiền định, sinh trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.  

1.3. Niệm tâm

Một là tâm thức do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức. Đây là phần tâm thức thuộc về tục đế. Tâm thức này còn nằm trong vòng nhân quả luân hồi, chịu sự chỉ đạo, chi phối, sai khiến của tâm vô minh, tức là phần tâm thức bị vô minh đánh lừa, dụ dỗ và làm chủ tâm thức. Nó làm cho tâm thức chịu nhiều sự dày vò, đau khổ. Nó cũng chính là những nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ. Từ nhân duyên cảm thọ sinh ra nhân duyên ái, là sự tham đắm, ham muốn hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần, muốn sở hữu, chiếm hữu những gì ham muốn, yêu thích và phá hủy những gì chán ghét. Từ nhân duyên ái sinh ra nhân duyên thủ là sự bám chấp của tâm thức vào những sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Nhân thủ sinh ra nhân duyên hữu, là sự sở hữu bám chấp vào các sự vật, sự việc, hiện tượng là cái ta, cái của ta, để bảo vệ gìn giữ, gắn cái tâm thức của mình vào đó, cho đó là đúng với sự thật, đúng với chân lý, chân tướng sự thật. Nhưng tất cả những nhận thức hiểu biết đó đều là sai lầm, bị vô minh đánh lừa dụ dỗ thông qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần, bằng năm dục sáu trần. Những người có tâm thức vô minh này, thì chứa đựng nhiều sự ràng buộc của năm dục sáu trần cảnh, tâm thức có tham, sân, si, mạng, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Do đó, họ có rất nhiều sự hiểu biết sai lầm. Và khi không có sáu tuệ căn, không có tri kiến Phật để soi sáng thì đương nhiên bị quy luật sinh tử luân hồi chi phối, bị năm dục sáu trần ràng buộc, là nguyên nhân tập đế dẫn đến khổ đế, sinh lão bệnh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ, bị ba khổ, tám khổ làm chủ. 

Hai là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhưng bằng sáu tuệ căn, tức là dùng chân đế, đạo đế, để nhận thức về sáu trần một cách chắc thật. Đạo đế là ánh sáng trí tuệ bát nhã, còn vô minh là tăm tối, thiếu hiểu biết, lấy tri kiến của chư Phật soi sáng, phá tan đi bóng tối vô minh. Tâm thức đạt được sự thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc cảnh giới thiền định, chứng đắc tứ thánh quả.

1.4. Niệm pháp

Niệm pháp tục đế, khổ đế và tập đế, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần pháp, tạo ra sáu nhận thức về khổ đế và tập đế. Đi chứng minh sự thật về khổ đế là tám khổ, sinh, lão, bệnh, tử khổ, cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạch. Có nhiều loại khổ trong quá trình tiếp xúc. Rồi chúng ta lại đi tìm những nguyên nhân gây ra khổ đế, đó là tập đế, là do sáu căn tiếp xúc với sáu pháp trần tạo ra sáu thức hay tám thức, sinh ra cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, sinh ra nhân duyên ái nhiễm, tham đắm, thủ chấp và sở hữu chúng. Như thế là tâm thức của chúng ta bị vướng mắc vào vô minh. Do chúng ta niệm pháp tục đế, cho nên tâm thức bị xoay vòng luẩn quẩn trong đó, chịu nhân duyên quả báo sinh tử luân hồi trong sáu cõi, có phước báo hủ lậu nhân thiên.

Niệm pháp tục đế là sự ghi nhận của tâm thức, nó chứa đựng nhiều phiền não, tập tính thói quên, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào pháp thế gian, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật trong Phật pháp, khiến cho thân tâm vướng mắc trong năm dục sáu trần, chịu nhiều quả báo khổ đế, chịu sự dẫn dắt của vô minh, đi đến thọ nhận quả báo sinh tử luân hồi trong sáu cõi. Niệm pháp tục đế khiến cho tâm thức bất tịnh, không đi đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, không thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì vậy chúng ta cần nhanh chóng niệm pháp chân đế, đạo đế để thoát khỏi tục đế, thoát khỏi sự ràng buộc của vô minh.

Niệm pháp chân đế sẽ đưa tâm thức, sáu căn tám thức đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt vào niết bàn. Tức là nhận biết đâu là chân đế đưa tâm ta đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, đâu là tục đế đưa tâm ta vào sự ràng buộc của vô minh, bất tịnh, khiến cho thân tâm ta nhận quả báo thiện ác, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Nói cách khác tức là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, không để lại ấn tượng về những sự cảm thọ vui buồn, sướng khổ, tịnh niệm, vì chính chúng ta đã nhận biết được chúng là tục đế, là vô minh, là sinh tử luân hồi. Cho nên chúng ta không quan tâm đến nó, vượt qua nó, không để tâm thức của chúng ta bị ràng buộc bởi năm dục sáu trần, bởi những cảm thọ mà nó sinh ra trong quá trình tiếp xúc. Chúng ta tịnh hóa nó, làm cho nó thanh tịnh vô nhiễm, tịnh hóa thân tâm. Quan sát, tiếp xúc với chúng bằng tuệ căn, bằng tri kiến của chư Phật, bằng pháp chân đế, đạo đế, bằng ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nhận thức thấy được sự thật về pháp tứ diệu đế, sự thật về ba pháp ấn. Đó là các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt. Các pháp là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do tâm thức tạo, tâm thức tịch diệt thì các pháp cũng tịch diệt.

Như vậy, niệm pháp chân đế, đạo đế, là sự tiếp thu ghi nhớ luôn luôn, khắc cốt khi tâm những lời thuyết giảng giáo huấn của Đức Thế Tôn. Đó là tam tạng kinh điển, kinh, luật, luận, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Năm xưa, điển hình như Ngài A Nan là thánh đệ tử của Đức Thế Tôn, là thị giả của Ngài. A Nan đã tiếp thu, ghi nhớ tất cả những lời giáo huấn của Đức Thế Tôn và sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt vào niết bàn, để lại báo thân vô thường, Ngài A Nan cùng 1250 vị thánh đệ tử của Đức Thế Tôn cùng nhau thảo luận nhất trí tất cả những nội dung kinh điển. Những nội dung đó đã được Ngài A Nan ghi nhớ trong a lại gia thức, trí nhớ, ký ức, được trùng tuyên và ghi chép lại bằng kinh sách chữ viết, để truyền trao cho các đệ tử Phật, đại chúng, chúng sinh đời sau.

Ngài A Nan là người luôn luôn niệm pháp tục đế và chân đế. Ngài là người đắc pháp, chứng đắc được quả tu đà hoàn, là sơ quả đầu tiên trong tứ thánh quả, khi Đức Thế Tôn nhập diệt niết bàn. Quả tu đà hoàn là quả thánh đầu tiên, quả bất thoái, còn các vị thánh đệ tử khác, đại đa số chứng được quả a la hán, vì các ngài đã vượt qua được tục đế và chân đế, buông bỏ được mọi sự vướng mắc của tập đế, vô minh và đạo đế pháp phương tiện mô tả về chân lý. Các ngài đã hiểu thấu tục đế, chân đế, đã để lại con thuyền đạo đế dưới bến, để lên bờ giải thoát giác ngộ chân lý, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh tịch diệt, đắc đạo quả a la hán cao nhất trong tứ thánh quả, bước vào nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh. 

2. Tứ chính cần

Đây là bốn điều chính xác, chắc thật về sự có mặt của thiện pháp và ác pháp trong thế giới vô minh, tục đế, chân đế, thiện ác. Trong tục đế, là khổ đế và tập đế, là sinh tử luân hồi bị vô minh ràng buộc, còn trong chân đế có nhân là đạo đế và quả là diệt đế, đã thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Còn trong chân đế tuy vẫn còn vô minh, chưa hoàn toàn giác ngộ hết chân lý giải thoát, còn những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vi tế, nhỏ bé nó biểu hiện rất thầm kín. Cái này cần phải có công phu thiền định, thiền tuệ, trí tuệ bát nhã, tri kiến của chư Phật thì mới phá tan hết vô minh, ràng buộc vi tế này. Tức là còn có những phân biệt, vọng tưởng, chấp trước vào pháp đạo đế, vào các pháp tu hành trong ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo.

Quả báo chân đế, đạo đế cũng có những thứ bậc cao thấp khác nhau, đó là tứ thánh quả, từ quả thấp nhất là tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm và a la hán. Tuy người chứng đắc cảnh giới tứ thánh quả đã ra ngoài vòng sinh lão bệnh tử luân hồi trong sáu cõi, nhưng muốn vào niết bàn tịnh diệt, thì phải tinh tấn, chính cần tu hành hơn nữa, để đoạn hết được các lậu hoặc, vô minh trong tục đế và chân đế, không còn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, để đạt được quả vị toàn giác, chứng nhập niết bàn. Tứ thánh quả thuộc về tiểu thừa, duyên giác là quả vị nhị thừa, bồ tát quả thuộc về chứng đắc pháp đại thừa. Có bốn mươi một phẩm vị cấp bậc vô minh, thì có bốn mươi một phẩm vị cấp bậc quả vị bồ tát, khi đoạn hết vô minh, chứng đắc Phật quả Như Lai, chứng nhập niết bàn tịnh diệt. 

2.1. Tứ chính cần thuộc về tục đế

Tứ chính cần thuộc về tục đế là bốn điều nên tinh tấn, chuyên cần để thực hiện thường xuyên liên tục. Việc ác chưa sinh thì đừng cho nó sinh, việc ác sinh rồi thì cần ngăn chặn sám hối, đoạn diệt nó. Việc thiện chưa sinh thì cần làm cho nó sớm sinh ra, việc thiện đã sinh rồi thì tiếp tục phát triển duy trì nó. 

Việc ác chưa sinh thì cần phải phát hiện đoạn trừ ngay, không để cho nó sinh ra. Như vậy việc ác này nó đã tiền ẩn trong tâm thức của chúng ta, nó được hình thành từ việc sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhận biết về sáu trần là sắc trần, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần. Nó có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào vô minh, có sáu căn nhận biết sáu trần sai lầm, chỉ tiếp xúc với phần thô, như hình tướng, màu sắc, ân thanh, hương, vị, xúc trạm, các pháp hữu vi đối đãi giữa cái có và cái không. Tức là không có tuệ căn, không có tri kiến Phật để nhìn sâu vào sáu trần, nhìn vào các pháp đều là pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tính không là không có tự tính riêng biệt độc lập. Các pháp nương vào nhau hòa hợp mà có mặt, cái này có mặt, do cái kia có mặt, cái này đoạn diệt, là do những cái kia đoạn diệt.

Chính vì lẽ đó mà làm cho tâm thức của chúng ta bị đánh lừa, dụ dỗ, hiểu lầm, hiểu sai đi chân tướng sự thật, từ đó phát sinh ra những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, coi những gì sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều là sự thật, chấp trước vào đó mà phân biệt cái này tốt, cái này xấu, hay giở, thật giả, chân vọng, yêu ghét, vui buồn, sướng khổ, chấp trước, phân biệt, vọng tưởng vào cái ta, cái của ta, và từ đó trong tâm thức hình thành nhiều tập tính thói quen xấu, tà ác. Tất cả điều đó chúng ta nhận thức sai lầm, do sáu căn tiếp xúc sáu trần tạo ra sáu thức. Đây chính là do tâm vô minh làm chủ, chỉ đạo, ràng buộc tâm thức của chúng ta trong sinh tử luân hồi, lục đạo luân hồi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ, từ tâm thức tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến.

Phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, sinh ra các điều bất thiện, bất tịnh, những điều xấu tà ác, nhân ác tập đế, thì phải chịu quả ác khổ đế. Những nhân tố xấu tà ác này, nó điều hành, chi phối, chỉ đạo, mệnh lệnh, sai khiến tâm thức, thân tâm, ba nghiệp thân, khẩu, ý làm ra các việc xấu, tà ác. Đó là những hành vi, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật trong Phật giáo, vi phạm thuần phong mỹ tục, vi phạm đạo đức nhân cách con người, làm ra những điều hại người, hại chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống, để rồi phải nhận quả báo xấu tà ác, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, tự làm tự chịu, nhân nào quả đấy, chân thật không hư.

Việc ác đã sinh ra, thì cần phải đoạn diệt, sám hối không cho nó sinh ra nữa. Điều này có nghĩa là chúng ta không ngăn chặn, đoạn diệt, phát hiện, nhận thức được việc ác phát sinh, thì nó là nguyên nhân dẫn đến tạo ra các việc ác. Chính vì thế việc ác đã phát sinh rồi, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra các việc xấu ác, thể hiện qua ba nghiệp thân, khẩu, ý, tức là đến giai đoạn này chúng ta mới nhận thức được việc ác. Nó là nhân tố vô minh, nó sẽ mang đến cho chúng ta quả khổ đế, như việc chúng ta vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, do những hiểu biết sai lầm gây ra, bị vô minh, năm dục sáu trần ràng buộc bởi những cảm thọ, thì tâm thức bị quả báo sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Như vậy, chúng ta cần đoạn diệt việc xấu ác đã phát sinh, không cho nó phát sinh nữa thì chúng ta cần phải nhận thức rõ về những nguyên nhân gây ra những việc xấu ác. Việc vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, là nhân tập đế sinh ra quả khổ đế. Tức là muốn đoạn trừ việc xấu ác, thì phải đoạn hết những nguyên nhân dẫn đến việc xấu ác tập đế, còn muốn đoạn diệt hết những nguyên nhân dẫn đến việc xấu ác chưa phát sinh, thì cần phải sử dụng nhận thức rõ về đạo đế, là con đường giải thoát khỏi vô minh, khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, là con đường giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả.

Việc thiện chưa phát sinh, thì cần làm cho nó nhanh phát sinh. Việc thiện trong tục đế là những việc làm, hành động tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp theo hướng có lợi cho mọi người, giúp đỡ mọi người bớt khổ đau. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, ít bị vướng mắc vào tâm vô minh, tâm vô minh nhẹ vi tế. Tức là sự nhận thức về vô minh càng rõ ràng, minh bạch, thì việc thiện càng lớn, chúng ta nhận thức tốt về tâm vô minh, hiểu thấu tính chất bản chất thật sự của năm dục sáu trần, nhận biết được chân tướng sự thật tục đế, chân đế, từ đó đoạn trừ hết vô minh, cắt đứt được sọi dây ràng buộc của năm dục sáu trần, thân tâm thanh tịnh, sáu căn, tám thức thanh tịnh, thoát khỏi sinh tử luân hồi, được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh, thân tâm không phải chịu quả báo khổ đế. Đây là việc thiện lớn nhất của đời người.

Trong thực tế đời sống con người có rất nhiều điều thiện, việc thiện, như là việc làm từ thiện xã hội, đóng góp phúc lợi xã hội, ban tặng, cúng dường Phật pháp, và mọi thứ tài vật, tinh thần, giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn gian khổ, lìa khổ được vui, gánh vác trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, quốc gia dân tộc, xây dựng đất nước, xây dựng chùa tháp, đúc chuông, cúng dường tam bảo, Phật, pháp, tăng bảo, tăng đoàn, giúp đỡ mọi người, học tập tu hành theo Phật pháp, chấp hành pháp luật, nghiêm trì giới luật. Tất cả việc đó là rất tốt đối với con người, tạo nhân thiện được hưởng quả thiện, là phước báo nhân thiện, được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, nhưng vẫn nằm trong tục đế vẫn chịu sự ràng buộc của vô minh. Khi phước báo hết, nhân thiện hết thì liền bị nhân quả nghiệp báo luân hồi sinh tử trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ. Chúng ta nên tạo ra những nhân thiện là đạo đế, để có được quả diệt đế, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh chứng đắc tứ thánh quả.

Việc thiện đã pháp sinh thì làm cho nó tăng trưởng, là những việc thiện do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là vì lợi ích cho mọi người và bản thân cũng được an vui phước lành. Những việc thiện này xuất phát từ tâm thức thiện, ít vô minh, thiện căn tăng trưởng, khi biểu hiện ra ngoài thực tế đời sống đều là việc làm lành thiện, lời nói thiện, giúp đỡ mọi người trong gia đình, ngoài xã hội đều được an vui, thân thiện, tin tưởng. Đó cũng là cùng chia sẻ những lợi ích, những thành quả mà mình đạt được cho mọi người, thích làm các việc từ thiện, sống đời đạo đức, khiêm tốn, chân thật. Đó cũng là lòng yêu mến đạo Phật, thường hay thân cận cúng dường tam bảo, Phật, pháp, tăng đoàn, hộ trì Phật pháp, như hoằng dương Phật pháp, in ấn phát hành, truyền hình đa phương tiện, viết sách, băng đĩa chú giải, hướng dẫn mọi người hiểu được đạo lý chân lý giác ngộ giải thoát, có được đời sống ấm no hạnh phúc, nhận thức được tâm vô minh, xa lìa được vô minh, sớm thoái khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả. Tuy nhiên, những việc thiện trong thế gian chúng ta cần làm, cần tích cực thường xuyên liên tục, đây là những việc thiện mang lại nhiều lợi ích niềm vui hạnh phúc, ấn no, an lạc cho nhiều người và cũng cho chính bản thân mình. Nhân nào quả đấy, việc thiện nhân thì có thiện quả, việc ác nhân thì có ác báo. Nếu chỉ dừng lại việc thiện trong tục đế, thì nhận quả báo luân hồi là được hưởng phước báo nhân thiên, tuy rất vui nhưng vẫn bị quy luật vô thường sinh diệt chi phối, khi hưởng hết phước báo vui sướng, thì liền bị đọa lạc chịu quả khổ đế, xuống ba đường ác nhiều buồn khổ. Phước báo của việc thiện này, tuy có được hưởng những sự vui sướng trên thế gian về năm dục sáu trần, nhưng nó không bền vững và không tồn tại lâu dài. Chính vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ về tứ chính cần trong tục đế, nó vẫn nằm trong sự ràng buộc của tâm vô minh, vẫn bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi. Do đó chúng ta cần đoạn trừ nó bằng cách tịnh hóa thân tâm, tịnh hóa sáu căn, tám thức, nhập vào thiền định thiền tuệ, phát sinh trí tuệ bát nhã, chứng tứ thánh quả, sớm nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

2.2. Tứ chính cần thuộc về pháp chân đế

Trong chân đế không còn các việc ác chưa sinh và việc ác đã sinh, trong chân đế chỉ còn có mặt của việc thiện chưa sinh và việc thiện đã sinh.

Việc thiện chưa sinh, thì làm cho nó sinh ra, việc ác dù nhỏ bé đến đâu chúng ta cũng không nên làm, còn việc thiện dù nhỏ cỡ nào chúng ta cũng nên làm, cần phải phát triển nó cho lớn thêm. Trong chân đế chính là phần nhận thức về tâm vô minh, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, tám thức, bằng sáu tuệ căn, bằng tri kiến Phật, để phát hiện tiêu diệt hoàn toàn sự có mặt của tâm vô minh, của sự ràng buộc năm dục sáu trần, do những cảm thọ tham đắm, ham mê về hưởng thụ và thỏa mãn về cái ta, cái của ta. Đây là việc thiện chưa sinh cần phát sinh, cần chúng ta nhận thức rõ về tâm vô minh, về sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng trong đạo đế, chúng ta cần nhận thức rõ về đạo đế.

Các pháp đạo đế đều là các pháp phương tiện, mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, mô tả về cảnh giới thiền định, thiền tuệ, tri kiến Phật, bát nhã, cảnh giới niết bàn thường tịnh. Chúng ta không nên chấp chặt vào đạo đế, chúng ta coi nó như một phương tiện cần thiết, quan trọng bậc nhất, để nhận thức về tâm vô minh, để tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức. Nhưng khi tịnh hóa được thân tâm rồi, thì chúng ta không cần bám chấp vào pháp phương tiện chân đế hay tục đế nữa, mà hoàn toàn buông bỏ để đạt được trạng thái thân tâm hoàn toàn được thanh tịnh tịch diệt, chứng đắc cảnh giới thiền định, cảnh giới tịnh diệt niết bàn. Còn học Phật tu pháp mới chỉ dừng lại ở việc học hiểu giáo lý lý thuyết, nhận thức được tâm vô minh bằng tri kiến của chư Phật, Đức Thế Tôn, thì chưa đủ để bước vào dòng tứ thánh quả, mà chúng ta phải thực hành các pháp, có được công phu đoạn trừ được hết phiền não, tập tính thói quen xấu ác, cắt đứt được sự ràng buộc của năm dục sáu trần do những cảm thọ sinh ra duyên ái, thủ, hữu, là thức tái sinh, là tâm vô minh, là sinh tử luân hồi.

Chúng ta từ trước đến giờ, do tập tính thói quen, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đưa đến sự nhận thức không đúng về tâm vô minh, về chân tướng sự thật của các pháp, đưa đến sự lười biếng, tham đắm vào hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, nó tạo thành thói hư tật xấu. Chính vì thế mà việc thiện trong chân đế cũng bị nó làm cho chậm lại, học tập tu hành lười biếng chễ nải, từ từ, thăm rò, yếu đuối, không đủ tự tin, bị động. Đây là những nguyên nhân khiến cho việc tốt trong chân đế chưa được phát sinh, căn lành khó tăng trưởng, không hoàn thành được sớm đạo nghiệp, chậm chứng đắc tứ thánh quả.

Như vậy, chúng ta muốn sớm có được đạo quả giải thoát, chứng đắc quả vị tam thừa, ngũ thừa, thì cần có tâm cầu đạo tinh tấn, dũng mãnh, quyết liệt cầu học Phật pháp tu hành thường xuyên liên tục, không ngừng nghỉ, không gián đoạn cho đến khi chứng đắc Phật quả. Điều đó được thể hiện qua việc học Phật nghe pháp, tu hành để buông bỏ được hết những chướng ngại, vật cản, thói hư tật xấu, phá tan tâm vô minh, mở rông tâm lượng từ bi hỷ xả, bằng cách nghe giảng lý giải Phật pháp thường xuyên liên tục cho đến khi hiểu thấu, nghe đi nghe lại một bài giảng pháp nhiều lần, nghe từ một đến mười lần, nghe cho đến khi hoàn toàn hiểu thấu chân lý, giải ngộ Phật pháp, tức là hiểu thấu được hết những ý nghĩa trong bài giảng pháp của các bậc hòa thượng, pháp sư, giảng sư. Từ đó biến những tri kiến trong tam tạng kinh điển, kinh, luật, luận đó, thành của chính mình một cách tự nhiên, tự động, thì mới thực hành ứng dụng giáo lý đó, để làm chủ thân tâm, chuyển tâm vô minh, loạn tâm, tạp tâm, thành nhất tâm bất loạn, thành tâm minh, tâm thanh tịnh, thay đổi toàn bộ những hiểu biết tri kiến của con người có tâm vô minh, không đúng sự thật chân lý giác ngộ giải thoát của Đức Thế Tôn. Nhờ đó chuyển biến tâm vô minh, thành minh tâm kiến tính thanh tịnh, tịch diệt, đạt đến trạng thái cứu cánh niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Người có tâm giải ngộ, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc quả vị tam thừa, ngũ thừa là người có lòng từ bi hy xả, vì đã được minh tâm kiến tính thanh tịnh. Người đó nhìn thấy con người, chúng sinh có tâm vô minh, đang bị ba khổ, tám khổ chi phối, làm chủ thân tâm, từ đó mà sinh ra lòng từ bi thương sót, phổ độ chúng sinh, phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui giải thoát. Người chưa giải ngộ, giác ngộ, chưa có được sự minh tâm kiến tính thanh tịnh, thì chưa có được lòng từ bi hỷ xả. Còn tâm vô minh, thì chỉ có tình thương nhỏ bé, thương yêu có điều kiện, có tình chấp vào năm dục sáu trần, có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào cái tôi, cái của tôi, mà chưa có tâm từ bi hỷ xả, tình thương bình đẳng, tự nhiên, không điều kiện, đối với con người, chúng sinh muôn loài. Tình thương không còn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào cái tôi, cái của tôi, thân sơ. Tâm từ bi hỷ xả được sinh ra từ chính tri kiến của chư Phật Như Lai. Lòng từ bi hỷ xả được sinh ra từ việc hiểu thấu, giải ngộ tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, và được chúng ta ứng dụng tu hành thực chứng những giáo lý đó, thoát khỏi tám khổ, thì tâm từ bi hỷ xả được hình thành, xuất hiện và đồng thời tri kiến Phật cũng được ra đời trên thế gian, đó cũng chính là thánh đệ tử của đức Phật Thế Tôn xuất thế.

Như vậy, ai muốn có tâm từ bi hỷ xả, có minh tâm kiến tính thanh tịnh, có tri kiến Phật, thì chỉ có một cách là học Phật pháp, giải ngộ, giác ngộ chân lý giải thoát trong tam tạng kinh điển, chứng đắc đạo quả Phật Như Lai, từ bốn thánh quả, tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán, cho đến các quả vị bích tri Phật, bồ tát quả, Phật quả.     

Việc thiện đã sinh trong chân đế như sự nhận thức đạo đế, tĩnh tâm tu hành, đạt được một trong tứ thánh quả, thì chúng ta cần tu hành tinh tấn tiếp, để đạt được các quả vị cao hơn, như hàng duyên giác, bồ tát, Phật quả.

3. Tứ như ý túc

Tứ như ý túc được gọi là tứ thần túc bao gồm, dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tuệ quán như ý túc.

3.1. Tứ như ý túc trong tục đế

3.1.1. Dục như ý túc thuộc về tục đế

Dục như ý túc là những ham muốn, mong cầu của thân tâm khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức hay tám thức, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tức là sáu nhận thức về sáu trần, đều là những gì hiện có như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, do tâm vô minh mà nhận thức không biết được chân tướng sự thật của chúng. Do không có tuệ căn, tri kiến Phật, từ đó tâm thức bị lôi kéo tới những ham muốn sai lầm, về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, và chán ghét những gì mà mình không mong cầu, không mong muốn. Đây là những cảm thọ về thân tâm, khi tiếp xúc với sáu trần sinh ra các cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, dẫn đến sinh ra nhân duyên ái, thủ, hữu, thức tái sinh, do đó tất cả đều là nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế trong tục đế.

Như vậy, dục như ý túc trong đạo đế vẫn nằm trong sự khống chế, chi phối, ràng buộc của tâm vô minh, chịu sự dày vò của thân tâm, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Dục như ý túc trong tục đế có phước báo là nhân thiên, do dục thiện như ý túc mang lại, như làm các việc từ thiện, giúp đỡ mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, sống đời đạo đức, không vi phạm pháp luật, giới luật trong Phật pháp, luôn giữ được tâm thiện, ba nghiệp thân, khẩu, ý thiện, khi tiếp xúc với mọi người. Người có tâm mong cầu làm những điều thiện ở thế gian, thì đó là dục thiện như ý túc trong tục đế, tuy vẫn chịu cảnh luân hồi sáu cõi, vẫn bị tâm vô minh ràng buộc, nhưng phước báu đời sau và đời này được hưởng nhiều điều vui sướng, đầy đủ an vui hạnh phúc. Phước báo đó được gọi là phước báo hủ lậu, khi chúng ta hưởng hết, mà không chịu làm phước thêm nữa, thì tâm thức vẫn phải chịu cảnh đọa lạc xuống các cõi thấp hơn, tam ác đạo nhiều buồn khổ. Đây cũng chính là những dục như ý túc trong tục đế, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức sai lầm, tức là sáu thức phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào sáu trần là thật có, thật tồn tại và từ đó sinh ra các cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về nó, về năm dục sáu trần. Nó dẫn đến sự ái nhiễm, thủ, hữu, cho đó là cái ta, cái của ta, cái ta đích thật, vội vàng mong muốn hưởng thụ thỏa mãn cái ta đó, tâm và thân của ta, sáu căn của ta, ta muốn chăm sóc phụng dưỡng nó. Đây là cha mẹ, vợ con, anh em, gia đình, họ hàng, bạn bè, mọi người trong xã hội, quốc gia dân tộc ta, thế giới của ta, để mà làm tất cả mọi sự việc, do sự tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, để thỏa mãn sáu căn của ta, như mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương thơm, miệng được ăn ngon, thân thể được mặc những bộ trang phục, trang sức đẹp, ý được tiếp xúc với những điều hay, hợp tâm lý của ta.

Như vậy, chúng ta cần nhận thức rõ về tâm vô minh, tức là nhận thức rõ về nguyên nhân của tập đế, là những nguyên nhân sự thật để dẫn đến quả khổ đế. Từ sự nhận thức chắc thật về tục đế, chúng ta kiên quyết đoạn trừ hết tâm vô minh, làm cho thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, sáng suốt, không bị tâm vô minh ràng buộc. Đó chính là sự giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

3.1.2. Tinh tấn như ý túc thuộc về phần tục đế

Là những sự tinh tấn, nhiệt tình, quyết tâm, hành động, việc làm chuyên cần của thân, khẩu, ý nghiệp. Nói cách khác là sự tiếp xúc của sáu căn, với sáu trần, tạo ra sáu sự nhận thức, từ sáu sự nhận thức đi đến hành động, để mong cầu sớm đạt được những mong muốn, tham vọng, hưởng thụ, để thỏa mãn bản năng, thiện tâm hoặc ác tâm. Những việc tinh tấn hành động để làm các việc thiện trong thế gian, có được phước báo quả báo thuộc cảnh giới con người và chư thiên, thì đó là quả báo nhân duyên phước báo hủ lậu, được hưởng sự sống ấn no hạnh phúc. Nhưng nó là vô thường sinh diệt, luân hồi trong sáu cõi, do bị tâm vô minh làm chủ, chi phối tâm thức.

Cũng tương tự như thế, nếu chúng ta tinh tấn, chuyên cần làm các việc bất thiện, việc ác, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, vi phạm ngũ giới thập thiện, như thân thì sát sinh, trộm cắp, tà dâm, khẩu thì nói dối, nói hai lời, nói lời bóng bảy ỷ ngữ, nói lời ác khẩu, tâm thì tham, sân, si, do tâm vô minh làm chủ tâm thức, dẫn đến tham đắm vào những cảm thọ, tham đắm vào năm dục sáu trần, để rồi bất chấp các quy định của pháp luật, các giới luật trong Phật pháp, làm tất cả mọi việc vi phạm, nhằm đạt được sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, nhằm thỏa mãn cái ta, cái của ta. Do đó phải chịu những quả báo xấu tà ác, ác nhân thì bị ác quả, thiện nhân thì có quả thiện báo, tâm vô minh dày vò, thân tâm bất tịnh, ô nhiễm, phiền não, buồn khổ, vướng mắc ràng buộc trong năm dục sáu trần, vô minh, chịu sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều đau khổ dài lâu. Đây là sự tinh tấn nhưng mà là tà tinh tấn, ác tinh tấn, chúng ta vẫn vướng mắc trong tục đế, vẫn bị tâm vô minh ràng buộc chi phối làm chủ tâm thức, thì chúng ta không thể đoạn diệt được tâm vô minh, không giải thoát được tâm thức ra khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

3.1.3. Tâm như ý túc thuộc về phần tục đế

Có hai chiều hướng của tâm thức, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mà hướng thiện, hướng thượng, tức là tâm thức thiện luôn muốn làm những việc tốt, giúp đỡ bản thân tiến bộ về tư tưởng, đạo đức, nhân cách và giúp đỡ gia đình người thân, xã hội, có cuộc sống đầy đủ ấn no hạnh phúc, là người có cuộc sống trách nhiệm và uy tín với mọi người, được mọi người tôn trọng, tin tưởng, học tập. Tức là nói tâm thiện nhân thì có thiện quả, thể hiện qua lời nói, suy nghĩ, việc làm của thân, khẩu, ý nghiệp, là những hành vi việc làm tốt, có lợi cho mọi người và bản thân. Đó còn là tâm như ý túc hướng thiện, hướng đến cái đẹp của đời sống con người. Tuy vẫn trong vòng nhân quả, ràng buộc của tâm vô minh, nhưng con người có thiện tâm, thì sẽ được hưởng nhiều niềm vui tự do, hạnh phúc, ít phiền não buồn khổ. Tuy có được phước báo nhân thiên, đời sau vẫn giữ được tâm người, thân người, hoặc tốt hơn là được tâm chư thiên, thân chư thiên, để tiếp tục chuỗi nhân duyên nối tiếp, may mắn có được nhân duyên, thiện căn, phước báu, gặp được Phật pháp, được học và tu hành theo pháp Tứ diệu đế. Nhận thức được tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, ngộ nhập tri kiến Phật, sớm được giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi thân tâm con người, thoát khỏi thân tâm chư thiên, sớm thoát ta khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, đạt được tâm của bậc tứ thánh quả, thân kim cang bất hoại, thân tâm của bậc tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán.

Chúng ta muốn có được sự chứng đắc tứ thánh quả, thì việc đầu tiên cần làm là phải nhận thức rõ về tâm vô minh, bằng cách dùng sáu tuệ căn, dùng đạo đế để nhận thức tường tận về tâm vô minh, đoạn trừ tận gốc tâm vô minh. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, hay sáu tâm thức cần phải nhận biết rõ, đâu là cái thấy biết đúng sự thật như nó đang là, ở đây, không gian hiện tại này, thời gian hiện tại này, chỉ có một cách duy nhất để được giải thoát tâm vô minh, đoạn trừ tận gốc tâm vô minh, khi chúng ta nhận thức rõ về nó, những nguyên nhân sinh ra nó tập đế, biểu hiện bằng quả của nó là khổ đế. Tức là chúng ta nhìn các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan này, cần phải quan sát tường tận về năm dục sáu trần, bằng sáu tuệ căn, bằng nhận thức tri kiến của chư Phật Thế Tôn, để quan sát các sự vật, sự việc, hiện tượng đều thấy nó vô tướng, vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, có bốn đại lượng chủ yếu có mặt trong tất cả mọi sự sống, mọi thứ trong thế giới này là đất, nước, gió, lửa. Bốn đại lượng này khi tương tác hòa hợp, thì đều chịu ảnh hưởng của quy luật thành trụ hoại không, sinh trụ di diệt. Thân xác của chúng ta cũng do bốn đại lượng đất, nước, gió, lửa, hợp thành hình tướng là con người, chúng cũng bị chi phối bởi các quy luật sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không. Cho dù hình thể có to như trái đất thì cũng bị quy luật sinh trụ dị diệt chi phối. Tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp liên kết mà sinh, và đều do nhân duyên diệt. Cơ thể con người chúng ta không có cơm ăn, nước uống, áo mặc ấm, không khí ô-xi để thở, thì không thể có mặt trên cõi đời này, tồn tại, trưởng thành, sinh lão bệnh tử. Ngược lại với thiện tâm là ác tâm, ác tâm là tâm hướng xuống cảnh giới thấp kém, cảnh giới của tam ác đạo, cảnh giới của tâm tà ác và thân tà ác, đó là thân tâm của cảnh giới súc sinh, ngã quỷ, địa ngục. Thân tâm tà ác chất chứa rất nhiều ham muốn mộng tưởng, phiền não, phân biệt cái tôi, cái của tôi, chấp trước vào cái định kiến, cái hiểu sai lầm của bản thân và của người thế tục. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhận biết sai lầm, bị tâm vô minh đánh lừa dụ dỗ, khiến cho tâm thức chấp trước vào đó rồi sinh ra các tà ác tâm, như tâm chán ghét, hận thù, đố kỵ, ích kỷ, tâm thức có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến. Vì ham muốn hưởng thụ thỏa mãn bản thân, về năm dục sáu trần, mà đi đến tạo tác các tà ác nghiệp, do thân, khẩu, ý tạo ra, bất chấp thủ đoạn, bất chấp pháp luật, không sợ nhân quả báo ứng, bất chấp giới luật, bất chấp những lời khuyên bảo của các bậc thiện tri thức, tâm tà ác bị tâm vô minh làm chủ, chỉ đạo, sai khiến, vọng tưởng mê si, luôn cho những gì mình làm, thấy biết là đúng, không tự quán chiếu soi xét phản tỉnh lại tâm mình. Mặc dù những cái thấy biết đó là sai với chân tướng sự thật, nhưng do phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, hoang tưởng nhiều tham vọng, chỉ vì lợi ích của bản thân mình, mà làm cho nhiều người bị vạ lây, cộng nghiệp, bị đau khổ, bất hạnh.

Những người có tâm tà ác, có đời sống rất nhiều buồn khổ, phiền não, lo lắng, bất an. Họ bị ràng buộc của tâm vô minh, do sự đánh lừa của năm dục sáu trần, không có tuệ căn, cho nên quả khổ đế nhanh chóng xuất hiện đời này, và đời sau vẫn bị tâm vô minh làm chủ, bị luân hồi sinh tử xuống tam ác đạo, chịu nhiều phiền não buồn khổ. Họ phải thọ nhận thân tâm ở cảnh giới xúc sinh, ngã quỷ, địa ngục, cho đến khi thức tỉnh, hết u mê, tâm hướng thiện, hướng thượng, có nhân cách đạo đức, tình thương yêu, tôn trọng sự sống, thì được sinh lên cõi thiện lành, cõi nhân thiên, hưởng thụ phước báo hủ lậu.  

3.1.4. Tuệ quán như ý túc thuộc về tục đế

Căn cứ vào phần dục như ý túc, thì nó có dục thiện, dục tà ác, có chính tinh tấn, tà ác tinh tấn, tâm thiện và tâm tà ác, thì ở đây quán tuệ như ý túc thuộc về tục đế, cũng được chia làm hai loại là quán tuệ thiện và quán tuệ tà ác, thiện tri thức và ác tri thức. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu nhận thức, có mặt của sáu thiện căn, sáu tuệ căn, sáu nhận thức, hay tám thức thiện, sáu trí tuệ thiện và ngược lại là sáu căn bất thiện, thì sinh ra sáu thức bất thiện, ác tri thức. Như vậy, tuệ thiện là những nhận thức, hành động của thân, khẩu, ý nghiệp, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, mà ít bị tâm vô minh ràng buộc, che lấp sự thật về các pháp. Sáu thức không bị năm dục sáu trần chi phối nhiều, tâm thân ít phiền não, ham muốn hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, tâm thức ít tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có đời sống trách nhiệm, đạo đức, nhân cách tốt, chấp hành đúng pháp luật, giới luật. Luôn làm những việc thiện, việc tốt, có lợi cho bản thân, gia đình được nhiều lợi ích ấm no hạnh phúc, xã hội an định, quốc gia dân tộc giàu mạnh, thế giới hòa bình.

Nói trí tuệ thiện hay thiện tri thức là những hiểu biết về nhiều lĩnh vực, chuyên môn trong đời sống con người, như học vấn, là người có trình độ, bằng cấp, học vị, học hàm, trình độ học vấn các cấp, từ cấp phổ thông cho đến đại học, cao học, giáo sư, tiến sĩ, nhà bác học, khoa học, kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao, và nhiều lĩnh vực khác. Có được nhiều phát minh, nghiên cứu ứng dụng trong đời sống con người ngày một hoàn thiện, giúp cho mọi người có được sự no ấm hạnh phúc tự do, bình an, có được những phẩm chất đạo đức cao đẹp. Nói cách khác, thiện tri thức hay trí tuệ thiện là do cách quan sát nhìn nhận nghiên cứu thông qua việc tiếp xúc của sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý hoặc sử dụng những công cụ thiết bị phát minh khoa học tiếp xúc với cảnh giới sáu trần là, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tạo ra sáu sự nhận thức về thế giới quan và nhân sinh quan. Đây là sáu sự nhận thức, sáu sự hiểu biết về sáu trần của chúng ta, nhìn nhận các sự vật, sự việc, hiện tượng, nhân sinh quan, thế giới quan, vẫn còn có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Những điều thấy biết của sáu căn, bằng các giác quan trực diện, bằng các phương pháp, định luật, quy luật tự nhiên, có trong không gian và thời gian. Đó là những phản ứng hiện tượng về lý học, hóa học, sinh học, nguyên tử, phân tử, năng lượng, định luật bảo toàn. Điều này cũng mang lại lợi ích rất to lớn trong các ứng dụng hỗ trợ cho các hoạt động của con người, là những phương tiện, thiết bị hữu hiệu, có lợi ích cho nhân loại. Tất cả những điều đó được ứng dụng giúp ích có lợi cho đời sống của con người, có được cuộc sống ấn no, hạnh phúc, tự do, bình an, tinh thần tốt, có đạo đức, nhân cách tốt, thì đó chính là trí tuệ thiện, thiện tri thức.

Thiện tri thức này vẫn là tri kiến của tâm thức con người, tuy vẫn nằm trong sự chi phối, ràng buộc, làm chủ của tâm vô minh, nằm trong sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi, nhưng đây là những trí tuệ thiện, thiện tri thức, giúp ích cho con người có được đời sống ấn no, hạnh phúc, tự do, an nhàn, phước báo này là phước báo nhân thiên, là phước báu hủ lậu do được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần. Có nhân duyên là tâm thức thiện tri thức, thì có quả báo thiện tri thức, còn bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, do đó vẫn bị luân hồi sinh diệt trong sáu cõi, nhưng được hưởng thụ nhiều lợi ích phước báu cõi nhân thiên. Có được thân tâm chư thiên và con người, khi hưởng hết phước báu mà không tạo thêm phước báu, thì đời sau, kiếp sau, hoặc trong tương lai vẫn phải bị đọa lạc xuống ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ, khi nhân tập đế xác lập, thì quả khổ đế xuất hiện.

Nói cách khác, tuệ thiện, chính là tâm thiện, là những hiểu biết thông qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần, đưa đến sáu nhận thức, về nhiều lĩnh vực đời sống hàng ngày, tuệ tâm thiện bắt nguồn từ dục thiện, chính tinh tấn. Tâm thiện thì tuệ thiện là những lời nói, việc làm, ý nghĩ thiện, giúp đỡ mọi người có đời sống ấn no, gia đình hạnh phúc, xã hội, quốc gia dân tộc, thế giới hòa bình, hợp tác, cùng có lợi. Chính vì thế, tuệ tâm thiện là sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu nhận thức, lấy sự tương tác của căn với trần, hoặc có sự giúp đỡ của các công cụ thiết bị phương tiện khoa học, thì cũng đều là sự tạo tác loạn động của sáu căn đều sinh ra phiền não, vướng mắc trong năm dục sáu trần, thân tâm đều bị chi phối của nhiều quy luật sinh lão bệnh tử, quy luật vô thường sinh diệt, của các pháp, vô ngã, tính không.

Ngược lại với quán tuệ tâm thiện đó là quán tuệ tâm ác, tà ác tri thức, ác tri thức cũng có cái giống như thiện tri thức, đó là tri thức hiểu biết về các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới quan, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, tám thức, hiểu biết về nhiều lĩnh vực, có bằng cấp, trình độ đại học, cao học, giáo sư tiến sĩ, nhà khoa học và hiểu biết nhiều chuyên môn ngành nghề khác, như kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao, khoa học, công nghệ viễn thông, vi tính. Nhưng tâm ác là thân, khẩu, ý nghiệp của họ chứa nhiều tập tính, phiền não, tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ràng buộc, sai khiến, chỉ đạo làm ra những việc hại người, hại mình, làm hại gia đình xã hội, quốc gia dân tộc, thế giới bất an, đạo đức lương tâm con người bị khủng hoảng, lo lắng, sợ hãi. Ví như gây hận thù, gây chiến tranh sinh học, hóa học, nguyên tử, hại cho môi trường sống, làm nhiều việc trái với lương tâm đạo đức nghề nghiệp xã hội, làm trái pháp luật, giới luật, ham hưởng thụ để thỏa mãn bản thân. Nhưng thật ra thì nhân nào quả đấy, tâm tà ác, ác tri thức, thì bị quả báo tà ác, khổ đế, bị ràng buộc trong sinh tử luân hồi, bị đọa lạc vào ba đường tà ác, cõi súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, chịu nhiều buồn khổ.

Những người không có tri thức, những người nhận thức không bình thường, là những người khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu nhận thức, tám ý thức, không hiểu biết nhiều về các quy luật tự nhiên. Các tri thức hiểu biết về các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới quan không nhiều, không hiểu biết nhiều về văn hóa, kinh tế, chính trị, khoa học, hoặc ít tiếp xúc với tri thức, thế giới bên ngoài, ít trải nghiệm. Nhưng nếu trong tâm của họ có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, tức là người ít phước báu, ít tri thức, ít hiểu biết, thì những việc họ làm của thân, khẩu, ý nghiệp cũng ít làm hại người, hại vật, hại môi trường sống, nhưng cũng không có lợi cho mình nhiều. Họ là người ít tham vọng, sáu căn chậm chạp, không lanh lợi sáng suốt, ít phước báu. Họ ít có cơ hội làm ra những lợi ích gì to tát, vì họ ít ác tri thức, ít tuệ thiện tri thức. Những người này vẫn chịu những quy luật sinh tử luân hồi chi phối, tâm vô minh làm chủ, may mắn gặp được người thiện tri thức giúp đỡ, có duyên lành với Phật pháp thì sẽ nhanh tiến bộ, tiến tu, có được tuệ căn thanh tịnh, sớm tu hành được giải thoát tâm vô minh, giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. 

3.2. Tứ như ý túc trong chân đế

3.2.1. Dục như ý túc trong chân đế

Dục như ý túc trong chân đế, là những ham muốn, mong cầu những điều thiện, điều tốt đẹp cho bản thân và mọi người. Đó là những mong muốn như được nghe giảng kinh, thuyết pháp vì người diễn nói, được tu hành theo Phật, pháp, tăng. Dục như ý túc trong chân đế không bị tâm vô minh làm chủ, không bị tâm vô minh ràng buộc và chỉ đạo tâm thức.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, do có sáu tuệ căn, có tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, hiểu đúng được tục đế, và chân đế. Tức là đã nhận thức rõ tâm vô minh, đoạn trừ được tâm vô minh, không bị năm dục sáu trần dụ dỗ, đánh lừa, sai khiến. Sáu nhận thức đã hiểu thấu, chắc thật về bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo đế, nhận thức rõ con đường đưa tâm thức, sáu căn tám thức đến sự thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi. Bằng con đường đạo đế, bằng ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để nhận thức tâm vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, để chân thật đạt được sự giác ngộ chân lý, giải thoát, thoát khỏi được sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, tâm thức bước vào cảnh giới chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Nói cách khác, dục như ý túc trong chân đế, là sự nhận thức rõ ràng về tâm vô minh và cũng là sự mong cầu, mong muốn được nghe giảng kinh thuyết pháp, trùng tuyên lại những lời giáo huấn của Đức Thế Tôn. Được các thánh đệ tử của Ngài kết tập thành tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đây cũng chính là ham muốn học Phật tu pháp, để sớm được giác ngộ chân lý giải thoát, đoạn trừ hết tâm vô minh, đạt được thân tâm thanh tịnh, bước vào cảnh giới thiền định, bát nhã, được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả. Đây cũng là sự mong muốn tốt nhất, nhanh nhất để mang ánh sáng quang minh của chư Phật Đức Thế Tôn soi rọi vào tâm thức tăm tối vô minh, phiền não, buồn khổ của chúng ta. Đoạn trừ hết những nguyên nhân dẫn đến sinh tử luân hồi, đoạn trừ hết những nguyên nhân tập đế dẫn đến quả khổ đế, đoạn trừ bằng hết tâm vô minh, lậu hoặc, để đạt được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, vắng lặng, tịnh diệt đến cảnh giời giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

3.2.2. Tinh tấn như ý túc trong chân đế

Xuất phát từ dục như ý túc trong chân đế, thì tinh tấn như ý túc trong chân đế, là sự nhiệt tình, cần cù chịu khó, cam chịu khổ đế, để vượt qua tất cả các trợ ngại, chướng ngại ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, cần vượt qua những cám dỗ, lừa gạt bởi những cảm thọ về yêu thích, vui sướng, buồn khổ, chán ghét, bằng chính sự tinh tấn, bằng sáu tuệ căn, bằng tri kiến Phật, bằng đạo đế, để nhận thức rõ được đâu là tâm vô minh tăm tối, sinh tử luân hồi, đâu là tâm quang minh trí tuệ của chư Phật Đức Thế Tôn. Từ đó quyết tâm đoạn trừ tâm vô minh, quyết tâm tu hành theo đạo đế, là con đường ánh sáng quang minh trí tuệ của Đức Thế Tôn, đã soi sáng, giáo huấn, chỉ bảo chúng ta, giúp chúng ta xa rời, từ bỏ, phá tan được những nhận thức, định kiến, tri kiến sai lầm về chân tướng sự thật của các pháp.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là pháp vô thường, vô ngã, tính không, khi chúng ta nhận thức được đúng chân tướng sự thật đâu là tâm vô minh, đâu là quang minh tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, hiểu thấu được những giáo lý, ý nghĩa mà Đức Thế Tôn đã giáo huấn. Trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nói rõ về các pháp đều là do nhân duyên hòa hợp mà được sinh ra, tạo thành và chúng đều bị các nhân duyên tàn hoại, mà bị diệt vong. Các pháp đều nương vào nhau mà có mặt, cái này có do cái kia có, cái này diệt do cái kia diệt. Còn đủ nhân duyên thì còn trụ thế, còn hiện hữu, còn hình tướng, khi hết nhân duyên thì bị biến mất, tàn hoại trở về với nguyên thủy, sinh diệt tiếp nối và đi đến chỗ diệt vong, tuân theo các quy luật vô thường sinh diệt, vô ngã, không có cái nào làm chủ cái nào. Tính không là không có tự tính riêng biệt độc lập, do đó chúng đều nương tựa vào nhau có tính tạm thời, không ổn định, không thường còn, chúng có tính bức bách, khổ là sinh diệt.

Như thân thể con người là do tứ đại đất, nước, gió, lửa, được chuyển hóa thành thức ăn, nước uống, không khí ô xi, thân nhiệt, nhiệt độ thích hợp, hợp thành, tồn tại, hiện hữu, trụ thế, duy trì sự sống, đều do các nhân duyên này. Chúng đều bị quy luật sinh lão bệnh tử chi phối, làm chủ, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Còn đối với vật chất, khoáng vật, thực vật, thì chúng tuân theo quy luật thành trụ hoại không, hay sinh trụ dị diệt. Nếu chúng ta không nhận thức đúng đắn, chắc thật về điều đó, cho những cái vô thường là thường còn, vô ngã là có ngã, tính không, không có tự tính riêng biệt độc lập, mà cho là có tự tính, có chủ thể độc lập riêng biệt, cho khổ là vui sướng. Hay cho rằng khi chúng ta được hưởng thụ, thỏa mãn, về năm dục sáu trần là vui sướng, yêu thích, dẫn đến say đắm, đam mê, ham muốn, luôn muốn có được những cảm thọ vui sướng mà mình yêu thích đó, muốn được sở hữu, được độc chiếm làm của riêng, vì cái ta, cái của ta, mà vui buồn, sướng khổ vì nó, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào nó, mà không biết được niềm vui sướng thật sự của con người là sự thanh tịnh của thân tâm, sáu căn tám thức, khi thân tâm không bị những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét làm chủ, cũng như không bị cảm thọ khi được hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần mang lại, mà là thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, có được sự an vui thường lạc ngã tịnh. Khi đó tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, được giải thoát khỏi tất cả mọi khổ đau trong cuộc sống. Do không tạo những nguyên nhân tập đế, do đoạn diệt hết nguyên nhân tập đế, bằng tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn mà có được chân thật sự thường vui sướng, an lạc, tự do, tự tại, giải thoát ngộ nhập Phật tri kiến, nhập vào cảnh giới thiền định, bát nhã chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Chúng ta nhận thức đúng về chân tướng sự thật của các pháp, là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, thì đã xóa tan được màn đêm vô minh, đoạn trừ được tâm vô minh, bằng những tri kiến của chư Phật, bằng trí tuệ quang minh của Đức Thế Tôn trong đạo đế. Với ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để đạt được kết quả là diệt đế, giúp cho người tu hành, tứ chúng đệ tử Phật tu hành tinh tấn, tinh tấn hơn nữa, để bước nhanh, bước vững chắc trên con đường tu hành đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Khi chúng ta hiểu thấu Phật pháp có được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhận thức được ánh sáng quang minh trí tuệ bát nhã của Đức Thế Tôn một chắc thật, chính xác, giác ngộ chân lý giải thoát, thì lúc đó chúng ta tinh tấn, chuyên cần vui vẻ hoan hỷ trong đạo pháp, thẳng bước tiến đến quả vị tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

3.2.3. Tâm như ý túc trong đạo đế

Tâm như ý túc trong đạo đế hay còn gọi là định tâm thức như ý túc, nhất tâm thức như ý túc trong chân đế. Tâm được tạo thành từ dục như ý túc và tinh tấn như y túc trong chân đế, tức là sự mong cầu đạo đế, nhận thức tâm vô minh, tinh tấn tu hành để diệt trừ hết tâm vô minh. Nhân là đạo đế, quả là sự định tâm thức, nhất tâm thức, thanh tịnh tịch diệt, diệt đế, là tâm của tứ thánh quả, định tâm như ý túc chân đế. Đó là kết quả của sự tu hành theo đạo đế, để nhận thức tâm vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, tục đế, bước vào sự tinh tấn tu hành để đạt được sự nhất tâm, bước vào cảnh giới thiền định. Định tâm là sự chuyên nhất, nhất tâm để tu hành mong cầu để đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, chứng đắc tứ thánh quả, giải thoát tâm thức ra khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Tâm như ý túc còn thể hiện sự chuyên nhất, tinh cần vào phương pháp tu hành, là thể hiện bằng công phu tu hành, hành trì, gìn giữ sự thanh tịnh, vắng lặng của thân tâm, của sáu căn tám thức, nhập được vào cảnh giới thiền định, vô tâm thức, sinh ra trí tuệ bát nhã, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Tức là sáu căn chỉ chuyên nhất tiếp xúc với đạo đế là nguyên nhân, là con đường đi đến diệt đế, tiếp xúc với đạo lý giải thoát giác ngộ, tiếp xúc với ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đi đến được sự nhất tâm, bước vào cảnh giới thiền định, thân tâm thanh tịnh, vắng lặng, để sinh ra trí tuệ bát nhã từ sự nhất tâm bất loạn, thiền định, thiền tuệ, sinh tuệ tâm bát nhã. Còn các tâm thức khác đều bỏ qua, không tiếp xúc, không có cảm thọ về năm dục sáu trần, mà thân tâm, sáu căn tám thức chỉ có cảm thọ thanh tịnh về năm dục sáu trần, một tâm chuyên nhất tiếp xúc với đạo đế, với tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn.

3.2.4. Tuệ tâm như ý túc trong chân đế

Tuệ tâm như ý túc trong chân đế còn gọi là quán tuệ, trí tuệ, bát nhã như y túc. Đó là thành quả của việc nhận thức rõ tâm vô minh, không bị tâm vô minh ràng buộc, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Thức đó đều là các thức thanh tịnh, hiểu thấu tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật của các pháp và đoạn diệt được hết tâm vô minh, hết lậu hoặc, đạt được sự nhất tâm, tâm chuyên nhất.

Để tu hành theo đạo đế, chứng đắc được diệt đế, đi đến được sự giải thoát giác ngộ chân lý hoàn toàn, thì tâm thức có được sự thanh tịnh, vắng lặng, đi sâu vào thể tính, chân tâm đạt được sự định tâm vững chắc, bất thoái, thiền định chân thật. Từ đó sinh ra tuệ tâm chứng đắc tứ thánh quả, được chắc chắn giải thoát khỏi tâm vô minh, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, bước vào ngưỡng cửa tịch diệt niết bàn. Tuệ tâm này có được là đã đoạn được hết tâm vô minh, trí tuệ bát nhã này có được, không phải dùng sự tư duy, suy luận, nhận biết từ sáu căn, tám thức, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà có được trí tuệ bát nhã, mà trí tuệ bát nhã, tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, chân lý giải thoát giác ngộ có được là do tịnh hóa sáu căn, tám thức, thân tâm thanh tịnh, tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, tâm thức ở cảnh giới thiền định thậm thâm vi diệu, tịch diệt, phát sinh trí tuệ bát nhã, tuệ tâm bừng sáng giác ngộ chân lý giải thoát, có được đức năng, tam minh, lục thông, đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tính thành Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.

4. Ngũ căn: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn

4.1. Ngũ căn trong tục đế

4.1.1. Tín căn trong tục đế

Tín căn trong tục đế được chia làm hai loại, một là chính thiện tín, hai là tà ác tín.

Chính tín là tin tưởng chắc thật vào hai chân lý khổ đế và tập đế. Tức là tin tưởng và nhận thức rõ được khổ đế, là những sự thật về khổ đau. Đó là sinh lão bệnh tử, cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạch, bị tâm vô minh ngăn che không biết đến Phật pháp. Tâm có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, thì đều dẫn đến khổ đế, đó là những nguyên nhân chắc thật tập đế là nhân, khổ đế là quả.

Chính tín là tin tưởng do hiểu biết nhận thức rõ được về chân tướng sự thật của các pháp. Tin tưởng vào tập đế là nguyên nhân dẫn đến sự thật về khổ đế, tức là tin tưởng và nhận thức rõ được nguyên nhân dẫn đến khổ đế, là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, sinh ra những cảm thọ về sướng khổ, buồn vui, yêu thích, chán ghét. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tâm thức tham đắm vào năm dục sáu trần, tức là vọng tưởng vào sự ái nhiễm của năm dục sáu trần là tài, sắc, danh, thực, thùy, tạo ra sự tham cầu yêu thích hoặc chán ghét. Tứ đó sinh ra nhiều phiền não buồn khổ thân tâm, sinh ra nhân duyên thủ, hữu, ràng buộc tâm thức vào những cảm thọ đó, bị tâm vô minh và năm dục sáu trần ràng buộc làm chủ thân tâm, bị chúng lôi kéo tâm thức trong sinh tử luân hồi, nhân duyên hợp rồi tan tiếp nối liên tục.

Khi chúng ta tin tưởng chắc thật vào hai sự mô tả, về hai chân lý khổ đế và tập đế, thấy biết rõ ràng, trải nghiệm thực chứng được hai sự thật về khổ đế và diệt đế, từ đó đi đến sự tinh tấn tu hành. Đó là sử dụng phương pháp trong đạo đế, để từng bước đoạn trừ hết tâm vô minh, nhờ vào sự giác ngộ hai chân lý giải thoát khổ đế và diệt đế, biết được phương pháp, cách thức đoạn trừ nguyên nhân gây ra khổ đế. Chính những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, ái nhiễm về năm dục sáu trần sinh ra, sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng, sân hận, si mê, làm cho thân tâm chúng ta bị tâm vô minh chi phối làm chủ, ràng buộc vào phiền não, vướng mắc vào năm dục sáu trần, chịu ảnh hưởng lôi kéo tâm thức trong sinh tử luân hồi. Khi chúng ta nhận thức rõ về nó, tin tưởng vào sự trải nghiệm, thực hành tinh tấn, thực chứng được hai chân lý giải thoát, thoát khỏi tâm vô minh là khổ đế và tập đế.

Chúng ta tin tưởng như thế, được xem là chính tín, do sáu căn của chúng ta tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, mà sáu căn, tám thức không bị những cảm thọ yêu thích, vui sướng, buồn khổ, chán ghét, do năm dục sáu trần chi phối, mà chỉ có cảm thọ về sự thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc không vướng mắc vào tâm vô minh, vào năm dục sáu trần, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, đối với năm dục sáu trần, tâm vô minh không có liên quan đến tâm thức thanh tịnh của chúng ta. Tức là sáu căn thanh tịnh, sáu tuệ căn có tri kiến của chư Phật Như lai, đức Thế Tôn, khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức thanh tịnh không bị tâm vô minh ràng buộc tâm thức, không bị năm dục sáu trần chi phối. Vì chúng ta có đạo đế, có tri kiến của chư Phật Như Lai, có tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đó là một con đường tốt nhất để đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát.

Chỉ có con đường tu hành đưa tâm thức đến sự thanh tịnh, thì mới giải thoát khởi tâm vô minh, khỏi năm dục sáu trần, khỏi vòng nhân quả thiện ác trong tục đế, khổ đế và tập đế, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Con đường giải thoát khỏi sinh tử luân hồi là sự tu hành giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, nhập được vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc quả vị tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Đây là sự giải thoát chắc thật vượt ra ngoài sự ràng buộc của tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, đoạn hết các lậu hoặc, chứng được thể tính tịch diệt chân không, có được đức năng diệu dụng, chứng đắc tam minh lục thông, nhập diệt niết bàn.

Nói cách khác, chính tín trong phần tục đế còn được chia thành các loại như là tín lý, tín sự, tín nhân, tín quả, tín tự và tín tha, nằm trong tục đế, tin vào lý tính, tin vào hai chân lý chắc thật, để đi đến sự giác ngộ nhận thức tâm vô minh và đoạn diệt tâm vô minh. Đó là khổ đế và đạo đế, tin vào phần lý tính, như đã trình bầy ở trên. Còn tin về sự là sự tướng sự vật, sự việc, hiện tượng, trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan nay, tin tưởng vào sự tướng có thật trong quá khứ lịch sử phát triển của Phật giáo, được truyền trao từ Đức Thế Tôn cách đây khoảng 2550 năm và tin vào các thánh đệ tử Phật. Tin vào những giáo lý, đạo lý, chân lý, giác ngộ, giải thoát của Đức Thế Tôn, đã để lại cho chúng ta là hoàn toàn có thật, chắc thật. Cũng như tin vào sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi nhập vào niết bàn thường tịnh, có tam minh lục thông, là một sự thật chắc chắn mà Đức Thế Tôn đã chứng đắc. Giáo lý, chân lý giác ngộ của Ngài được truyền trao cho các thánh đệ tử của Ngài, tu hành học tập thực hành đều đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi tâm vô minh, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng được tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Tín nhân là tin vào nguyên nhân tập đế, là sự thật về nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế, tin quả là tin vào quả khổ đế, là sự thật về khổ, do những nguyên nhân tập đế tạo ra. Nhân nào thì quả đấy, thiện nhân thì có thiện quả, ác nhân thì bị ác báo, làm những việc hại người, như vi phạm pháp luật, giới luật, thì bị đọa lạc xuống ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ. Còn chúng ta làm nhiều điều thiện nhân, tốt lành, giúp đỡ mọi người có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vui sướng, thì được phước báu nhân thiên.

Tín tự là quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần, có được sự hiểu biết chắc thật về hai chân lý khổ đế và tập đế. Từ đó khẳng định được khả năng và nhận thức của mình, để có được chính kiến của chư Phật Như Lai. Nhờ đó biết rõ về tâm vô minh, nhận biết thấy rõ tục đế, là chính xác, chắc thật, giúp chúng ta đoạn trừ hết sự vướng mắc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, đạt được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc quả vị tứ thánh quả, sớm nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Tín tự thể hiện sự trải nghiệm của bản thân, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, thấy được sự chân thật của khổ đế và tập đế. Nó thể hiện bằng công phu tu tập, hành trì các phương pháp trong đạo đế, để có được quả báo sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịch diệt.

Tín tha trong tục đế, là quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có được sự tin tưởng chắc thật về hai chân lý khổ đế và tập đế, tin tưởng có trải nghiệm thực tế. Có công phu tu hành chắc thật, đúng chính pháp Phật pháp, đúng hai chân lý đạo đế và diệt đế. Tức là nói khi chúng ta tiếp xúc với cảnh giới bên ngoài, sáu trần, thấy biết được những điều đúng đắn, hợp với chân lý tục đế và chân đế. Chúng ta tin tưởng, như tin tưởng đức Thế Tôn, các thánh đệ tử của Ngài, đã vì chúng ra mà trùng tuyên, tập kết giảng giải tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp chúng ta sớm được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Thời gian đức Thế Tôn còn trụ ở thế gian cho đến nay, đã trải qua khoảng 2550 năm. Phật pháp được Ngài giác ngộ, được trùng tuyên, tập kết, ghi chép lại để lưu lại cho chúng ta đến ngày nay, được ghi lại trong ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, được các vị thánh đệ tử truyền lại từ đời này qua đời sau cho đến ngày nay.

Như vậy, chúng ta tín tha là tin tưởng đúng đắn có hiểu biết, có trải nghiệm, có tu hành công phu thiền định, thiền tuệ, bát nhã để nhận thức rõ được bốn điều miêu tả về bốn chân lý giải thoát, giác ngộ, mầu nhiệm khổ, tập, diệt, đạo đế. Tức là chúng ta tin tưởng vào đức Thế Tôn, là bậc đại giác ngộ, toàn giác, có được tam minh, lục thông, tin tưởng vào ba ngôi tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh. Chúng ta nhận đức Thế Tôn là bậc đại sư, đại minh sư là người thầy tri kiến Phật của chúng ta. Tuy hiện nay thân thể con người của Ngài không còn tồn tại, trụ thế tại thế gian, còn bốn thánh tích trên đất nước Ấn Độ, những hạt xá lợi Phật, và những giáo pháp giải thoát giác ngộ, mầu nhiệm, chân thật của Ngài để lại cho chúng ta, là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đó là người thầy tâm thức của chúng ta, cũng như nương tựa vào những vị thánh đệ tử Phật, những vị tăng ni phật tử nam nữ, có được công phu tu hành, có được sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc các quả vị trong tứ thánh quả, từ bậc thánh tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm và a la hán, chúng ta nhận những vị đó để làm người thầy hướng dẫn đạo tâm thức cho chúng ta, sớm nhận thức được hết tâm vô minh, nhận thức rõ về sự ràng buộc của năm dục sáu trần trong tục đế. Để từ đó sử dụng pháp đạo đế đoạn trừ hết tâm vô minh, hết các lậu hoặc, bước vào con đường chân đế, thân tâm thanh tịnh, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tu hành tinh tấn theo đạo đế, là nhân tố để sớm đạt được chứng đắc quả vị diệt đế, tứ thánh quả, đi thẳng tới quả vị cứu cánh nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Như vậy, chúng ta tin tưởng lấy tấm gương “Bi Trí Dũng” của đức Thế Tôn, làm vị đại sư suốt đời học hỏi, làm theo những gì mà Ngài đã dạy bảo. Chúng ta biết vâng lời, quyết tâm chuyên cần, tinh tấn tu hành theo những giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để sớm nhận thức rõ tâm vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, đi đến quả vị giải thoát giác ngộ chân lý, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều vị hòa thượng, pháp sư, thiền sư, thượng tọa, đại đức, tứ chúng đệ tử Phật, vì lòng từ bi, trí tuệ, vì lợi ích của Phật pháp mà giảng kinh thuyết pháp trùng tuyên lại giáo lý kinh điển trong ba đại tạng kinh. Các vị đã kết tập lại nhiều giáo lý, đạo lý, giải thoát giác ngộ chân lý, tri kiến Phật của đức Thế Tôn, và các thánh đệ tử của Ngài để lại. Cũng như qua nhiều đời các vị tổ sư, thánh đệ tử Phật, truyền trao, kết tập, luận giải, chú giải, trong ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để thuyết giảng cho đại chúng hiểu được các đạo lý, chân lý giải thoát giác ngộ, phù hợp với căn cơ của nhiều người trong đại chúng. Nhờ đó từng bước nâng cao sự hiểu biết và nhận thức rõ chân tướng sự thật về các pháp, nhận thức rõ tâm vô minh, nhận thức về tứ diệu đế, khổ, tập, diệt, đạo, nhận thức về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp là do nhân duyên hòa hợp mà được sinh ra, có hiện hữu, và do các nhân duyên tàn hoại, mà diệt vong, vô tướng, vô tác, vô nguyện, tất cả các pháp có hiện hữu rồi chúng cũng biến mất trở về với nguyên thủy của nó, tương tục tuần hoàn theo các quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ di diệt. Tuy nhiên tín căn, chính tín trong tục đế mới chỉ dừng lại ở sự nhận thức tin tưởng chắc thật về khổ đế và tập đế, chưa có đủ công phu tu hành để đoạn trừ hết tâm vô minh, đoạn trừ hết nguyên nhân tập đế. Do đó tâm thức, sáu căn tám thức chưa được thanh tịnh, tâm thức chưa thoát ra khỏi sinh tử luân hồi, vẫn nằm trong vòng nhân quả phước báu nhân thiên, thiện và ác, thiện nhân thì có thiện quả, ác nhân thì bị quả báo xấu tà ác, tức là tâm thức bị luân hồi trong sáu cõi. Còn thân thể tứ đại hợp thành là đất, nước, gió, lửa, danh sắc, là nhân duyên tiếp nối hình thành và duy trì sự sống cho chúng sinh khác, hoặc trở về với nguyên thủy ban đầu của tứ đại, tâm thức thì tái sinh theo nghiệp thức thiện ác. Theo tri kiến định kiến, trình độ hiểu biết, sự tham đắm vào năm dục sáu trần, theo những nhân duyên mà ta đã tạo nhân, thì chúng ta phải gặp quả báo tương ứng với phước báo thiện, ác, mà ta đã tạo trong qua khứ, hiện tại, mà đi đến cảnh giới mới, thọ thân tâm mới, nhận thức tri kiến mới và nó được hình thành tiếp nối liên tục, luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Trong thực tế đời sống có nhiều người chưa tin được vào tam bảo Phật, pháp, tăng, chưa tiếp cận, tiếp xúc, chưa có nhân duyên để hòa nhập học hỏi Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, chưa có đủ nhân duyên, thiện căn, phước báu thiện, để được ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, đức Thế Tôn. Họ chưa tin được vào bốn chân lý mầu nhiệm tứ diệu đế là khổ, tập, diệt, đạo, nhưng những gì họ làm vẫn đúng pháp luật, đúng theo giới luật, năm giới cấm, mười giới thiện. Họ làm nhiều việc từ thiện giúp đỡ mọi người, không làm những điều xấu tà ác hại người hại vật hủy hoại môi trường sống. Họ có đời sống đạo đức nhân cách con người lương thiện. Tức là họ vẫn làm các việc hợp tình hợp lý, hợp với đạo đế, hợp với giới luật, họ có được hưởng đời sống con người ấm no, hạnh phúc. Tuy họ còn nằm trong vòng tục đế, khổ đế và tập đế, chưa nhận thức rõ tâm vô minh, vẫn bị vô minh ràng buộc, bị năm dục sáu trần chi phối, điều hành, lôi kéo thân tâm bằng những cảm thọ yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, sinh ra nhân duyên ái, thủ, hữu, thức tái sinh. Họ vẫn nằm trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, tuy có được phước báu nhân thiên, có được sự hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần. Nhưng phước báu đó không bền vững, khi hưởng thụ hết phước báu, mà không tạo được phước báu mới, thì phước báu đó hưởng thụ hết rất nhanh, khi hết thì liền bị đọa lạc xuống ba đường ác nhiều buồn khổ.

Tà tín

Tà tín là sự đánh lừa của tâm vô minh, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, là những nhận thức sai lầm, về sáu trần cảnh, là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn là sáu trực căn, không phải là sáu tuệ căn. Sáu căn này bị tâm vô minh đánh lừa, dụ dỗ, do đó sáu thức hiểu lầm về sáu trần là thường, là đoạn, là vui sướng, là ngã sở và ngã kiến, là có thật. Do có sự phân biệt, vọng tưởng, chấp trước vào năm dục sáu trần. Tất cả đều có chủ thể độc lập, như là có cái ta, cái của ta. Các pháp là thường, là có, có tự tính độc lập, khi chúng ta có sự nhận thức như vậy, là dẫn đến sự tham chấp của thân tâm khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ. Từ đó sinh ra duyên ái nhiễm vào năm dục sáu trần, thủ giữ, sở hữu, ràng buộc tâm thức vào những cảm thọ đó. Chấp vào nó là cái ta yêu thích, cái của ta, là sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thân tâm bất tịnh, bất thiện, tâm thức có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào năm dục sáu trần càng nặng, càng sâu, càng lâu, càng chắc, thì sự đọa lạc sinh tử luân hồi xuống các tầng trong tam ác đạo, càng phải chịu nhiều buồn khổ dài lâu.

Tà tín trong tục đế là sự chưa tin tưởng vào pháp Tứ diệu đế, chưa lĩnh hội được chân lý giải thoát giác ngộ, chưa tin tưởng vào Phật pháp, chưa tin vào sự, lý, nhân, quả, chưa tin vào khả năng, năng lực, hiểu biết của bản thân. Đó cũng là chưa tin vào sự giúp đỡ của đức Thế Tôn, và các thánh đệ tử của Ngài, đã vì lòng từ bi trí tuệ bát nhã, thương sót bình đẳng, vô điều kiện, đối với mọi người, mọi chúng sinh trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, và chúng sinh ở nhiều pháp giới, mười pháp giới, trong đó có cả các bậc tứ thánh, bậc thanh văn, duyên giác, bồ tát. Các Ngài đã trùng tuyên, kết tập, bằng ngôn ngữ chữ viết, viết lại những lời giáo huấn, chỉ điểm, khai thị, mô tả chân lý giải thoát giác ngộ của đức Thế Tôn. Thông qua việc kết tập tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, các Ngài giúp cho chúng ta là người hậu học, là bốn chúng đệ tử của chư Phật, đức Thế Tôn, nhận thức rõ được tâm vô minh, nhận thức rõ về bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo trong Tứ diệu đế. Nhận thức được sự ràng buộc của năm dục sáu trần, bởi những cảm thọ về yêu thích, vui sướng, buồn khổ, chán ghét của thân tâm, từ đó nhận thức về đạo đế, hiểu thấu Phật pháp, có được tri kiến của chư Phật đức Thế Tôn, biết được chân tướng sự thật của các pháp.

Các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường, vô ngã, tính không. Từ đó phá tan tâm vô minh, cắt đứt được sự ràng buộc của năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức được thanh tịnh, tâm thức được giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Những người có tà tín là những người trong tâm thức có nhiều phiền não, buồn khổ, khổ đế, có cuộc sống nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Thân tâm thường bị năm dục sáu trần chi phối, chỉ đạo, điều hành, bị tâm vô minh làm chủ, ràng buộc tâm thức, tạo ra các hành động của thân, khẩu, ý nghiệp, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, năm giới, mười thiện, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Tà ác tín là nhân của quả báo tà ác, nhân nào quả đấy, chính tín thì có chính quả, thiện quả, còn tà ác tín thì có tà ác quả, đọa lạc xuống ba đường ác, chịu sinh tử luân hồi trong sáu cõi, nhân tập đế thì có quả khổ đế. Quả khổ đế chúng ta thọ nhận, lại được tiếp xúc, đóng vai trò là nhân, mà may mắn gặp được Phật pháp, gặp được chân lý giải thoát giác ngộ, Tứ diệu đế, ba bảy phẩm trợ đạo. Tin tưởng học tập tu hành có được công phu thành quả, hiểu thấu được tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, bằng tri kiến của chư Phật đức Thế Tôn, thân tâm, sáu căn, tám thức thoát khỏi ràng buộc bởi những cảm thọ về năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh. Có được thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, ngộ nhập tri kiến Phật đức Thế Tôn, có được sự chứng đắc Phật pháp, trong tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chứng đắc Tứ diệu đế, bước vào cảnh giới tứ thành quả, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Cách đây khoảng 2550 năm khi đức Thế Tôn xuất hiện trên trần gian, cõi người, thì giáo pháp Phật pháp, chân lý giải thoát giác ngộ được Ngài phát hiện, chứng đắc và truyền đạo cho các thánh đệ tử của Ngài và đại chúng có nhân duyên lúc đó. Hầu như tất cả thánh đệ tử của Ngài thời đó, đều có được nhân duyên lành, gặp được trực tiếp đức Thế Tôn, gặp được tam thân Phật đức Thế Tôn, là báo thân, ứng hóa thân, pháp thân, gặp được chân lý giải thoát giác ngộ, Tứ diệu đế mà chính đức Thế Tôn, do tu hành theo tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đạt được trạng thái thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, nhập được vào cảnh giới thiền định, sinh trí tuệ bát nhã, tri kiến Phật, tâm thức ở cảnh giới niết bàn thường tịnh. Sau khi Ngài được giác ngộ chân lý giải thoát, Ngài đã tạo ra nhân duyên lành giúp đỡ cho mọi người, tùy theo mọi căn cơ, mọi tầng lớp có trình độ khả năng, có nhân duyên, thiện căn, phước đức của mỗi người có khác nhau, nhưng do gặp được Ngài, gặp được tam thân Phật đức Thế Tôn, và được Ngài vì lòng từ bi đã giảng kinh thuyết pháp bình đẳng không điều kiện, trực tiếp giáo huấn chỉ bảo phương pháp tu hành cho mọi người, cho những thánh đệ tử của Ngài thời đó. Vì có được nhân duyên tốt lành nhất đó, đại nhân duyên thiện, mà các thánh đệ tử của Ngài đều lĩnh hội được giáo lý, đạo lý trong pháp Tứ diệu đế, ngộ nhập được vào tri kiến Phật, có được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, nhập vào được cảnh giới thiền định, chứng đắc được tứ thánh quả, diệt đế, tâm thức được nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

4.1.2. Tinh tấn căn trong tục đế

Tinh tấn căn trong tục đế được xuất phát từ chính tín, thì hình thành nên chính tinh tấn. Còn xuất phát từ tà ác tín, mê tín, không tin Phật pháp, không tin tưởng chân lý giải thoát giác ngộ Tứ diệu đế, không tin vào tri kiến của chư Phật Như Lai, đức Thế Tôn, thì hình thành nên tà ác tinh tấn, dẫn đến bị tâm vô minh làm chủ, năm dục sáu trần ràng buộc, khiến cho thân tâm, sáu căn tám thức bất tịnh, bất thiện, bị đọa lạc trong sáu cõi luân hồi, ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Chính tinh tấn trong tục đế, là biểu hiện bằng hành động, lời nói, tư duy, suy nghĩ việc làm, tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, do có chính tín, có sự tin tưởng chắc thật vào chân lý giải thoát, giác ngộ Tứ diệu đế, tin tưởng vào lý, sự, nhân, quả, tự tín và tín tha. Do đó chính tinh tấn là sự xuất phát từ chính tín, thì đây là hành động học tập tu hành có công phu hành trì các phương pháp tu tập, như ba bảy phẩm trợ đạo, Tứ diệu đế, để nhận thức rõ tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, đoạn trừ tập đế, đoạn trừ hết những nguyên nhân tập đế, dẫn đến khổ đau khổ đế. Tức là quá trình tu hành để đoạn trừ sự ràng buộc vướng mắc vào năm dục sáu trần. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những cảm thọ thanh tịnh, không có sự tham ái, chấp thủ, sở hữu, hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, tức là hiểu được quy luật về các pháp là khổ, là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt.

Chúng ta có chính tín là sự tin tưởng có nhận thức rõ tâm vô minh, thì chính tinh tấn, là quá trình thực hành để đoạn trừ tâm vô minh, bằng ba bảy phẩm trợ đạo, bằng Tứ diệu đế. Quá trình đoạn trừ tâm vô minh, đòi hỏi chúng ta cần phải tu tập hành trì sao cho sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức thanh tịnh. Tức là chúng ta đã hiểu thấu tâm vô minh, thân tâm của chúng ta không bị năm dục sáu trần chi phối, ràng buộc, dụ dỗ, lôi kéo, tức là thân tâm, sáu căn, tám thức của chúng ta được thanh tịnh, không còn tham luyến năm dục sáu trần, vì đã nhận thức rõ điều đó chính là tâm vô minh. Đó chính là luân hồi sinh diệt, tức là thân tâm không còn bị tham luyến những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, vì nó là tâm vô minh, nó là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thì tâm thức không còn bị tham đắm vào năm dục sáu trần nữa, tham đắm vào tâm vô minh làm gì nữa. Khi đó tâm thức chúng ta hoàn toàn được tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý Tứ diệu đế, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Nói cách khác con đường đi đến sự giải thoát giác ngộ chân lý Tứ diệu đế, đưa tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Đó là công phu tu hành nhận thức được khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế, nhận thức rõ tâm vô minh bằng tri kiến của chư Phật đức Thế Tôn, phá tan tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, thể hiện bằng việc sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, đạt được quả vị tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Trong thời gian đức Thế Tôn còn trụ thế cách đây khoảng 2550 năm, Ngài vì lòng từ bi thương sót bình đẳng, vô điều kiện, với mọi người, mọi chúng sinh, trong sáu cõi luân hồi và trong mười pháp giới, Ngài đã giảng kinh thuyết pháp, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ Tứ diệu đế, để đi đến sự chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn tịnh diệt. Ngài đã thuyết giảng vô lượng pháp tạng, trong suốt cuộc đời hơn bốn mươi năm, giảng kinh thuyết pháp vì con người, chư thiên, vì chúng sinh diễn nói rất nhiều đạo lý, chân lý, phương pháp tu hành. Ngài chuyển pháp luân Tứ thánh đế, là tam chuyển thập nhị hành, để giáo hóa phổ độ mọi người, mọi chúng sinh, có được sự giải thoát giác ngộ chân lý chân thật.

Bên cạnh đức Thế Tôn có vị thánh đệ tử A Nan, là thị giả của Ngài, đã trực tiếp được nghe những bài giảng kinh thuyết pháp từ đức Thế Tôn, rồi Ngài A Nan lại trùng tuyên lại cho đại chúng, cùng các thánh đệ tử Phật, được nghe, được thực hành giáo pháp, có gì chưa hiểu còn nghi vấn, thì hỏi lại Ngài A Nan, hoặc thông qua Ngài A Nan để hỏi lại đức Thế Tôn giải đáp thắc mắc, hoặc có cơ duyên lành được hỏi trực tiếp đức Thế Tôn, chỉ bầy, giải thích giáo lý, và sau này khi tâm thức, tri kiến Phật đức Thế Tôn nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì Ngài thị giả A Nan là người được bầu để trùng tuyên kết tập, ghi chép những lời nói, giáo huấn, khai thị, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ của đức Thế Tôn, thành tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Với sự có mặt khoảng 1250 vị thánh đệ tử của chư Phật đức Thế Tôn, các Ngài đều là bậc giác ngộ chân lý giải thoát Tứ diệu đế, thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, có được tri kiến Phật, chứng đắc được tứ thánh quả, thân tâm, sáu căn tám thức hoàn toàn thanh tịnh, bước vào cảnh giới niết bàn thường tịnh.

Trong quá trình học giáo pháp của đức Thế Tôn truyền trao, những giáo lý, chân lý giác ngộ giải thoát, được mô tả trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Các thánh đệ tử đã nhận thức rõ được tâm vô minh, từ đó chính tinh tấn tu hành để đoạn trừ hết tâm vô minh, sạch phiền não, thân tâm, sáu căn tám thức không còn có những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, không còn tham đắm vào sự hưởng thụ, thỏa mãn cái ta, cái của ta về năm dục sáu trần. Tức là thân tâm, sáu căn tám thức hoàn toàn thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, đắc đạo quả a la hán. Còn riêng Ngài A Nan còn giữ lại các pháp phương tiện, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ, trong tâm thức còn lưu lại tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, lưu giữ các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp vô thường, vô ngã, tính không, tuy Phật pháp là đạo đế mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ, chứ nó không phải là chân lý giải thoát giác ngộ, nó chỉ là pháp phương tiện, chỉ là con tuyền trí tuệ bát nhã đưa chúng ta đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, chúng ta cũng không được chấp vào nó, không tham đắm vào nó, không vướng mắc vào nó, cũng không lưu lại nó trong tâm thức, trong sáu căn tám thức, làm thế nào để đoạn trừ hết sự ràng buộc về các pháp, năm dục sáu trần, đoạn trừ hết các pháp tục đế và pháp chân đế. Tức là chúng ta hiểu thấu không để tâm thức bám vào nó nữa, mà làm cho thân tâm, sáu căn, tám thức hoàn toàn được thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật đức Thế Tôn, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Còn Ngài A Nan do còn vướng mắc vào pháp đạo đế, còn lưu giữ Phật pháp trong tâm thức, do đó tâm thức, sáu căn tám thức của Ngài chưa được hoàn toàn thanh tịnh, vắng lặng. Tuy Ngài A Nan đã được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, do đó Ngài mới chỉ chứng đắc được quả vị đầu tiên, thấp nhất trong tứ thánh quả là quả tu đà hoàn. Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt vào niết bàn thường tịnh, thì các thánh đệ tử của chư Phật đức Thế Tôn, đều là các bậc đắc đạo giác ngộ chân lý giải thoát Tứ diệu đế, có được quả vị A la hán, khoảng 1250 chư vị. Khi đó Ngài A Nan được Ngài Đại Ca Diếp khai thị, chỉ điểm cách đoạn trừ hết những sự vướng mắc về các pháp đạo đế, để thân tâm, sáu căn, tám thức hoàn toàn được thanh tịnh vắng lặng tịnh diệt, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc được quả vị a la hán.

Lần kết tập đầu tiên được thành công viên mãn, tất cả những giáo lý mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ ngộ nhập tri kiến Phật, đã được Ngài thị giả A Nan và khoảng 1250 vị a la hán, là các vị thánh đệ tử của chư Phật đức Thế Tôn. Tất cả những giáo pháp được trùng tuyên lại trước sự có mặt của khoảng 1250 vị thánh đệ tử, khi tất cả cùng đồng ý, nhất chí về những lời trùng tuyên Phật pháp, do Ngài A Nan thuyết pháp, thì được ghi chép lại, tập kết lại thành tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đúng đắn nhất, chân thật nhất, uy tín nhất, để lại cho tứ chúng đệ tử Phật và đại chúng có nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp đời sau, tu hành theo giáo pháp đó, đều được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Khi chúng ta thành đạt chứng đắc được chân lý giải thoát giác ngộ, thì chúng ta chính là chân lý giải thoát giác ngộ, là tri kiến của chư Phật Như Lai, đức Thế Tôn, có đầy đủ trí tuệ bát nhã. Và khi đó chúng ta vì lòng từ bi thương sót bình đẳng vô điều kiện, để chuyển pháp luân Tứ diệu đế, tam chuyển thập nhị hành, chúng ta mô tả lại quá trình giải ngộ, giác ngộ chân lý giải thoát, đưa thân tâm, sáu căn, tám thức đến sự thanh tịnh tịch diệt, mô tả lại quá trình giác ngộ chân lý giải thoát ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, đức Thế Tôn. Đó là những phương pháp giáo lý trong Tứ diệu đế, để nhận thức tâm vô minh, nhận thức năm dục sáu trần, đoạn trừ sự ràng buộc của năm dục sáu trần, bởi những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, phá tan được tâm vô minh. Bằng việc dùng đạo đế, nhận thức về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, để giúp cho tâm thức hiểu thấu và buông bỏ những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm về năm dục sáu trần, đạt được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, giải thoát tâm thức khởi sinh tử luân hồi, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh. Tức là nói tâm thức của đức Thế Tôn là chân lý giải thoát giác ngộ, là tri kiến của chư Phật Như Lai, là cảnh giới niết bàn.

Ngài mô tả lại chân lý giải thoát giác ngộ của Ngài cho mọi người thấy được chân tướng sự thật đó, để giúp ích cho mọi người học tập tu hành theo những điều mô tả đó, thì chắc chắn sự thật sẽ đi đến được sự giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt được vào niết bàn, như chính đức Thế Tôn đã chứng đắc. Tức là đức Thế Tôn lấy thân tâm mình làm mô phạm, làm thân tâm giáo, làm tấm gương từ bi hỷ xả, trí tuệ bát nhã, tấm gương giải thoát giác ngộ chân lý. Tâm thức hoàn toàn thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh, làm tấm gương tốt nhất, chân thật nhất cho mọi người học tập tu hành theo Phật pháp, theo những điều mà Ngài chỉ bảo, thì đều đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh như Ngài. 

Tà tinh tấn trong tục đế được bắt nguồn từ tà tín, mê tín, hiểu sai đi chân tướng sự thật. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có sự hiểu biết không đúng sự thật về sáu trần, là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tạo ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, có sự tham ái về năm dục sáu trần, sinh ra nhân duyên ái nhiễm. Trong đó có tâm thức tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, hiểu biết sai lầm về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan. Từ đó sinh ra những phiền não, khổ đau, khổ đế, do tâm vô minh làm chủ, do năm dục sáu trần làm chủ, chỉ đạo sai khiến tâm thức, ba nghiệp, do đó quả báo xấu tà ác càng kết càng sâu, càng kết càng vướng mắc sâu vào vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác. Khi thân tâm, sáu căn, tám thức chứa đựng nhiều phiền não, tập tính, thói quen, thể hiện trong thực tế đời sống, là ba nghiệp thân, khẩu, ý đều là những hành vi, tạo tác vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, tâm tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, tham sắc dục, ái tình, tham danh vọng địa vị, quyền cao chức trọng, tham ăn nhậu, tham ngủ nghỉ lười biếng, mà thân, khẩu, ý làm các sự việc, hành động trái pháp luật, trái đạo đức, nhân cách con người, trái với giới luật, năm giới cấm, giữ mười giới thiện, vì tâm vô minh tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, là do thân tâm phân biệt vào cái tôi, cái của tôi quá nặng, chấp trước ghen ghét, đố kỵ với những gì mình mong cầu, vọng tưởng, tham vọng quá mức, mà tà tinh tấn làm cho bằng được, làm bằng mọi cách không chân chính, không đúng pháp luật, không đúng giới luật, để được thỏa mãn, hưởng thụ cái ta, cái của ta, thì đó là nhân tố, nguyên nhân tập đế, là nguyên nhân chắc thật, dẫn đến kết quả khổ đau khổ đế, phải chịu quả báo sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều khổ đau.

Tà tinh tấn xuất phát từ tà ác tín, mê tín, từ việc thiếu hiểu biết bị tâm vô minh làm chủ, bị năm dục sáu trần ràng buộc sai khiến, dẫn dắt lôi kéo thân tâm đọa lạc rất nhanh chóng, rất buồn khổ. Người có nhiều tham vọng, sân hận, thù hằn, mê si, say đắm vào năm dục sáu trần, thì là người có nhiều nguyên nhân dẫn đến quả khổ báo, khổ đế càng nhanh, càng nhiều khổ đau thất vọng, bị đọa lạc càng sâu xuống ba cõi xấu tà ác, trong sáu cõi sinh tử luân hồi, chịu nhiều buồn khổ dài lâu. 

4.1.3. Niệm căn trong tục đế

Niệm căn trong tục đế xuất phát từ tín căn và tấn căn. Phần niệm căn cũng được chia làm hai phần: chính niệm căn và tà niệm căn.

Chính niệm căn

Thiện niệm được xuất phát từ chính tín và chính tinh tấn, do đó chính niệm trong tục đế là quá trình thân tâm niệm thiện. Tức là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, luôn luôn hướng tới cái thiện, đúng với đạo lý giải thoát, đúng với giới luật và các chuẩn mực về đạo đức, nhân cách con người, ham thích làm các việc từ thiện, có lợi ích cho con người. Chính niệm là những thân tâm niệm, sáu căn niệm, tám thức niệm, để đi đến sự nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, nhận thức rõ về sự ràng buộc của tâm vô minh, nhận thức rõ được về khổ đế và tập đế, luôn luôn để thân tâm đến việc nhận thức rõ về tâm vô minh, về tục đế, để từng bước đoạn trừ hết sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Để từng bước đi đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi tâm vô minh, đạt được thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào thiền định, sinh trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, thành bậc toàn giác nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Chính niệm trong chân đế là các thiện niệm, niệm Phật, pháp, tăng, hay niệm giác, chính, tịnh. Đây là niệm, là nhớ nghĩ luôn luôn thân tâm hướng về ba ngôi Tam bảo. Tức là luôn giữ niệm cho tâm thân tiếp xúc với Phật, pháp, tăng, hay tiếp xúc với giác, chính, tịnh, sáu căn, tám thức tiếp xúc với giác, chính, tịnh, Phật, pháp, tăng, sẽ sinh ra cảm thọ thanh tịnh, an lạc, tự do, tự tại giải thoát những sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Chúng ta tiếp xúc thân tâm với Tam bảo Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh thường xuyên liên tục, thì phiền não sẽ hết, khổ đế không còn, thân tâm sáu căn, tám thức được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giải thoát giác ngộ chân lý, giải thoát sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, thoát khỏi những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả.

Niệm Phật là niệm giác, là niệm thiện, là sáu căn, tám thức niệm Phật, Đức Thế Tôn thể hiện bằng thân tướng có ba hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, trang nghiêm thanh tịnh, tâm thức là đại từ bi, đại hùng, đại lực. Như vậy chúng ta niệm đức hiệu của Ngài, là sáu căn, tám thức hướng về tâm thân của Ngài, để tưởng nhớ, ghi nhớ những bài học. Những phương pháp mà Ngài chỉ dậy trong tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, như mắt nhìn vào hình tượng của Ngài, tai nghe danh hiệu Ngài, nghe các đệ tử của Ngài trùng tuyên thuyết giảng, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ trong Phật giáo. Mũi là biết thở ra, hít vào, không khí ô xi đều đặn nhẹ nhàng thanh tịnh, miệng niệm danh hiệu Ngài. Niệm Phật, pháp, tăng, hay niệm giác, chính, tịnh, niệm tri kiến Phật Như Lai. Thân niệm là tiếp xúc với môi trường thanh tịnh, thoải mái, an lạc, giữ trang nghiêm, đoan chính bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, có được ba hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, ý niệm là niệm đức tính Như Lai. Niệm giác ngộ chân lý giải thoát, là nhận thức thấy biết được sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, là khổ đế và tập đế, đoạn trừ sự ràng buộc của năm dục sáu trần, để từ đó sáu căn, tám thức được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giải thoát, tịnh viên cảnh trí, tâm thân thanh tịnh, nhập vào thiền định, thiền tuệ, nhất tâm niệm Phật, vô niệm, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Niệm Phật là niệm đức Phật A di đà, niệm mười phương ba đời chư Phật, niệm Đức Thế Tôn, niệm giác, niệm tri kiến Phật, niệm các bậc thánh đệ tử của đức Phật, các bậc thượng thiện tri thức, đã được giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm sáu căn thanh tịnh tịch diệt, chứng đắc đạo quả tứ thánh đế, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Niệm pháp là niệm chính thiện niệm, được sinh ra từ chính tín, chính tinh tấn. Tức là niệm Phật pháp, niệm ba đại tạng kinh, người hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, Phật pháp là mô tả con đường đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, giúp tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng nhập vào dòng tứ thánh quả, đạt đến cứu cánh niết bàn thường tịnh. Như vậy, chúng ta niệm pháp là sự hiểu thấu, nhận thức rõ về Phật pháp, nhận thức rõ về con đường học Phật tu pháp, để đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, của tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, thoát khỏi những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ. Khi được thỏa mãn hưởng thụ hoặc không được hưởng thụ, thỏa mãn những tham đắm về năm dục sáu trần, chứng đắc được pháp Tứ diệu đế, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Chân lý giải thoát giác ngộ là quá trình hiểu thấu Phật pháp, và nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, và bằng ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, bằng pháp Tứ diệu đế, là những lời giải thích giáo huấn của Đức Thế Tôn, bằng những phương pháp tu hành, để đoạn trừ hết sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Bằng cách nhận thức về tính chất của các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan, dựa vào tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, để nhận biết rõ chân tướng sự thật của các pháp, đều là pháp do nhân duyên hòa hợp mà được sinh ra, có hiện hữu và do các nhân duyên tàn hoại, mà bị diệt vong, các pháp là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thân thể của chúng ta là do tứ đại hợp thành, tứ đại nuôi dưỡng, duy trì phát triển. Và khi tứ đại bị phân xã không còn hòa hợp liên kết, thì thân thể chúng ta cũng không còn, chúng ta sống được là nhờ vào thức ăn, nước uống, độ ấm thân nhiệt, không khí ô xi để thở. Khi cơ thể chúng ta già bệnh không còn hấp thụ được thức ăn, nước uống, hít thở không khí ô xi, không còn đủ năng lượng để giữ thân nhiệt, thì thân thể đi đến chỗ tàn hoại, diệt vong biến mất, chúng trở về với nguyên thủy tiếp nối quá trình sinh diệt luân hồi mới.

Các pháp có sinh thì có diệt, theo quy luật sinh lão bệnh tử, quy luật mười hai nhân duyên, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, các pháp không thường còn. Các pháp đều vô ngã, không có chủ thể, các pháp đều nương tựa vào nhau mà có mặt, tức là thân thể của chúng ta, thì chúng ta cũng không làm chủ được nó. Vì nó là sự kết hợp của tứ đại hợp thành, thì nó cũng tuân theo các quy luật về sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không. Chúng ta không thể bắt nó theo ý mình được, chúng ta không thể bắt thân thể sống mãi mà không chết được. Thân thể là thân sinh diệt, thành trụ hoại không, sinh lão bệnh tử, tứ đại hợp thành, thì tứ đại tan dã, thân chết đi trở về với tứ đại đất, nước, gió, lửa, khi thân không còn, thì tâm thức vô minh cũng không còn chỗ để bám trụ, phải đợi thân mới ở cảnh giới mới, tùy theo nghiệp thức vô minh đã tạo ở đời này, nhiều đời trước, tâm vô minh thiện thì được thiện quả, quả thiện ở cảnh giới con người hoặc chư thiên. Còn tâm vô minh xấu tà ác, thì nhân quả báo nghiệp thức ở cảnh giới xấu tà ác, tam ác đạo, thọ nhận thân súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, nhiều phiền não khổ đau, đó là tâm thức tái sinh do tâm vô minh làm chủ, do vướng mắc vào năm dục sáu trần, ràng buộc vào các pháp vô thường sinh diệt, thì bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nối tiếp tương tục dài lâu, chịu nhiều buồn khổ, bị luân hồi chuyển kiếp đi tìm thân mới, ở cảnh giới mới.

Tùy theo nhân duyên nghiệp thức đã tạo mà thức tái sinh sẽ đưa chúng ta đến thế giới mới, cảnh giới mới, trong sáu cõi luân hồi. Nếu tâm thức của chúng ta còn bị vướng mắc trong vòng vô minh, trong năm dục sáu trần, thì sẽ được tâm thức tái sinh đưa đến trong sáu cõi luân hồi để nhận thân mới, đó là thân chư thiên, thân người, thân a tu la, thân súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, tùy thuộc vào nghiệp thức mà nhận thân mới. Nếu tâm thức nhận mình là con người có nhân cách, đạo đức tri kiến hiểu biết của con người, có tu hành năm giới cấm trong sạch hoặc mười giới thiện, thì tâm thức đó sẽ được tái sinh nhận được thân người hoặc thân chư thiên. Hoặc tâm thức không chịu tu hành làm nhiều việc xấu tà ác, mà lại làm các việc trái pháp luật, giới luật, thì bị nhận thân ở các cõi thấp hơn trong ba đường ác, luân hồi chịu nhiều buồn khổ, tâm thân nào thì có quả báo tái sinh được nhận tâm thân ấy, tự làm tự chịu, nhân duyên quả báo là chân thật, thiện nhân thì được thiện quả, ác nhân thì bị quả báo xấu tà ác, nhiều khổ đau.

Các pháp đều là vô tác, vô nguyện, có nghĩa là các pháp đều được tạm thời liên kết hòa hợp với nhau, mà sinh ra, có mặt bằng các sự vật, sự việc, hiện tượng, hình tướng, màu sắc, nhân sinh quan, thế giới quan. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, hay tám ý thức. Còn thực chất các pháp đều là các pháp không, là không có tự tính độc lập đơn lẻ, chúng được tồn tại và hoại diệt đều là do nhân duyên mà sinh và do nhân duyên hết mà bị diệt. Như vậy để nhận thức rõ bản chất thật sự khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, thì chúng ta cần có sáu tuệ căn là tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, có chính tri kiến, có trí tuệ bát nhã, hiểu thấu Phật pháp trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, là những giáo lý mà Đức Thế Tôn, bậc đại giác ngộ chân lý giải thoát, diễn giải, giải thích, mô tả về quá trình giác ngộ chân lý giải thoát của Ngài, để giúp chúng ta có được sự nhận thức chân thật, chính xác về năm dục sáu trần, về tâm vô minh. Từ đó đưa tâm thức đến sự đoạn diệt vô minh, thân tâm, sáu căn tám thức đạt được sự thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt được vào niết bàn thường tịnh.

Khi chúng ta có Phật pháp soi sáng tâm thức, thì sáu căn thông thường tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có sự nhận thức phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về cảnh giới sáu trần, sinh ra những cảm thọ vui buồn, sướng khổ. Tức là sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu nhận thức về sáu trần, là hình ảnh, mầu sắc, phong cảnh đẹp xấu, âm thanh to nhỏ thích, không thích, mùi hương dễ chịu hay khó chịu, thức ăn ngon hay không ngon, nước uống cay, đắng, mặt, ngọt, thân xúc trạm với vải mền thô, quần áo mền đẹp xấu. Ý tiếp xúc với pháp, như những khẩu hiệu, khái niệm, quan điểm, phong tục tập quán, quan niệm truyền thừa từ đời này qua đời khác, từ đời trước để lại, quan điểm sống, lý tưởng sống, có sự phân biệt tốt xấu, thật giả, đúng sai, cổ kim, dựa trên sự cảm tính thói quen, tính cách của mỗi người, quan điểm yêu thích, chán ghét của mỗi người. Từ đó sinh ra sự ái nhiễm, rồi chấp thủ, sở hữu, phân biệt cái này là cái ta, cái của ta, từ đó tâm tưởng bị vướng mắc vào nó, vào năm dục sáu trần, vọng tưởng, giữ gìn yêu thích nó, chán ghét thì muốn vứt bỏ nó. Như vậy là thân tâm hoàn toàn bị ràng buộc vướng mắc, bị kẹt vào những cảm thọ về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh là chủ, dẫn tâm thức tái sinh trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ. Tức là khi chúng ta chưa có sáu tuệ căn, chưa có tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chưa hiểu thấu được tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chưa có trí tuệ bát nhã, để nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về tính chất chân tướng sự thật của các pháp, là khổ bức bách, là vô thường sinh diệt, là vô ngã không có tự chủ, là tính không, không có tự tính riêng biệt độc lập. Các pháp do nhân duyên hòa hợp nương vào nhau, mà được sinh ra, hiện hữu, và cũng do nhân duyên tàn hoại mà bị diệt vong biến mất, không còn hình tướng, tướng tiếp nối, tướng tương tục nối tiếp luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác chịu nhiều khổ đau.

Như vậy tâm thức bị năm dục sáu trần ràng buộc, lôi kéo, dụ dỗ vào, thì tâm thức đó bị sinh tử luân hồi. Còn tâm thức không bị năm dục sáu trần lôi kéo, dụ dỗ, ràng buộc, vướng mắc, thì tâm thức đó được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, được tự do, tự tại, an lạc, thân tâm sáu căn tám thức thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Tâm thức không bị ràng buộc vào năm dục sáu trần, là do sáu tuệ căn khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức. Tuệ thức, tâm thức biết được năm dục sáu trần là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, khổ, do đó không bị nó đánh lừa, dụ dỗ, lôi kéo, không bị vướng mắc vào nó bởi những cảm thọ. Chúng ta biết nó là những giả tướng, chúng có hiện hữu rồi sẽ tan biến, chúng chỉ tạm thời hòa hợp nương tựa vào nhau mà có mặt, chúng là các pháp vô thường sinh diệt, là vô ngã, là tính không. Do đó tâm thức nhận thức được chân tướng sự thật như thế, thì không bị năm dục sáu trần, tâm vô minh mê hoặc, say đắm vào nó nữa, không bị nó chỉ đạo, sai khiến chúng ta, tâm thức của chúng ta hoàn toàn làm chủ được tâm vô minh, làm chủ được những cảm thọ do năm dục sáu trần tạo ra, chúng ta thoát khỏi những cám dỗ, giả tướng, của năm dục sáu trần. Đây chính là sự nhận thức chân thật đúng đắn, là sự nhận thức hiểu thấu Phật pháp, nhận thức rõ tâm vô minh, đoạn trừ tâm vô minh, đoạn trừ sự ràng buộc của năm dục sáu trần, đạt được thân tâm thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý, tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, nhiều buồn khổ, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Niệm pháp là niệm ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đặc biệt là niệm pháp Tứ diệu đế, niệm kinh Phật, niệm giới luật Phật pháp, niệm luận giải Phật pháp, niệm pháp là quá trình thân tâm, sáu căn tám thức học Phật tu pháp, hiểu thấu được chân lý giải thoát, hiểu thấu các phương pháp tu hành trong ba bảy phẩm trợ đạo, mười hai giáo, để giúp chúng ta nhận thức rõ tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh. Bằng việc tự học Phật tu pháp, thân tâm luôn niệm pháp Phật, ghi nhớ và vận dụng những đạo lý, giáo lý, phương pháp tu hành áp dụng vào qua trình tu hành và nhận thức của chúng ta. Nhờ đó sớm đoạn trừ được hết những tà tri, tà kiến, đoạn trừ được hết những sự vật, sự việc, hiện tượng. Các pháp trong thế gian này, trong thế giới loài người, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhận thức tâm vô minh bằng sáu tuệ căn, bằng trí tuệ bát nhã, bằng tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bằng ánh sáng quang minh thường tịnh của chư Phật Như Lai, để phá tan tâm vô minh tăm tối, mê si, đoạn trừ được hết sự ràng buộc của tâm thức vào năm dục sáu trần. Tức là chúng ta học Phật tu pháp, giữ gìn thân tâm niệm Phật, pháp, tăng, niệm kinh, luật, luận, niệm mười hai phần giáo, niệm ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc được đạo quả tứ thánh, nhập diệt được vào niết bàn thường tịnh. Đây cũng là phương pháp tu theo giới, định, tuệ, nhờ vào việc giữ gìn giới luật tinh nghiêm, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức được thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh, thì bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt được vào niết bàn thường tịnh.

Niệm tăng là niệm thanh tịnh thân tâm. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, đều thanh tịnh, không bị năm dục sáu trần ràng buộc, thì được gọi là niệm tăng. Niệm là quá trình ghi nhận vào tâm thức, những hiểu biết mà chúng ta niệm, hướng sáu căn, tám thức, nương tựa về tăng bảo, tăng đoàn, hướng về sự thanh tịnh, tức là sáu căn tám thức của chúng ta thanh tịnh, không bị nhiễm bởi năm dục sáu trần, không bị tâm vô minh ràng buộc, che lấp tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức luôn luôn được thanh tịnh, thì đó chính là kết quả tốt nhất của việc niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng. Do đó niệm tăng bảo, niệm thanh tịnh thân tâm, là niệm bốn chúng đệ tử của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Người nam xuất gia được gọi là tăng, nữ xuất gia được gọi là Ni, nam tại gia được gọi là phật tử nam tại gia, và phật tử nữ tại gia, đều là để tử của đức Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bốn chúng đệ tử Phật, đều là người học Phật tu pháp. Nhưng chư tăng và chư ni có được chính kiến, tư duy, ngữ nghiệp, mạng, tinh tấn, niệm, định, tốt hơn là hai Phật tử nam, nữ tại gia.

Tuy nhiên, ngoài tứ chúng đệ tử Phật, thì còn nhiều người nam nữ trong xã hội, họ chưa có danh phận là đệ tử quy y theo Tam bảo, Phật, pháp, tăng, trên danh nghĩa chưa là đệ tử của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Nhưng họ làm rất nhiều điều tốt đẹp, có lợi ích cho mọi người, lợi ích cho đạo Phật. Họ là những người hộ pháp, là những tín chúng, là người có đạo đức nhân cách, phẩm giá cao thượng, là những bậc thiện tri thức, làm tấm gương tốt cho đại chúng học tập làm theo. Để có được nhân duyên, thiện căn, phước đức vô lượng, về sau có duyên lành với Phật pháp, với pháp Tứ diệu đế, tin tưởng phụng hành, giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Trong thực tế đời sống con người họ, là những người sống có trách nhiệm, nghĩa vụ với gia đình, người thân, xã hội, quốc gia dân tộc, nhân loại, họ làm nhiều việc từ thiện giúp đỡ mọi người, là các bậc thiện tri thức, có nhiều phát minh, sáng kiến khoa học, công nghệ hiện đại, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, cho nhân loại, có được cuộc sống ấn no, hạnh phúc, gia đình thịnh vượng, xã hội an định, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới hòa bình, văn minh, hợp tác cùng có lợi.

Như vậy, niệm tăng là niệm thiện, là làm theo những điều tốt đẹp có lợi ích cho sự giải thoát giác ngộ chân lý, nói rộng ra, thì niệm tăng là niệm tứ chúng đệ tử Phật, niệm các vị thiện tri thức, có đạo đức, có nhân cách tốt, là những người làm đệ tử của đức Phật Như Lai. Họ là người trùng tuyên Phật pháp, là người kết tập, giải thích lý luận, làm sáng tỏ nghĩa lý trong kinh, luật, luận, làm rõ những phương pháp, cách hành trì giới luật, chỉ ra đâu là tâm vô minh, đâu là khổ đế, tập đế, đạo đế, diệt đế trong Tứ diệu đế, để đoạn trừ hết tâm vô minh. Chúng ta nên học tập tu hành, niệm niệm ghi nhớ không quên, đây là diệt đế chúng ta cần hướng tới, để đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Để có được sự nhận thức chân thật về bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo, đưa tâm thức đến sự giải thoát giác ngộ, thì cần có sự hướng dẫn, giải thích, chỉ bảo, chân tình, thật thà, nghiêm chỉnh của tứ chúng đệ tử Phật, cần phải hiểu thấu tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để nhận thức rõ về tâm vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả.

Do đó, niệm tăng, niệm pháp, niệm Phật là niệm giác, chính, tịnh, là sự ghi nhớ luôn luôn trong tâm thức về sự giác ngộ chân lý giải thoát của đức Phật Như Lai, là sự ghi nhớ tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, trong tâm thức là sự ghi nhớ giữ gìn các cảm thọ thanh tịnh, là thân tâm thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, sáu căn tịnh niệm tương tục kế tiếp. Không cho năm dục sáu trần quấy nhiễu, không cho tâm vô minh chi phối, chỉ đạo, ràng buộc tâm thức của chúng ta bằng những cảm thọ, trong tâm thức của chúng ta chỉ có đức tính Như Lai, Phật tính, tri kiến Phật, chỉ có Phật pháp, có chân lý giải thoát giác ngộ, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chỉ có sự thanh tịnh thân tâm, không bị năm dục sáu trần quấy nhiễu, không bị tâm vô minh ràng buộc chi phối, sai khiến tâm thức chúng ta, thì đó chính là niệm tăng, niệm pháp, niệm Phật. Sinh ra định tâm thanh tịnh, tịch diệt, đạt đến cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, chúng ta mới đạt được sự thanh tịnh cuả thân tâm, thì cần phải nhận rõ về tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, thì thân tâm của chúng ta liền được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả.

Nói cách khác, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức bị năm dục sáu trần dụ dỗ, lôi kéo, chỉ đạo, ràng buộc, do có những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, thì đó chính là tâm vô minh, là tâm thức tái sinh đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ. Khi thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, không nhiễm vào năm dục sáu trần, không sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sinh ra sáu thức thanh tịnh, do có tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, biết được các pháp vô thường, vô ngã, tính không, vô tướng, vô tác, vô nguyện, nhận thức được Tứ diệu đế. Từ đó xa rời được những sự dụ dỗ, ràng buộc của năm dục sáu trần, tức là nhận thức được tâm vô minh, đoạn trừ được tâm vô minh, thì tâm thức liền được tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Chính niệm thì đi đến chính định, chính tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, và chính niệm được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, trong bát chính đạo, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức đạt được sự tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Tà niệm hay tà tâm niệm trong phần tục đế, được sinh ra từ tà tín, mê tín, tà tri, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, thì tà niệm là niệm tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, của sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, tám ý thức, các thức nhận thức không đúng với chân tướng sự thật của nó. Do đó có sự phân biệt, vọng tưởng, chấp trước sai lầm về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ thế giới quan, nhân sinh quan này, cho rằng những khái niệm, khẩu hiện, quan điểm, quy định, định kiến trong xã hội loài người, từ trước đến giờ định ra là thường, là có, là vui, là có ngã, có tự tính riêng biệt độc lập, cho đó là đúng với những gì mà sáu căn thông thường hoặc nhờ vào các công cụ phương tiện khoa học, để nhận biết được khi tiếp xúc với sáu trần cảnh, và cho đó là thật có năm dục sáu trần, là cái ta, cái của ta. Có sự cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, sinh ra duyên ái, thủ, hữu, do đó sinh ra các tà niệm, tà định, tà tuệ, ác tri thức, là con đường dẫn tâm thức đến sự luân hồi, là sự thật về khổ đế, do tập đế mà sinh, tâm thức bị tâm vô minh làm chủ sai khiến, chỉ đạo. Tâm thức bị năm dục sáu trần ràng buộc.

Khi thân mạng nay không còn tồn tại, thì tâm thức bị nghiệp thức tái sinh, tâm vô minh lôi kéo đến cảnh giới mới, thế giới mới phù hợp với sự nhận biết của tâm thức vô minh, đúng với sự ràng buộc nặng nhẹ của tâm vô minh, đúng với nhân duyên thiện ác đã tạo. Quả báo tâm thức luân hồi sẽ tương ứng với những nhân duyên thiện ác đó, tâm thức chứa đựng tâm vô minh càng nhiều, tâm có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến, đó là mười kiết sử, tâm thức vô minh vướng mắc vào năm dục sáu trần, thì quả báo kết thành càng sâu dầy to lớn. Nó sinh ra quả khổ đế càng lớn, tâm thức vô minh bị đọa lạc xuống ba đường ác càng sâu, càng nhiều khổ đau buồn chán dài lâu. Như vậy tà niệm, ác niệm là sự ghi nhớ những sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ quan, nhân sinh quan này, chưa đúng với chân tướng sự thật. Do nhận biết bằng sáu căn thông thường mà không phải nhận biết bằng sáu tuệ căn, sáu nhận thức này trái với chân lý giác ngộ giải thoát, thể hiện qua sự tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, trái với đạo đức xã hội, trái với lợi ích của nhân loại. Tức là những biển hiện này, trái với tam tạng kinh điển, kinh, luật, luận, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, trái với chính niệm thiện niệm, thì đó chính là tà niệm, ác niệm. Nó là tâm vô minh dụ dỗ chúng ta bằng năm dục sáu trần, để thân tâm chúng ta bị vướng mắc vào đó, bởi những cảm thọ, làm cho sáu căn, tám thức của chúng ta bị chi phối, bị chỉ đạo, bị tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, bất tịnh, bị dày vò buồn khổ, bị đẩy vào vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Do sự nhận thức không đúng sự thật của tâm thức, do đó có nhiều định kiến sai lầm, cho là năm dục sáu trần là thật có, thường có, là ngã, là ta, là cái của ta, mà không biết tất cả những thứ đó, là chân thật vô thường sinh diệt, các pháp là vô tướng, vô tác, vô nguyện, là các pháp vô ngã, tính không, là không có tự tính. Các pháp đều nương vào nhau mà có mặt, cái này có do cái kia có, cái này diệt do cái kia diệt, theo những quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, đối với tâm thức con người là sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Trong thực tế hiện nay con người nhờ vào nền khoa học kỹ thuật công nghệ vi tính hiện đại, nhờ vào những phát minh lớn trong nhiều lĩnh vực khoa học đời sống, nó giúp ích rất nhiều trong quá trình xây dựng cuộc sống của con người được ấm no, hạnh phúc, xã hội văn minh, an định, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác cùng có lợi. Nhưng những cái đó đều do sự nhận biết của sáu căn thông thường, khi tiếp súc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, được mất, thật giả, đúng sai, yêu thích và chán ghét, cho dù có được những thiết bị công cụ phương tiện hiện đại, hiểu biết về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan. Hiểu biết đến mức độ nào cao nhất đi trăng nữa, thì đó cũng dừng lại trong sự ràng buộc của thân tâm, sáu căn, tám thức đối với năm dục sáu trần, đó vẫn là tâm vô minh làm chủ, đó là nhận thức về thế giới con người, trí tuệ hiểu biết tri kiến của con người, tri kiến này vẫn nằm trong sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào năm dục sáu trần, sáu căn chưa phải là sáu tuệ căn, sáu căn, tám thức chưa đạt được sự thanh tịnh. Do chưa có được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chưa có ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để nhận thức về các quy luật của các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhận duyên sinh, và do nhân duyên diệt, do đó tâm thức không thể được giải thoát khỏi những sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, sáu căn, tám thức chưa được thanh tịnh. Do đó chỉ có con đường học Phật tu pháp, hiểu thấu Phật pháp, có được chính tri, chính kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, để nhận thức rõ tâm vô minh, năm dục sáu trần, để từ đó đoan trừ hết sự ràng buộc của chúng và phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh, đạt được thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịch diệt, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Ngày nay, người đệ tử của đức Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, tu hành theo Tứ diệu đế được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc được quả vị thánh a la hán là điều tốt lành, ít gặp được. Do nhân duyên, thiện căn, phước đức, trí tuệ, căn cơ của chúng ta chưa đủ lớn, chưa đủ phước báu, để gặp được duyên lành, để gặp được bậc thánh a la hán, cũng như các vị thánh đã chứng đắc được tứ thánh quả, tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm và a la hán, là người đã giác ngộ chân lý giải thoát, có được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, có lòng đại từ, đại bi thương sót bình đẳng mọi người, mọi chúng sinh trong lục đạo luân hồi, những chúng sinh đang tạo nhân duyên sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ. Các Ngài mô tả lại chân lý giải thoát giác ngộ đó, bằng sự hành trì các phương pháp tu hành theo ba bảy phẩm trợ đạo, nghe giảng giáo lý trong tam tạng kinh, mười hai giáo, thực hành ba bảy phẩm trợ đạo, để nhận thức rõ được tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, lấy thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý để mô tả chân lý giải thoát giác ngộ, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Các Ngài lấy thân tâm mình làm mô phạm, làm minh chứng cho sự giác ngộ chân lý giải thoát, chân thật, rõ ràng, minh bạch nhất, giúp cho mọi người hiểu thấu được Phật pháp, nhận thức, hiểu thấu những giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, có được sự chính tín, chính tinh tấn, chính niệm, sinh ra chính định và chính tuệ, có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát chân thật. Tức là khi các Ngài chứng được thánh quả a la hán, có được chân lý giải thoát giác ngộ, từ đó chuyển pháp luân Tứ diệu đế, tam chuyển thập nhị hành.

Đức Thế Tôn, đã chuyển pháp luân lần đầu tiên, tại vườn lộc uyển, cho năm anh em Kiếu Trần Như, khi nghe xong bài pháp thoại Tứ diệu đế, chân thật, chính xác, chắc thật về chân tướng của các pháp là khổ, tập, diệt, đạo, là vô thường sinh diệt, và vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, thì năm Ngài đã giác ngộ được chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý trong sạch, thanh tịnh, liền chứng đắc được quả vị a la hán, được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập tri kiến Phật, Đức Thế Tôn, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Chuyển pháp luân Tứ diệu đế là pháp quan trọng bậc nhất, ngày nay có vị nào trong tứ chúng đệ tử Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được chính tín, chính tinh tấn, chính niệm, tu hành theo Phật pháp, hiểu thấu được những giáo lý, đạo lý, phương pháp tu hành trong tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu bốn chân lý Tứ diệu đế, có được sự giác ngộ chân lý giải thoát chân thật, nhận thức rõ được về khổ, tập, diệt, đạo, nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, nhận thức rõ về các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đoạn trừ được hết sự ràng buộc thân tâm với năm dục sáu trần. Từ đó phá tan được tâm vô minh, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, chứng đắc tứ thánh quả. Từ đó có được diệu dụng, đức năng, có lòng từ bi hỷ xả, bình đẳng thương sót mọi người, là tứ chúng đệ tử Phật, là đại chúng, là mọi chúng sinh, mà phát tâm từ bi hỷ xả, chuyển pháp luân Tứ diệu đế, là tam chuyển thập nhị hành, lấy thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý làm mô phạm, làm chuẩn mực đạo đức, trí kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Thể hiện qua việc biểu diễn, diễn đạt trùng tuyên, mô tả, kết tập làm sáng tỏ những giáo lý, đạo lý, chân lý giải thoát giác ngộ trong tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, diễn giải chân lý giác ngộ giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, mà chính mình đã giác ngộ được. Giờ đây chính tâm thức mình, là chân lý giác ngộ giải thoát, để giúp cho tứ chúng đệ tử Phật và đại chúng thỉnh giáo học tập tu hành theo phương pháp đó, để đạo tâm được tăng tiến thiện căn, tăng chính tín, chính tinh tấn, chính niệm, sinh chính định, chính tuệ, để giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý sớm được thanh tịnh, tịch diệt, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc quả vị tứ thánh, tâm thức được giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhiều cảm thọ buồn khổ. 

4.1.4. Định căn trong tục đế

Định căn là định vào pháp môn tu hành, định vào cảnh giới thanh tịnh của Phật pháp, định vào tam bảo, chính Pháp, Phật pháp, và tăng bảo, định vào ba ngôi Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, thể hiện ở công phu hành trì pháp môn, tu hành theo Tứ diệu đế, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để nhận thức rõ tâm vô minh, năm dục sáu trần, đoạt trừ hết những nguyên nhân dẫn đến khổ đau khổ đế, cắt đứt sợi dây ràng buộc của sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Từ đó giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, ngộ nhập tri kiến Phật, Đức Thế Tôn, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Định căn được sinh ra từ tín căn, tấn căn, và niệm căn, hay chính định được sinh ra từ chính tín, chính tinh tấn, chính niệm căn, còn tà định được sinh ra từ tà tín, ác tín, mê tín, tà tinh tấn, tà niệm, ác niệm căn.

Chính định căn, là do tâm thức có được niềm tin chân chính vững chắc, chân thật nơi Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, hay có được sự trải nghiệm suy xét kỹ lưỡng bằng ý chí, có sự thực tập công phu tu hành các pháp môn trợ đạo. Có sự nhận thức sâu sắc về Phật pháp, ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, có được sự thấy biết về bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo, thông qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Có được sự nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, về sự thanh tịnh của thân tâm, từ đó sinh ra niệm tịnh, chính tín vững chắc, có căn bản, có nền tảng, chắc thật. Từ đó thúc đẩy sự tu hành hành trì, có công phu cẩn mật, trải nghiệm chính tinh tấn để phát triển các công đức lành, các nhân duyên thanh tịnh, đoạn trừ hết sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, tâm thức luôn luôn lưu giữ, tâm niệm về cảnh giới thanh tịnh này, để tiếp tục sàng lọc, đoạn trừ hết tất cả sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng của tâm thức, nhờ vào sự giữ gìn chính định căn vào Phật pháp, mô tả chân lý giác ngộ giải thoát, mà giúp cho thân tâm được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giải thoát khỏi tất cả mọi sự phiền não, khổ đau. Đó là những cảm thọ do năm dục sáu trần, do tâm vô minh quấy nhiễu gây ra, chính định căn là cảnh giới thanh tịnh tịch diệt, sinh ra trí tuệ bát nhã thường tịnh tịch diệt niết bàn.

Chính định căn trong tục đế, là định tâm trong hai chân lý khổ đế và tập đế, biết được sự thật chắc chắn về hai chân lý giải thoát khỏi tâm vô minh và đoạn trừ hết tâm vô minh. Tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức hay tám ý thức, hiểu thấu được hai chân lý khổ đế và tập đế, từ đó đoạn trừ hết những nguyên nhân chắc thật sinh ra quả khổ đế là tập đế, là sự đoạn trừ hết những nhân duyên sinh ra các cảm thọ về vui buồn, sướng khổ. Tâm thức được giải thoát khỏi sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, đạt được sự thanh tịnh thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, thì đó chính là chính định thiện căn thanh tịnh, tịch diệt, đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc được tứ thánh quả. Thực tế hiện nay trong tứ chúng đệ tử Phật, có nhiều người đã đạt được chính định tâm, quyết tâm học Phật tu pháp để đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát cuối cùng, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, ngộ nhập tri kiến Phật, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Tuy trong đời sống còn bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc, nhưng với sự hiểu biết Phật pháp, với sự chính tín, chính tinh tấn, chính niệm, chính định của mình với Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, đã đạt được sự chính định tâm thức vào tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, quyết tâm trong một đời này không thoái chuyển, không dừng lại việc học Phật tu pháp, học Phật liên tục nối tiếp không ngừng nghỉ, để sớm nhận thức rõ được tâm vô minh, năm dục sáu trần, đoạn trừ hết những sự ràng buộc của tâm thức với những cảm thọ do năm dục sáu trần tạo ra, phá tan tâm vô minh, nhận chân được các pháp vô thường, vô ngã, tính không, để thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc quả vị tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Tà ác định trong tục đế

Tà ác định được hình thành từ tà ác tín, mê tín, tà ác tinh tấn, tà ác niệm, tức là tà ác định hình thành do sáu căn tiếp súc với sáu trần, tạo ra sáu thức hay tám thức, mười tám giới này, đều bị năm dục sáu trần chi phối, chỉ đạo, làm chủ, điều hành, sai khiến thân tâm, ba nghiệp thân, khẩu, ý làm các việc bất thiện, bất tịnh, bị ràng buộc vào những cảm thọ về sự mong cầu, được hưởng thụ, thỏa mãn, năm dục sáu trần, vì cái ta, cái của ta. Từ đó phát sinh ra tà ác định, ba nghiệp thường làm những việc hại người, lợi mình, làm trái với những quy định của pháp luật, trái đạo đức, nhân cách, con người, trái giới luật trong Phật pháp, tạo tác nhiều nguyên nhân tập đế, để phải chịu quả khổ đế. Do đó thân tâm bị sáu căn tám thức, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện, do đó bị năm dục sáu trần ràng buộc, tâm vô minh nghiệp thức tái sinh lôi kéo tâm thức con người đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường xấu tà ác chịu nhiều buồn khổ.

Tà ác định là do tâm vô minh làm chủ tâm thức, năm dục sáu trần ràng buộc tâm thức, lôi kéo tâm thức tham đắm, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, do tâm thức chứa đựng nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến. Thân tâm có nhiều ham muốn về năm dục sáu trần, để được hưởng thụ, thỏa mãn về cái ta, cái của ta, từ đó sinh ra tà ác định, bất thiện định, tà ác định, không phải là cảnh giới thiền định thanh tịnh của thân tâm, tà ác định là nguyên nhân của tập đế, mà quả báo là khổ đế, tà ác định càng nhiều, càng sâu, càng lớn, thì thân tâm càng nhiều buồn khổ, chịu đọa lạc vào ba đường ác, sinh tử luân hồi trong sáu cõi.

Điển hình là Ngài Đề bà đạt đa lúc đầu cũng là một trong những để tử của Đức Thế Tôn, nhưng trong tâm của Ngài còn chứa tà ác tín, mê tín, tà ác tinh tấn, tà ác niệm, tâm có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến. Tuy Ngài tu hành nhưng do trước đó tâm thức của Ngài có sự kiêu mạng, ghen ghét đố kỵ, tham đắm năm dục sáu trần, tham vinh hoa phú quý, tham địa vị quyền hành trong giáo đoàn, tăng đoàn, tham hưởng thụ, thỏa mãn cái ta, cái của ta, về năm dục sáu trần. Ngài tu hành có được phép thần thông, nhưng không có được chính định, chính tuệ bát nhã, tri kiến Phật, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp chưa thanh tịnh, tâm thức còn có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần. Do đó, Ngài chưa chứng đắc được tứ thánh quả, mà Ngài bị sinh tử luân hồi lôi kéo đi trong sáu cõi luân hồi, ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Tuy nhiên những điều mà Đức Thế Tôn đã giảng giải, giáo huân Ngài, Ngài được nghe Phật pháp do chính Đức Thế Tôn thuyết giảng, thì nó ăn sâu vào trong tận cùng của tâm thức Ngài. Trong a lại gia thức, trong tiềm thức, ký ức của Ngài vẫn còn những đạo lý, giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo và ba bảy phẩm trợ đạo, nó sẽ là hạt giống bồ đề đi cùng với Ngài trong sáu cõi ba đường ác. Cho đến khi gặp được duyên lành, khi Ngài trả hết quả báo xấu tà ác, có được nhân duyên, thiện căn, phước đức gặp được minh sư, thiện tri thức, gặp được giáo lý, là chân lý giác ngộ giải thoát, thì Ngài liền lĩnh hội, y giáo phụng hành theo, thì liền được quả báo diệt đế, khi thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, ngộ nhập được vào tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, được chứng đắc đạo quả tứ thánh đế, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

4.1.5. Tuệ căn trong tục đế

Tuệ căn trong tục đế được chia làm hai phần chính thiện tuệ và tà ác tuệ hay gọi là chính thiện tri thức và tà ác tri thức. Nói cách khác thì chính thiện tri thức là người có thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, nhận thức rõ được tâm vô minh, đoạn trừ được tâm vô minh, không bị năm dục sáu trần ràng buộc. Còn tà ác tri thức là thân tâm, sáu căn tám thức bị tâm vô minh làm chủ, bị năm dục sáu trần ràng buộc, không nhận thức đúng về tâm vô minh, về các quy luật, về chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, thể hiện bằng đời sống bất thiện, bất tịnh, ba nghiệp làm nhiều việc trái với pháp luật, trái với giới luật, trái với đạo đức, nhân cách con người, trái với chân lý giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi, trái với những lời dạy bảo, giáo huấn, mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, trong tâm có nhiều sự tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng về những sự hưởng thụ thỏa mãn do năm dục sáu trần mang lại. Đó là những nguyên nhân, tập tính, thói quen xấu tà ác của con người có tâm tà ác tuệ, và cũng là những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả báo khổ đế, chịu sự sinh tử luân hồi, đọa lạc trong sáu cõi ba đường ác.

Chính thiện tuệ trong tục đế, được sinh ra từ chính tín, chính tinh tấn, chính niệm, chính định. Chính thiện tuệ, chính là sự nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, về Tứ diệu đế, hiểu thấu về Phật pháp trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu con đường đi đến giải thoát giác ngộ chân lý, đưa tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, bằng sáu tuệ căn thanh tịnh, không bị nhiễm bởi năm dục sáu trần, tâm vô minh. Tức là hiểu rõ về các quy luật sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường, vô ngã, tính không. Từ đó giúp cho tâm thức không tham đắm, bám chấp vào những pháp này, tức là đã hiểu rõ tâm vô minh, không bị năm dục sáu trần ràng buộc dụ dỗ, tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, nhập vào chính định, thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy, chính tuệ là sự hiểu biết chắc thật về bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo, tâm định vào pháp môn tu hành, định vào con đường đi tìm chân lý giác ngộ giải thoát, định vào tri kiến Phật để nhận thức rõ tâm vô minh, năm dục sáu trần, từ sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, tám thức. Mà từ những nhận thức này, sinh ra chính tuệ, chính tuệ này chưa phải là do tu hành tâm thức đạt đến cảnh giới nhập được vào thiền định, thiền tuệ, trí tuệ bát nhã chân thật. Do đó, chính tuệ trong phần tục đế, vẫn còn bị kìm hãm trong vòng tâm vô minh, bị ràng buộc trong năm dục sáu trần, chưa đoạn trừ được hết tâm vô minh. Năm dục sáu trần còn vướng mắc, thân tâm, sáu căn tám thức chưa hoàn toàn được thanh tịnh, chưa giác ngộ hết chân lý giải thoát, chưa thoát khỏi sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Trong thức tế hiện nay bốn chúng đệ tử Phật mới chỉ có chính tuệ, chính thiện tri thức trong vòng tục đế, còn chính tuệ trong vòng chân đế, chứng đắc được tứ thánh quả, a la hán là rất ít, hiếm khi gặp được. Thật là hi hữu chân quý, khi một người nào chứng đắc được quả vị a la hán, thì cần phải nhận thức rõ tâm vô minh, năm dục sáu trần, đoạn diệt tâm vô minh, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần, bằng sáu tuệ căn, không để cho nó lôi kéo tâm thức của chúng ta. Chúng ta cần tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, chứng được tứ thánh quả, nhập vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Đại chúng ngày nay, ngoài tứ chúng đệ tử Phật đang học Phật tu pháp, đang đi tìm chân lý giải thoát giác ngộ, để được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, thì đa số đại chúng hiện nay chưa có nhiều nhân duyên, thiện căn, phúc đức với Phật pháp, chưa tiếp cận nghiên cứu, tìm hiểu nhiều về Phật pháp. Trong xã hội ngày nay, có sự thuận lợi cho việc tuyên truyền Phật pháp, do được hưởng nhiều phương tiện truyền thông đa phương tiện, kết nối toàn cầu, tiện lợi cho mọi người truy cập mạng internet. Có được nhiều thông tin về Phật pháp, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, do nhiều vị pháp sư, thiền sư, hòa thượng, thượng tọa, đại đức, giảng sự, các bậc thiện tri thức, trong tứ chúng đệ tử Phật, tại gia và xuất gia, cũng như giới thiện trí thức, là hộ pháp, hiền hộ cho sự phát triển Phật pháp, giúp ích cho mọi người có được nhân duyên lành, được tiếp cận học Phật, tu pháp được nhiều lợi lạc, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, đạt đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Tuy đại chúng hiện nay cũng như trong tứ chúng đệ tử Phật, có được sự thuận lợi trong việc học Phật tu pháp, nhưng do nhân duyên, thiện căn, phước đức chưa đủ, cho nên họ mới chỉ tiếp cận Phật pháp ở mức độ học hiểu, ghi nhớ, nhận thức về Phật pháp, hiểu thấu được tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nhận thức rõ về Tứ diệu đế, năm dục sáu trần, tâm vô minh. Nhưng mới dừng lại ở sự nhận thức hiểu đúng chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt.

Các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tích không, mà thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp chưa được thanh tịnh, là do chúng ta chưa thật sự tu hành các phương pháp, các pháp môn, để đoạn trừ hết sự ràng buộc của năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật của các pháp, cho nên tâm thức chúng ta mới chỉ kết duyên lành với Phật pháp, mà chưa có được những lợi ích chắc thật, về sự giải thoát giác ngộ chân lý, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, tâm thức đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. Khi đó chúng ta biết được thân thể ngũ uẩn, do bốn đại lượng đất, nước, gió, lửa, mà hợp thành, nuôi dưỡng và phát triển tồn tại, hiện hữu. Còn khi các duyên đó không cung cấp đủ, không còn hoặc thân thể của chúng ta không tiếp nhận hấp thụ được những nhân duyên đó, không tiêu hóa được thức ăn, nước uống, hít thở không khí ô xi, không giữ được thân nhiệt, thì thân thể của chúng ta liền bị chết, diệt vong, bị phân hủy. Nó trở lại về với nguyên thủy tứ đại đất, nước, gió, lửa, và được tiếp tục các quy trình sinh diệt tiếp nối, còn chân tâm không bị sinh diệt. Chỉ có tâm thức vô minh bị sinh diệt, tùy theo nghiệp báo thiện ác, mà được tái sinh do tâm thức tái sinh dẫn đường, nhận thức về thiện ác, mà đi đầu thai, chuyển thế, nhận thân tâm mới ở kiếp kế tiếp, tùy theo nhân quả của nghiệp thiện ác đã tạo trong đời này của ba nghiệp thân, khẩu, ý, mà đi tái sinh ở cảnh giới có tâm thức vô minh, thân thể tướng ứng.

Tâm thức nghiệp báo tái sinh vào thế giới nào, trong sáu cõi ba đường ác, thì tâm thức nhận thân mới, tâm thức tái sinh mới là cái ta, cái của ta, trí kiến hiểu biết này là ta, là cái của ta, thân cũ, tâm thức tái sinh cũ, tri kiến hiểu biết cũ ở kiếp trước không còn nhớ nữa,  tuy nhiên trong a lại gia thức. Trong tiềm thức ký ức còn lưu lại những tri kiến, hiểu biết, những tập tính, thói quen thiện ác, những nhân duyên, thiện căn, phước đức và những nhân duyên xấu tà ác, những sự tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, những sự phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, tham đắm vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, thì vẫn còn được duy trì lưu lại đến nhiều đời sau, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Do đó, con người bị tâm vô minh làm chủ thân tâm, năm dục sáu trần ràng buộc tâm thức, thân thể trong những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu nhận thức, tám ý thức, đều hướng về sự hưởng thụ thỏa mãn về cái ta, cái của ta, tâm thức có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, tham đắm vào các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, tham đắm vào những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, bị kẹt trong những nguyên nhân dẫn tâm thức bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều khổ đau. Như vậy, cho dù bạn là ai, là tứ chúng đệ tử Phật, là giáo sư tiến sỹ, nhà khoa học, nhà kinh tế, văn hoá, chính trị, nhiều lĩnh vực ngành nghề, là người thuộc nhiều tổ chức xã hội, vùng miền, quốc gia dân tộc, nhân loại trên toàn thế giới, đang theo một trường phái tôn giáo, học thuyết, triết học, hoặc hiện nay chưa theo một tổ chức nào, đều được bình đẳng phát tâm học Phật tu pháp, hiểu thấu được tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu pháp Tứ diệu đế, biết được bốn sự thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, để nhận thức rõ được tâm vô minh, hiểu rõ về bản chất của năm dục sáu trần. Từ đó biết được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn và các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, để từ đó đoạn diệt được hết những sự vướng mắc, ràng buộc tâm thức vào những cảm thọ, do năm dục sáu trần sinh ra, phá tan được màn đêm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý, được thanh tịnh vắng lặng, được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức nhập diệt vào cảnh giới trạng thái tịnh diệt niết bàn thường tịnh.

Con người thông thường chưa tu học Phật pháp, người có tâm vô minh, thì thường mắc phải những nguyên nhân tập đế, nguyên nhân dẫn đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Do trong tâm thức có định kiến phân biệt, vọng tưởng, chấp trước vào năm dục sáu trần, đó là các tư duy, suy nghĩ, lời nói, việc làm của chúng ta, những quan niệm xã hội về nhân sinh quan, là một người từ lúc sinh ra, lớn lên thì được đi học, tốt nghiệp có bằng cấp, có công việc tốt trong các tổ chức, có cơ quan phát triển vững chắc, công việc ổn định, có sự nghiệp tốt, có vợ chồng, con cái ấm no, hạnh phúc, có gia tài sự sản, có được sự thừa hưởng thỏa mãn về năm dục sáu trần, tài, sắc, danh, thực, thùy, có được đời sống đầy đủ về vật chất và tinh thần sung mãn. Tuy nhiên tất cả những thứ mà chúng ta có được đó, đều là các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Chúng đều là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Chúng có hiện hữu, rồi chúng sẽ biến mất, khi tâm thức của chúng ta bám chấp vào nó, trụ vào nó, có cảm thọ vui buồn, sướng khổ về nó, thì bị nó lôi kéo tâm thức của chúng ta đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, còn chúng ta không bám trấp vào nó, thì thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý liền được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Những điều mà chúng ta thường mắc phải trong đời sống con người, là do định kiến phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào năm dục sáu trần, mắc vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ. Trong quá trình tiếp xúc sáu căn với sáu trần tạo ra sáu nhận thức, điều đó được thể hiện qua ba nghiệp thân, khẩu, ý, là những suy nghĩ, lời nói, việc làm của chúng ta, những quan niệm trong xã hội về nhân sinh quan, về đời sống bình thường của một con người. Là quá trình được sinh ra, rồi được lớn lên nhờ vào thức ăn, nước uống, không khí ô xi, nhiệt độ thân nhiệt, có sự chăm sóc của cha mẹ, người thân, được đi học, được sự giáo dục dạy bảo của cha mẹ, thầy cô giáo, bạn đồng học, thông qua nhiều phương tiện giảng dậy trực tiếp và gián tiếp, hoặc thông qua hệ thống truyền thông đa phương tiện, internet kết nối toàn cầu. Là người có bằng cấp kiến thức hiểu biết trong xã hội, có công việc tốt ổn định ở các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp vững chắc, có gia đình vợ chồng con cháu, có gia tài sự sản, có năm dục tài, sắc, danh, thực, thùy, có được cuộc sống giàu có, sung sướng về vật chất và hạnh phúc, vui vẻ về tinh thần. Thân tâm luôn có ham muốn chạy theo sự hưởng thụ, thỏa mãn năm dục sáu trần, tìm kiếm những cảm thọ vui sướng về cái tôi và cái của tôi, sinh ra những duyên tham đắm thân tâm vào ái, thủ, hữu, vì thế tâm thức bị ràng buộc vướng mắc, bị kẹt vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ của năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, che lấp chân tướng sự thật về các pháp, cho nên nghiệp thức tái sinh lôi kéo tâm thức vào sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ.

Tâm thức của người giác ngộ chân lý giải thoát thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc được quả vị tứ thánh đế, bước vào cảnh giới tứ thánh quả, a la hán. Tâm thức không bị phụ thuộc vào xuất thân, trước khi người đó giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, không phụ vào tài, sắc, danh, thực, thùy. Không phụ thuộc vào sáu trần, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không phụ thuộc vào sáu thức, tám thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạc đa thức, a lại gia thức. Tức là tâm giác ngộ chứng đắc tứ thánh quả, không phụ thuộc vào thân thể của người đó, là con trai hay con gái, giới tính nam nữ, không phụ thuộc vào giai cấp của người đó là giai cấp nào, giầu hay nghèo, sang hay hèn, hạ lưu, trung lưu, thượng lưu, có địa vị xã hội hay không có địa vị xã hội, là thiện tri thức hay ác tri thức, là người có học hoặc vô học, thất học, là giáo sư tiến sĩ, bác học, nhà khoa học, có học hàm, học vị hay không có học hàm, học vị. Hay là người ít học, ít chữ, không bằng cấp, là người già hay người trẻ, là người trong tứ chúng đệ tử Phật. Hay là đại chúng trong xã hội, là người nông dân, công nhân, người lao động phổ thông hoặc trí thức, là người quản lý trong các tổ chức xã hội, hoặc là người sống ở những vùng quê, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, hoặc là người sống ở thành thị, đô thành lớn đông dân cư. Là người ở bất cứ tổ chức cá nhân nào, thuộc các tôn giáo, học thuyết, triết học, thuộc nhiều quốc gia dân tộc, nhân loại trên thế giới, thì tất cả đều không chi phối, không có phụ thuộc gì vào những điều đó, cho đến tâm thức tri kiến của người đó trước khi giác ngộ chân lý giải thoát là tâm thức gì, có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến như thế nào, thì cũng không phụ thuộc, không ảnh hưởng đến thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả.

Tất cả mọi người đều được bình đẳng học Phật tu hành Phật pháp, được chân thành thương sót, kính trọng, giúp đỡ bình đẳng học tập Phật pháp, sớm nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, biết được chân tướng của các pháp, là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Qua việc tiếp xúc nghiên cứu, nghe giảng tiếp nhận nền giáo học Phật đà, được ghi chép trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp sớm đạt được sự thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý, được giải thoát tâm thức khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc được đạo quả tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Tức là tâm thức chứng đắc tứ thánh quả, là bậc thánh thoát khỏi sinh tử luân hồi, đã hiểu biết được các pháp là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, đã nhận thức rõ về năm dục sáu trần, tâm vô minh là nguyên nhân dẫn tâm thức đến khổ đau sinh tử luân hồi, do đó tâm thức liền xa rời buông bỏ những nguyên nhân đó, giúp cho tâm thức hoàn toàn được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, nhập vào tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Như vậy con đường đưa tâm thức đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả, là nương nhờ vào tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đặc biệt là pháp Tứ diệu đế, để phá những kiến chấp, phá tan định kiến, phá tan đi những hiểu biết sai lầm, về chân tướng sự thật của các pháp, phá tan những tập tính thói quen xấu tà ác, của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Từ đó sửa chữa thay đổi những hành vi tạo tác tà ác nghiệp, như vi phạm pháp luật, giới luật, phá tan đoạn trừ hết những nguyên nhân tập đế dẫn đến khổ đau khổ đế. Sửa chữa, thay đổi phá tan những tri kiến của chúng ta đã có trước, do bị năm dục sáu trần ràng buộc, bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật mà sinh ra tri kiến, hiểu biết của chúng ta, trong đó chứa đựng nhiều hiểu biết sai lầm, không đúng sự thật về chân tướng của các pháp. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm của thân tâm vào những sự hưởng thụ, thỏa mãn về những cảm thọ, về vui sướng do năm dục sáu trần mang lại, cho cái tôi, cái của tôi và do tâm vô minh che lấp trí tuệ Phật. Cho nên khi thân tâm, sáu căn của chúng ta tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra nhiều trạng thái tâm thức do những cảm thọ về năm dục sáu trần. Do đó Phật pháp giúp cho chúng ta loại bỏ được tất cả những tâm thức là vọng tâm, vọng niệm, là những nguyên nhân làm cho tâm thức bất tịnh, bất thiện, chỉ giữ lại, lưu lại tâm ý, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi những nguyên nhân ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, đạt được sự giải thoát, tâm thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được luôn luôn thanh tịnh, chứng đắc được tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy, Phật pháp là pháp phương tiện, chân thật, quý báu, chắc thật để giúp cho tâm thức của chúng ta nhận rõ tâm vô minh, rõ năm dục sáu trần, là phương pháp hữu hiệu để đoạn trừ tâm vô minh, thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, thoát khỏi những cảm thọ về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều khổ đau, chứng nhập tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Tà ác tuệ là tà ác tri thức trong tục đế, được bắt nguồn hình thành từ sự tà tín, mê tín, không hiểu đúng chân tướng sự thật. Từ đó dẫn đến tà tinh tấn, làm ra những việc của thân, khẩu, ý nghiệp trái với chân lý giải thoát giác ngộ, sai trái so với những điều giáo lý, đạo lý, phương pháp mà đức Phật Thế Tôn đã chỉ dạy, giáo huấn trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, ba nghiệp làm trái pháp luật, trái giới luật. Trong tâm thức toàn là những tà niệm, ác niệm. Thân tâm chạy theo những ham muốn hưởng thụ về năm dục sáu trần, để được thỏa mãn về cái ta, cái của ta, ái, thủ, hữu nó, ràng buộc tâm thức trong những cảm thọ, trong năm dục sáu trần. Tâm có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, tà ác niệm càng nhiều trong khoảng thời gian càng dài, thì sinh ra tà ác định, định kiến, thói quen, tập tính xấu tà ác nhiều, lôi kéo thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác làm ra những sự việc hại người, hại mình, nhằm đạt được những thứ mà mình yêu thích. Có được cảm thọ về vui sướng, để thỏa mãn cái ta, cái của ta, từ đó bất chấp mọi thủ đoạn, tiểu sảo, âm mưu đen tối độc ác, lừa đảo mọi người, nhằm chiếm đoạt sở hữu bất chính để hưởng thụ riêng cho bản thân mình, và cái của mình. Điều đó chính là tà tuệ, tà ác tri thức, điều này cũng dẫn dắt người có tà tuệ, ác tri thức đến thọ quả báo khổ đế, do đã tạo ra những nguyên nhân tạo ra đau khổ, do tập đế mà nó sinh ra.

Nhân nào quả đấy, tà ác tri thức thì gặp quả báo tà ác, còn chính thiện tri thức, thì được gặp quả báo chính thiện. Tuy nhiên cho dù là thiện tri thức trong vòng tục đế, thì vẫn chịu cảnh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhưng được hưởng phước báo nhân thiên, kiếp sau được làm thân người, thân chư thiên, để hưởng phước, nếu chúng ta hưởng hết phước mà không tạo thêm, thì phước đó hết rất nhanh, khi phước báo hết thì tâm thức liền bị đọa lạc vào ba đường ác nhiều buồn khổ. Tà ác tuệ, ác trí thức được sinh ra từ sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, bằng sáu căn thông thường. Cho dù có sự trợ giúp của các công cụ thiết bị, phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, thì sự nhận biết quan sát, thấy biết đó, chỉ là nhìn bề ngoài, phần thô, bằng trực diện của các giác quan đối với các sự việc, sự vật, hiện tượng trong vũ trụ thế giới nhân sinh quan này, thấy biết đúng sự thật. Như những gì sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức về nó, mà chưa có sự suy luật về nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân hình thành lên nó, tại sao nó đang được tồn tại, khi nào thì nó bị tàn hoại, hư hỏng, và khi nào thì chúng bị diệt vong, theo các quy luật về các vật chất, khoáng chất, thực vật, là sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Còn đối với thân thể con người thì là sinh lão bệnh tử, tâm thức bám vào thân thể, thì cũng bị sinh diệt sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Xem xét nghiên cứu về các pháp đó, những sự vật, sự việc, hiện tượng đó, bản chất thật sự là gì, nó là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, là đúng chân tướng sự thật mà Đức Thế Tôn, khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát có được trí tuệ bát nhã, tri kiến Phật mới nhận ra sự thật đó, một cách rõ ràng, chắc thật về chân tướng sự thật của các pháp. Đó là do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt. Các pháp chân thật là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, còn ngược lại thì đó là sự thấy biết sai lầm, dẫn đến sự vướng mắc của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ thân tâm, che lấp chân tướng sự thật về các pháp. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm của thân tâm vào những sự hưởng thụ, thỏa mãn cái ta, cái của ta, do tác động của những cảm thọ yêu thích, vui sướng, buồn khổ và chán ghét, cho nên nó làm cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp phụ thuộc vào nó, vui buồn sướng khổ vì nó, nó là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Khi chúng ta bám chấp vào nó, bị kẹt trong những pháp đó, thì cũng bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều thiệt thòi khổ đau.

4.2. Ngũ căn trong phần chân đế, đạo đế và diệt đế

  Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, ở đây thuần khiết các căn là tuệ căn, cho nên ở trong chân đế không còn có mặt của những tà ác căn, không còn sự mê tín, tham vọng hưởng thụ những cảm thọ về năm dục sáu trần, không bị tâm vô minh làm chủ chi phối. Tâm vô minh đã bị tri kiến Phật đoạn trừ, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của các pháp, không còn sự có mặt của tà ác tinh tấn căn, tà ác niệm, tà ác định, tà ác tuệ, ác tri thức. Không còn tà ác định, mọi định kiến, những hiểu biết sai lầm về chân tướng sự thật của các pháp, của những sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ thế giới nhân sinh quan này, đã được làm sáng tỏ. Nhờ vào ánh sáng quang minh của Phật pháp, đạo đế, của tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, cho nên đã nhận thức rõ bản chất của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, do đó giúp cho tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Trong tâm thức không còn tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, không còn sự phân biệt, vọng tưởng, chấp trước vào các pháp vô thường sinh diệt, nhận thức rõ về Tứ diệu đế, từng bước đoạn trừ hết tâm vô minh, xa rời sự ràng buộc của năm dục sáu trần, không bị những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, do năm dục sáu trần gây ra. Từ đó giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Tín căn vững chắc chân thật tin tưởng vào đạo đế, tin tưởng vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, cho dù chúng ta tu hành theo bất cứ một pháp môn, một tông phái nào trong Phật pháp, như tịnh độ tông, thiền tông, mật tông, giáo học pháp tạng và nhiều tông phái khác trong bốn vạn tám nghìn pháp môn, thì chúng ta đều phải tin tưởng vững chắc, nương tựa chọn vẹn hoàn toàn vào Đức Phật Bản Sư Thích Ca Mô Ni, cũng như tin tưởng tuyệt đối vào mười phương ba đời chư Phật Như lai, tin tưởng vào đức Phật A di đà, thế giới Tây phương cực lạc đã được đức Thế Tôn giới thiệu, với bốn tám đại nguyện của đức Phật A di đà, đã được thuyết giáo trong tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, tin tưởng vào các bậc bồ tát, duyên giác, thanh văn, các bậc thánh đệ tử Phật, các bậc tổ sư, tôn túc hòa thượng, pháp sư, là minh sư nhiều đời nối chuyền từ thời đức Phật Thế Tôn cho đến thời nay. Chúng ta tin tưởng y giáo phụng hành, theo giáo pháp Phật pháp tu hành, thì mới nhận thức rõ được bản chất tâm vô minh, của năm dục sáu trần, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó tâm thức được giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của chúng, thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, trong tâm thức không còn tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, không còn sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào các pháp, nhận thức rõ được đạo lý trong pháp Tứ diệu đế. Từng bước đoạn trừ được hết tâm vô minh, xa rời sự ràng buộc, dụ dỗ của năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức được thanh tịnh. Khi sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức đều là thanh tịnh, cảm thọ thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được bốn chân lý giải thoát trong pháp Tứ diệu đế, không bị những sự chi phối bởi những pháp vô thường sinh diệt, của những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét của thân tâm, do năm dục sáu trần sinh ra, sáu căn tám thức ở đây đều được thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí.

Tín căn vững chắc, chân thật tin tưởng vào đạo đế, tin tưởng vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, là nhân tố quyết định đưa tâm thức đến sự thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc quả diệt đế, chứng đắc tứ thánh quả. Từ sự tin tưởng có trải nghiệm bằng ý trí hiểu biết, có công phu tu hành, có sự thấy biết chân thật về đạo đế, là chân lý chắc thật đưa tâm thức đến sự giác ngộ giải thoát, giúp tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả. Giúp đỡ thúc đẩy tinh tấn căn hoạt động mạnh mẽ, dũng mãnh, đưa tâm thức đến sự chánh niệm, tỉnh thức sáng suốt, luôn luôn có được sự thanh tịnh, tinh tấn, tin tưởng vững chắc vào thành quả đã, đang và sẽ đạt được trong quá khứ, hiện tại và tương lai gần. Đó là sự giác ngộ chân lý giải thoát chính xác, chứng đắc tứ thánh quả thông qua sự thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh. Tức là tín căn có được nhờ sự thấy biết chân thật về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan, thông qua sự tiếp xúc của sáu tuệ căn với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, là sự nhận thức của các ý thức, tâm niệm về Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh. Để tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, luôn giữ gìn sự thanh tịnh của thân tâm, giúp cho tâm thức được định tâm, thiền định, thiền tuệ, phát sinh trí tuệ, bát nhã, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

5. Ngũ lực     

Ngũ lực bao gồm, tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Ngũ lực được hình thành từ ngũ căn, đó là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Như vậy trong phần ngũ căn đã được chia ra làm hai phần, để nhận thức về ngũ căn trong tục đế và chân đế. Ngũ căn có chính, có tà, thì ngũ lực cũng có chính, có tà, có thiện, có ác.

Ngũ lực là kết quả, là quả báo, là lực lượng được sinh ra từ nhân, là sự nhận biết của ngũ căn, thông qua sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức. Nếu sáu căn là sáu tuệ căn, thì sáu thức là sáu tuệ thức, tám tuệ thức, tám ý thức hiểu đúng chắc thật về chân lý giác ngộ giải thoát. Nhận thức đúng về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, từ đó đoạn diệt tâm vô minh, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần, thân tâm, được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, thì đó chính là năm chính thiện lực. Ngược lại với năm chính thiện lực là năm tà ác lực. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, bị tâm vô minh làm chủ, năm dục sáu trần ràng buộc tâm thức không nhận thức được về các quy luật, các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thì tâm thức sẽ bị chìm đắm trong tâm vô minh, tham vọng vào năm dục sáu trần, không thể thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ, thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện, đây là năm tà ác căn, sinh ra năm tà ác lực. Do đó, ngũ căn là nhân và ngũ lực là quả, tùy theo nhân ngũ căn là chính thiện căn, hay tà ác căn, thì dẫn đến quả chính thiện lực hay tà ác lực. Quy luật này nằm trong tục đế, ngũ căn thiện ác là nhân tập đế, còn ngũ lực thiện ác là quả khổ đế trong tục đế, còn ngũ căn trong chân đế, là nhân đạo đế còn ngũ lực là diệt đế. Ngũ lực trong chân đế chính là diệt đế, là kết quả của sự tin tưởng, tinh tấn tu hành, có hành trì tâm niệm Phật pháp, giữ chính niệm, tỉnh thức, sinh chính định, chính tuệ, thiền định càng sâu, càng vững chắc, thì trí tuệ bát nhã có được càng lớn, chứng đắc được đạo quả càng cao, có được quả a la hán, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy chính thiện ngũ lực thì giúp cho tâm thức, sáu căn tám thức đến sự thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Còn tà ác ngũ lực làm cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý, bất tịnh, bất thiện, có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào những cảm thọ của năm dục sáu trần. Tâm thức ngộ nhận, bám chấp vào những thứ vật chất, khoáng vật, thực vật, chúng sinh trong sáu cõi ba đường ác, vướng mắc, bị kẹt vào những pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, bám vào các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Do đó những thứ vô thường sinh diệt đó, đã dẫn tâm thức vô minh đến sự đọa lạc xuống ba đường ác, trong sáu cõi sinh tử luân hồi, chịu nhiều buồn khổ. Chúng ta cần phải nhận thức rõ tâm vô minh, năm dục sáu trần, hiểu thấu được Phật pháp, đoạn trừ hết tâm vô minh, thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, tâm thức cần trụ vào cái vô trụ, trụ vào cái tính không, trụ vào cái vô ngã, không trụ vào các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Không trụ vào các pháp vô thường sinh diệt, không trụ vào bất cứ sự vật, sự việc, hiện tượng nào trong vũ trụ thế giới nhân sinh quan này. Không có nhận thức về sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm về năm dục sáu trần, do những cảm thọ tác động đến ba nghiệp thân, khẩu, ý, không bị những tri kiến hiểu biết của con người, của chúng sinh trong sáu cõi ba đường ác, chi phối, làm chủ. Chúng ta cần nhận thức rõ về nó, cần phải giải thoát tri kiến khỏi tất cả những tri kiến hiểu biết, vướng mắc của tâm thức, ý thức hiểu biết trí tuệ nhận thức định kiến, những tri kiến của con người đó, thường có tình chấp, có điều kiện của con người và của các chúng sinh trong sáu cõi ba đường ác nhiều tâm vô minh, không hiểu rõ được về tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.

Do đó chúng ta cần tu hành đoạn diệt hết những tri kiến hiểu biết định kiến là tà tri, tà kiến, là những tập tính thói quen, phụ thuộc vào những cảm thọ, do quá trình tiếp xúc của thân tâm với năm dục sáu trần, tạo ra những nhận thức là tri kiến, định kiến, tà tri, tà kiến, là những hiểu biết sai lầm về chân tướng sự thật của các pháp, của vạn vật, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, giúp cho ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, hiểu rõ về chân tướng sự thật về các pháp, chứng ngộ được sự thật về các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chứng ngộ được bốn chân lý về khổ, tập, diệt, đạo, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy ngũ lực chính là nghiệp lực của tâm thức do sự tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, thể hiện qua sự tương tác, tiếp xúc giữa sáu căn, sáu trần, sáu thức. Những tương tác tiếp xúc hành động đó là hợp với chân chính thiện pháp, hợp với chân tướng sự thật của các pháp, hợp theo chân lý giải thoát giác ngộ, giác ngộ tri kiến Phật, hợp với tam tạng kinh điểm, kinh, luật, luân, mười hai phần giáo là, trường hàm, trùng tụng, tinh cô khởi, thí dụ, nhân duyên, lữ tự thuyết, bản sinh, bản sự, vị tàng hữu, phương quản, luận nghị, cập ký biệt, ba bảy phẩm trợ đạo, thì nghiệp lực đó chính là nghiệp lực chính thiện, là nguyên nhân hình thành lên quả chính thiện trong tục đế, là nhân hủ lậu, phước báu nhân thiên, thì nghiệp lực sẽ dẫn dắt tâm thức đến cảnh giới cõi trời, cõi người, làm nhân thiên hưởng phước báu. Và cũng là thọ nhận thân người, thân chư thiên, để trả nghiệp nhân đã tạo tác ra từ trước.

Còn nghiệp lực là nghiệp lực xấu tà ác, do tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, dẫn đến thân tâm bất tịnh, bất thiện, nó được biểu hiện qua những tạo tác hành động của ba nghiệp thân, khẩu, ý, do tâm có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, do có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm của thân tâm vào những cảm giác, cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Từ đó làm ra các sự vật, sự việc, hiện tượng có hại cho mọi người, cho chúng sinh, hủy hoại môi trường sống, như vi phạm những quy định, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, tạo tác các việc trái với lương tâm đạo đức, nhân cách, con người. Tức là thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện, do tâm vô minh làm chủ, năm dục sáu trần ràng buộc, thì nghiệp lực xấu tà ác này, sẽ dẫn dắt tâm thức đi đến cảnh giới tương ứng với nghiệp thiện ác. Khi thân thể con người không còn tồn tại trên cõi đời này, thân thể bị phân hủy, diệt vong, tứ đại phân ly, thì nghiệp lực dẫn tâm thức đến cảnh giới mới. Đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều khổ đau, thọ nhận thân trong tam ác đạo, trong sáu cõi luân hồi để trả nghiệp, nhân do chính mình đã tạo ra trong quá khứ.

Nhân của nghiệp lực thiện ác nào, thì có quả báo tương ứng với nghiệp lực thiện ác đó, trong tục đế là trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Trong trường hợp tâm thức hoàn toàn được thanh tịnh, do nhận thức và đoạn trừ được hết tâm vô minh, năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, bước vào được cảnh giới thiền định, tịnh viên cảnh trí, thì nghiệp lực thanh tịnh sẽ dẫn dắt tâm thức đến cảnh giới giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc cảnh giới tứ thánh quả, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Do đó, tất cả các cảnh giới tái sinh kiếp sau của chúng ta, đều là không có cửa đi vào, không cửa tự vào, mà tất cả đều là do nghiệp lực thiện ác hay nghiệp lực thanh tịnh để dẫn dắt tâm thức đến cảnh giới của cõi tái sinh mới, để nhận thọ thân mới, phù hợp với nghiệp lực nhân duyên đã tạo ra trong đời trước, đời quá khứ, đời hiện tại. Nó quyết định đến sự hình thành tương ứng của quả báo đời sau và các đời tiếp theo trong cảnh giới sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Hoặc trong các cảnh giới giải thoát các phẩm vị, cao thấp, thì có thọ pháp thân tương ứng với tri kiến giải thoát của tâm thức giác ngộ chân lý.

Nhân nào quả đấy, nhân là tập đế, thì quả là khổ đế, nhân là đạo đế, là sự hiểu thấu tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đoạn diệt được hết tâm vô minh, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần, thì quả là diệt đế, là tứ thánh quả, từ bậc tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán, và các quả vi cao hơn, như bậc duyên giác, bồ tát, chư Phật Như Lai. Đạt được pháp thân là thân kim cang bất hoại, không phải là thân của vật chất, khoáng chất, thực vật, thân năng lượng, thân tứ đại hợp thành như con người và chúng sinh trong sáu cõi ba đường ác luân hồi. Chúng có hiệu hữu là do những nhân duyên hòa hợp nương tượng vào nhau mà được hình thành lên cơ thể sinh học, tứ đại, ngũ ấm. Chúng có hiện hữu tạm thời phụ thuộc vào nhiều nhân duyên, và chúng bị những nhiều nhân duyên chi phối, tàn hoại, phân ly, biến mất, diệt vong trở về với bản chất nguyên thủy ban đầu của chính nó. Thân thể con người khi chết, diệt vong thì bị tan dã thành đất, nước, gió, lửa, chúng tiếp tục bị các nhân duyên nương vào nhau, để hình thành hiện hữu lên cơ thể chúng sinh mới, hình thái mới. Trong quy luật sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, sinh lão bệnh tử tương tục tiếp nối trong quy luật nhân quả.

6. Bảy bồ đề phần

Bảy bồ đề phần hay còn được gọi là thất giác chi, bao gồm trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.

Đây là bảy chi phần, bảy bước đường, bảy đoạn đường, đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát hoàn toàn, tức là bảy chi phần này, giúp cho chúng ta nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần. Trong quá trình tiếp xúc của sáu căn với sáu trần sinh ra sáu thức, tám thức, hiểu thấu chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Từ đó đoạn trừ hết những nguyên nhân dẫn tâm thức đến khổ đế, đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi, đạt được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.

Tuần tự tuân theo các bước từ một đến bảy, bước một là lựa trọn chính pháp, lựa trọn pháp môn phù hợp với khả năng, căn cơ, nguyện vọng của mình, phù hợp với nhân duyên, thiện căn, phước đức của mình, đã được tu tập, được tích lũy trong tâm thức, từ đó tinh tấn tu hành, hành trì có công phu, có thực chứng được chân tướng sự thật của các pháp, có được sự hoan hỷ của thân tâm, khi được tự do, tự tại, thanh tịnh. Thoát khỏi những sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, đạt được tâm khinh an, an tâm, tâm thức yên ổn, không bị tâm vô minh, năm dục sáu trần quấy nhiễu, bởi những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, giúp cho tâm thức được thoải mái, tự do, tự tại, an lạc, có cảm thọ thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý.

Tâm thức luôn luôn ghi nhận, giữ gìn sự thanh tịnh, tịnh niệm của sáu căn, tám thức, ba nghiệp đều được hưởng pháp lạc, sống trong pháp hỷ sung mãn, luôn luôn tinh tấn tu hành theo chính pháp, theo pháp môn hợp với chân lý, hợp với căn cơ của mình. Tâm thức luôn nhớ nghĩ đến Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, nhớ Phật niệm Phật, niệm chính thiện pháp, niệm tam tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Niệm thanh tịnh tịch diệt, giúp cho tâm thức đạt được sự định tâm thanh tịnh, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, thể nhập vào thể tính chân tâm thanh tịnh, được minh tâm kiến tính, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Từ đó đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, thanh tịnh tịch diệt của thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp, thì cần phải xả bỏ tất cả những sự vướng mắc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh ngăn che tâm thức, ngăn che chân tướng sự thật của các pháp, ngăn che tri kiến Phật, của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, xả bỏ tất cả những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét của thân tâm đối với năm dục sáu trần.

Trong quá trình tiếp xúc của sáu căn, ba nghiệp với sáu trần sinh ra sáu thức, xả bỏ tất cả các pháp, là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, xả bỏ tất cả các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Vì chúng chỉ nương vào nhau, liên kết tạm thời với nhau, chúng hội tụ lại với nhau, để tạo lên sự hiện hữu các hình tướng của các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Chúng đều bị tác động của quy luật nhân quả, nguyên nhân và kết quả, theo pháp Tứ diệu đế, khổ, tập, diệt, đạo. Chúng có sinh, có hiện hữu, thì chúng có diệt, có biết mất các hình tướng hiện hữu đó, do các nhân duyên hợp, duyên tan. Theo các quy luật đối với thân thể con người, chúng sinh muôn loài trong sáu cõi ba đường ác, nếu là do tứ đại hợp thành, đất, nước, gió, lửa, hay ăn, uống, ô xi thở, thân nhiệt nhiệt độ, thì chúng chịu chi phối bởi quy luật, sinh lão bệnh tử, còn các vật chất, sự vật, sự việc, hiện tượng, các khoáng chất, thực vật thì chịu chi phối bởi quy luật, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không.

Chúng ta hiểu thấu Phật pháp, xả bỏ được tất cả những nguyên nhân dẫn đến sinh tử luân hồi, xả bỏ được sự vướng mắc của tâm thức với vô minh, với năm dục sáu trần, thì tâm thức, sáu căn, tám thức, ba nghiệp hoàn toàn được thanh tịnh tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh tịch diệt. Đây là bảy giác chi được chia làm hai phần để nghiên cứu, nhận thức về tục đế vào chân đế.

Bảy bồ đề phần, bảy chi phần trong tục đế bao gồm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả, đây là bảy chi phần. Bảy bước đường, bảy đoạn đường đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát hoàn toàn, tức là bảy chi phần này giúp cho tâm thức của chúng ta nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần. Trong quá trình tiếp xúc của sáu căn với sáu trần sinh ra sáu thức, tám ý thức, hiểu thấu các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Từ đó giúp cho tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát thanh tịnh tịch diệt, theo các bước là lựa chọn chính pháp, lựa chọn pháp môn tu hành, từ đó tinh tấn tu hành, hành trì có công phu, có thực chứng, có được sự hoan hỷ, thân tâm thanh tịnh, đạt được sự khinh an, an tâm, tâm thức yên ổn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc. Điều đó nhắc nhở chúng ta luôn luôn phải tâm niệm, giữ gìn tâm thức luôn được thanh tịnh, luôn nhớ nghĩ đến pháp môn tu hành, nhớ nghĩ đến ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho tâm thức của chúng ta đạt được định tâm thanh tịnh, nhập vào thể tính thanh tịnh, thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã. Bằng việc xả bỏ tất cả những sự vướng mắc của tâm thức vào năm dục sáu trần, vào tâm vô minh, cần phải xả ly tất cả những gì ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Tức là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám thức, đều là những cảm thọ thanh tịnh tịch diệt, không có các cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần. Tâm thức nhập sâu vào thể tính, chân như thanh tịnh, tịch diệt, bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Như vậy bảy giác chi cũng được chia làm hai phần, để nghiên cứu nhận thức rõ về tục đế và chân đế, trong Tứ diệu đế.

Bảy chi phần, hay bảy bồ đề phần trong tục đế có chính thiện bảy chi phần, có tà ác bảy chi phần, là do điểm xuất phát lựa chọn trạch pháp quyết định đến kết quả về sau. Tức là từ chính thiện trạch pháp dẫn đến chính thiện tinh tấn, chính thiện hỷ, kinh an, niệm, định, xả. Tương tự như vậy thì sự lựa chọn trạch pháp sai lầm, lựa chọn nhầm pháp tà ác, tà ác pháp môn, thì dẫn đến sự tà ác tinh tấn, buồn khổ, bất an, tà ác niệm, tà ác định, tà ác xả, là những sự vướng mắc ràng buộc tâm thức vào tâm vô minh, vào năm dục sáu trần, vào luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

6.1. Bảy bồ đề phần trong phần tục đế

6.1.1. Trạch pháp

Chính thiện trạch pháp trong tục đế: là sự lựa chọn đúng đắn chắc thật, thông qua sự trải nghiệm có được niềm tin chân chính vững chắc vào chính pháp Phật pháp, có được chính tín, thiện tín vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đó là niềm tin, lòng tin sâu sắc chân thật với Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh. Có được sự lựa chọn đúng đắn chắc thật thông qua việc nghe giảng kinh thuyết pháp, qua sự chỉ dẫn của tứ chúng đệ tử Phật, các bậc chính thiện tri thức, về các quy luật, các chân lý giải thoát giác ngộ. Tin tưởng vào quy luật nhân quả, tin vào giáo lý nhà Phật, vào Phật sự, tự tín, tín tha, tin tưởng vào bậc toàn giác Đức Thế Tôn. Từ đó lựa chọn cho mình một pháp môn phù hợp với căn cơ, phù hợp với sự tin tưởng, phù hợp với nhận thức tri kiến, phù hợp với nhân duyên, thiện căn, phước đức của chính mình, phù hợp với sự tin tưởng, để tinh tấn tu hành hành trì pháp môn. Nhờ đó mà có được công phu tu hành vững chắc chân thật, sớm nhận thức rõ được tâm vô minh, năm dục sáu trần, biết được chân tướng sự thật của các pháp, là pháp do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt. Các pháp là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, để giúp cho tâm thức xa lìa sự ràng buộc của chúng, không cho những cảm thọ tác động lôi kéo tâm thức ham muốn thỏa mãn hưởng thụ về năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Có được sự hoan hỷ vui vẻ trong tâm thức, do nhận thức được tâm vô minh, do tâm thức không bị năm dục sáu trần quấy nhiễu ràng buộc, giúp cho tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, kinh an. Giữ gìn sự thanh tịnh thân tâm, tâm niệm không quên sự thanh tịnh đó, sinh ra định tâm, xả bỏ được mọi thứ phiền não, vướng mắc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần, xả bỏ tất cả những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghet, đối với năm dục sáu trần, tâm thức chỉ còn lại sự chân tịnh, chân thường, chân lạc, chân ngã, chân không, chân tuệ, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Như vậy trạch pháp là bước đường lựa chọn đầu tiên về chính pháp tu hành, lựa chọn pháp môn, phương pháp tu hành cho phù hợp với căn cơ nhận thức của chúng ta. Sự lựa chọn trạch pháp này, quyết định cho cả con đường đưa tâm thức đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. Trong tứ chúng đệ tử Phật, học Phật tu pháp theo chính pháp Phật pháp, có được sự lựa chọn pháp môn tu hành chính xác, chắc thật về con đường giải thoát giác ngộ chân lý. Có nhiều nhân duyên, thiện căn, phước đức, mới được gặp pháp môn như tịnh tông, thiền tông, mật tông, chính giáo và nhiều pháp môn trong tám vạn bốn nghìn pháp môn, để tu hành sớm đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật.

Trong Phật pháp có tam pháp ấn, là các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, để giúp chúng ta nhận thức rõ về chân tướng sự thật của các pháp, của các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh. Từ sự nhận thức giác ngộ chân lý giải thoát chân thật của Đức Thế Tôn, đã chỉ dạy cho chúng ta biết sự thật về các pháp, về tâm vô minh, về bản chất thật sự của năm dục sáu trần, chúng đều là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, pháp không có chủ thể độc lập riêng biệt. Tính không là không có tự tính độc lập, các pháp đều nương nào nhau mà có mặt, cái này có, do cái kia có, cài này diệt, do cái kia diệt, các pháp do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt, tuân theo các quy luật. Đối với thân thể con người là sinh lão bệnh tử, đối với các sự vật, sự việc, hiện tượng, các vật chất, sáu sắc trần, khoáng vật, thực vật, chúng có sinh thành hiện hữu tạm thời, rồi chúng cũng biến mất diệt vong, theo các quy luật, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Do chúng ta nhận biết được tính chất của các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên tâm thức không còn bị nó chi phối, dụ dỗ, dánh lừa, ràng buộc, giúp cho sáu căn tám thức, tâm thức xa lìa, buông bỏ, đoạn diệt, được sự ràng buộc của năm dục sáu trần, đoạn diệt được tâm vô minh tăm tối, từ đó thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Trong thực tế hầu như chưa có bất cứ tôn giáo, học thuyết triết học nào, nghiên cứu nhận thức rõ về chân tướng sự thật của các pháp, chưa nhân thức rõ được tam pháp ấn, chưa tin tưởng hiểu biết thừa nhận về quy luật của các pháp, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Cho nên đại chúng, những tín đồ của các tôn giáo, học thuyết, triết học khác hoặc là tứ chúng đệ tử Phật, chưa thực sự tu hành, chưa nhận thức được về chân tướng sự thật của các pháp, thì đều bị tâm vô minh chi phối, làm chủ tâm thức. Họ bị năm dục sáu trần ràng buộc, sáu căn tám thức bất tịnh, bất thiện, loạn động, cho dù những sự nhận thức đó. Có sự hỗ trợ của các công cụ thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến đến đâu đi nữa, thì sự nhận biết của sáu căn, tám thức vẫn bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ chi phối.

Qua quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có sự giúp đỡ của khoa học công nghệ, thì vẫn bị những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, trong tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có nhiều sự phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, tham đắm vào sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần. Mà bản chất của năm dục sáu trần, của các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó tâm thức của người chưa tu hành, chưa học Phật tu pháp, thì tâm thức vô minh đó đều bị bám trụ vào những thứ, những pháp, những sự vật, sự việc, hiện tượng vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Chúng đều là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, và đều do nhân duyên tàn hoại mà diệt vong, mà người bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật, thì lại cho những thứ vô thường sinh diệt, là thường còn bất biến, cho những thứ vô ngã, không có chủ thể, thì lại nhận thức nó là có ngã, có chủ thể độc lập riêng biệt, những thứ tính không, thì lại cho nó là có hiện hữu, có sự tương tác hòa hợp vĩnh viễn không tác rời. Từ những hiểu biết nhận thức sai lầm về chân tướng sự thật của các pháp, vô thường, vô ngã, tính không chân thật đó, nó được gọi là tâm vô minh, chính tâm vô minh này dẫn dắt lôi kéo tâm thức đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Sự lựa chọn pháp môn tu hành, công phu hành trì, để đạt được hiệu quả sớm thanh tịnh được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thì trong Phật pháp có rất nhiều pháp môn. Trong kho tàng Phật pháp có đến tám vạn bốn nghìn pháp môn tu hành, giúp cho tâm thức được giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật. Trong số đó pháp môn nào đưa chúng ta đến sự thanh tịnh thân tâm, đưa tâm thức chúng ta đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, như pháp môn tịnh tông, lấy việc niệm Phật danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Phương pháp niệm Phật, là tịnh niệm liên tục nhiếp hết sáu căn, tám thức, chỉ giữ một niệm Nam mô A di đà Phật trong tâm thức, buông bỏ hết tất cả các niệm khác, niệm khác là tạp niệm, là động loạn, là niệm của tâm vô minh. Giữ một niệm Nam mô A di đà Phật trong tâm thức, nhớ Phật niệm Phật, chúng ta niệm Phật thì được mười phương ba đời chư Phật hộ niệm, giúp chúng ta thành tựu vô lượng công đức, chư Phật như lai là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, là niệm bình đẳng, là nhất niệm, nhất tâm, đạt đến nhất tâm bất loại, nhập vào vô niệm thanh tịnh, niệm Phật tam muội, để tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, pháp môn thiền định lấy việc niệm hơi thở vào ra, đến số sổ tức, để tịnh hóa thân tâm, giúp cho sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý thanh tịnh, tâm thức đạt được sự thanh tịnh tịch diệt, nhất tâm bất loạn, minh tâm kiến tính, ngộ nhập tri kiến Phật, và còn nhiều pháp môn khác.

Nhưng việc thành tựu các công đức, có được sự giác ngộ chân lý giải thoát, là nhờ vào sự tu hành đúng phương pháp hay không, còn pháp môn nào trong tám vạn bốn nghìn pháp môn đều là pháp môn của chư Phật Như Lai, của các bậc thiện tri thức. Chúng đều giúp ích cho việc tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý thanh tịnh, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Tám vạn bốn nghìn pháp môn, là các pháp bình đẳng cho mọi người, mọi chúng sinh đi đến con đường giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Trạch pháp là pháp của các tôn giáo, học thuyết, triết học và nhiều nguồn tư tưởng tri kiến khác nhau trên thế giới này, đều là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp đó đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nương vào nhau mà có mặt, có hiệu hữu tạm thời và rồi chúng cũng bị các nhân duyên tàn hoại, phân tán mà bị biến mất diệt vong. Cái này có do cái kia có, cái này diệt, do cái kia diệt. Chúng được hình thành phát triển, trụ thế, tàn hoại, không tồn tại, đều có điều kiện, tuân theo các quy luật, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, sinh lão bệnh tử đối với thân thể của con người, cũng như của chúng sinh có hình tướng, có hiện hữu trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Khi chúng ta học Phật tu pháp, hiểu thấu tam tang kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, biết rõ thực chứng được bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo, hiểu thấu chân tướng sự thật về các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, thì giúp ích cho chúng ta tịnh hóa được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh đến tịch diệt, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Tà ác trạch pháp trong tục đế: Đây là các pháp tà ác trái với chân lý giải thoát giác ngộ, trái với chân tướng sự thật của các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan, chưa thừa nhận tam pháp ấn. Là một sự thật về các pháp vốn là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp tà ác chạy theo sự hưởng thụ thỏa mãn của thân tâm về năm dục sáu trần. Do sáu căn thông thường tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức, đều bị năm dục sáu trần chỉ đạo, chi phối, sai khiến, bị tâm vô minh làm chủ, tâm thức luôn bị ràng buộc, bám trụ vào những cảm thọ, yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét. Do thân tâm tiếp xúc với năm dục sáu trần sinh ra, thân tâm trụ vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên sự lựa chọn pháp sai lần này, dẫn tâm thức đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Như vậy, trạch pháp tà ác được sinh ra từ tâm thức có tà ác tín, mê tín, để dẫn đến sự lựa chọn sai lần về tà ác pháp. Hoặc tâm thức không tin tưởng vào tất cả các chính pháp trong Phật pháp, không tin tưởng vào chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, không tin tưởng vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Hoặc không đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức để có cơ hội may mắn, được tiếp xúc, thân cận, học tập tu hành với chính pháp Phật pháp. Hoặc tâm thức người đó, chỉ tin vào những gì mà sáu căn của họ khi tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, hình thành lên sáu nhận thức, tám ý thức. Do đó mà thân tâm bị mê lầm chấp trước, phân biệt, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ, những hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, tất cả là vì cái ta, cái của ta, mà thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều bị vướng mắc, ràng buộc, bị kẹt trong năm dục sáu trần, bị nó cuốn lôi theo vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều khổ đau. Trạch pháp như thế là sự lựa chọn pháp sai lầm, là nhân tố, là nguyên nhân tập đế dẫn đến sinh ra quả khổ đế.

6.1.2. Tinh tấn

Chính thiện tinh tấn trong tực đế được hình tình từ chính thiện tín, chính thiện trạch pháp. Nó thể hiện sự chuyên nhất, tinh cần hàng động chuyên nghiệp, có công phu tu hành, hành trì pháp môn đã được lựa chọn đúng và hợp với căn cơ niềm tin. Sự hiểu biết chính xác, chắc thật bằng ý trí, chính tín, chính pháp Phật pháp, chính là ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, thể hiện qua việc nhận thức đúng đắn, chắc thật về tam pháp ấn. Là sự vô thường, vô ngã, tính không, năm dục sáu trần đều như thế, từ việc nhận thức chân chính đó, thì chúng ta dựa vào đó, để tinh tấn tu hành, hành trì pháp môn có công phu thuần thành, quyết tâm không cho thân tâm vướng mắc vào năm dục sáu trần, không bị các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, ràng buộc tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp của chúng ta nữa. Chúng ta tinh tấn tu hành đoạn diệt hết những sự vướng mắc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, cắt đứt các sự ràng buộc của nhận thức đối với sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham luyến về những cảm thọ, đoạn trừ hết sự lôi kéo của các pháp thế gian và xuất thế gian, các pháp vô vi và hữu vi. Giúp cho tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp sớm được thanh tịnh, tịnh hóa được thân tâm, nhất tâm bất loạn, minh tâm kiến tính, tịnh viên cảnh trí, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ giải thoát giác ngộ chân lý, bát nhã, nhập diệt niết bàn thường tịnh quang Phật.

Do đó sự tinh tấn chuyên cần, dũng mãnh tu hành, là điều quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong sự tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát. Vì trong đời sống của chúng ta, thì thân tâm thường bị vướng mắc vào năm dục sáu trần, bị các cảm thọ yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, chi phối, sai khiến các ba nghiệp, bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp, cho nên thân tâm thường bất tịnh, bất thiện, loạn động, phiền não. Chính vì thế mà chúng ta muốn sớm có được sự thanh tịnh thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thì chỉ có trông cậy vào sự tinh tấn, chuyên cần, dũng mãnh, hành trì, tu hành các pháp môn, có công phu chính thiện lực. Bằng các pháp môn tịnh tông, thiền tông và nhiều pháp môn khác, cách thức, để sớm đạt được sự thanh tịnh thân tâm. Chính tinh tấn tu hành pháp môn càng mạnh, càng dũng mãnh, thì công phu thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ, bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai Đức Thế Tôn, càng nhanh sớm nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Tà ác tinh tấn trong tục đế, xuất phát từ tà ác tín, mê tín, dẫn đến trạch pháp tà ác, lựa chọn sai pháp, sai chính pháp, sai pháp môn, không đúng, không phù hợp với căn cơ, nhân duyên, thiện căn, phước đức không đủ. Làm cho tâm thức đi sai đường lạc lối vào con đường tà ác đạo, tà ác tinh tấn, tà ác tinh tấn càng nhiều, càng mạnh, tham vọng càng lớn, nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, vào năm dục sáu trần, tham đắm vào những cảm thọ yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ. Vướng mắc vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã tính không, thì mang lại cho thân tâm càng nhiều sự phiền não, loạn động, bất tịnh, bất thiện, nhiều điều xấu tà ác, trong tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến. Chúng thể hiện ra ngoài qua lời nói, suy nghĩ, việc làm của ba nghiệp bất tịnh, loạn động, tạo tác các nghiệp tà ác, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, trái ngược với chân lý. Sáu căn tám thức chạy theo sự hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, ràng buộc chi phối tâm thức, khiến cho thân tâm mệt mỏi, nhiều phiền não khổ đau, tâm thức chịu cảnh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

6.1.3. Hỷ

 Hỷ trong tục đế

Hỷ trong tục đế được chia làm ba phần, theo ba sự cảm thọ về năm dục sáu trần. Một là hỷ do thân tâm được thanh tịnh, hai là hỷ do thân tâm được thỏa mãn hưởng thụ về năm dục sáu trần, ba là tà ác hỷ do những nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế.

Hỷ là sự vui sướng do thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh, không bị những sự ràng buộc, chi phối, sai khiến của năm dục sáu trần, tâm vô minh bị phá vỡ, nhận thức rõ được chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, biết được các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Là kết quả của sự chính tín, trạch pháp chính thiện, gọi là chính thiện hỷ. Hỷ do ba nghiệp, thân, khẩu, ý làm các việc chính thiện, việc tốt đẹp giúp cho mọi người có cuộc sống ấn no, hạnh phúc, tự do, an lạc, giúp cho mọi người có được nhân duyên, thiện căn, phước đức tốt. Để có cơ hội được nghe giảng kinh thuyết pháp, vì người diễn nói, lấy chính thân tâm thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả làm mô phạm, làm thân tâm giáo để chứng minh, chứng thực cho mọi người nhìn thấy chân lý giác ngộ giải thoát, phát tâm học Phật tu pháp theo. Giúp mọi người tăng trưởng chính tín, tăng trưởng thượng duyên, tịnh hóa sáu căn tám thức, thân tâm, ba nghiệp sớm được thanh tịnh, tăng chính tinh tấn, một lòng toàn tâm hướng về Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, quyết tâm tinh tấn tu hành theo con đường giới, định, tuệ. Nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, thông qua sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu tuệ thức, tám tuệ ý thức, là tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Thấy được thân thể là do tứ đại hợp thành, tạm thời có hiện hữu và sau một khoảng thời gian, khi các nhân duyên tứ đại tan dã, thì thân thể bị biến mất, diệt vong theo các quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt.

Còn tâm thức do nhận thức đúng về các pháp vốn là vô thường, vô ngã, tính không, cho nên tâm thức không bị vướng mắc, tham đắm vào những pháp đó, không còn bị ràng buộc vào năm dục sáu trần, không bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp. Từ đó giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, là làm sáng tỏ bốn chân lý trong Tứ diệu đế, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Chính thiện hỷ, là trạng thái của tâm thức vui sướng, tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, do tâm thức không bị tâm vô minh làm chủ, ràng buộc, sự vui vẻ này, có được là do nhận thức rõ được về tâm vô minh, về năm dục sáu trần. Từ đó đoạn diệt cắt đứt được sự ràng buộc của chúng, tức là sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu tuệ thức, không còn những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, không còn những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Không còn nhân duyên ái, thủ, hữu, mà tâm thức chỉ còn cảm thọ về sự thanh tịnh, vẵng lặng, nhẹ nhàng, giải thoát, vui vẻ, an lạc, tự do, tự tại, hoan hỷ, trí tuệ giác ngộ chân lý, chứng nhập cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Hỷ là sự vui sướng hoan hỷ hạnh phúc của thân tâm trong tục đế. Đây là kết quả của sự hưởng thụ thỏa mãn thân tâm về năm dục sáu trần, thỏa mãn về tiền tài, sự sản, về danh vọng lợi dưỡng, vinh hoa phú quý, địa vị xã hội, về sắc đẹp ái tình, có được vợ chồng con cháu người thân thuận hòa sinh đẹp, về ăn ngon mặc đẹp, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt trong đời sống con người. Khi tâm thức và thân thể được thỏa mãn những điều đó, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Vì được thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, trong đó có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng của tâm thức về những cảm thọ, sinh ra nhân duyên ái nhiễm, thâm đắm bám chấp, sở hữu, chiếm đoạn, gắn tâm thức vào đó, dẫn đến thân tâm vướng mắc vào năm dục sáu trần, vào tâm vô minh.

Do năm dục sáu trần là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, tức là không có cái gì là cái ta, cái của ta, tất cả mọi thứ đều do nhân duyên hòa hợp liên kết mà được sinh ra, có hiện hữu, có hình tướng tạm thời. Rồi tất cả đều bị tàn hoại, biết mất, diệt vong, theo các quy luật, sinh lão bệnh tử, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Cho nên khi tâm thức của chúng ta bị vướng mắc vào những cảm thọ, của năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, thì tâm thức đó liền bị các nghiệp thức tái sinh lôi kéo, ràng buộc vào năm dục sáu trần, chìm đắm trong tâm vô minh, tâm thức bị dính bám vào những thứ vô thường sinh diệt, thì tâm vô minh bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Do đó việc vui sướng, hoan hỷ của tâm thức, do được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, mới thể hiện thông qua những việc làm, lời nói, suy nghĩ tốt, giúp đỡ mọi người có được cuộc sống ấn no, hạnh phúc, gia đình an cư lập nghiệp, xã hội an định, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới ổn định, hòa bình hợp tác cũng có lợi, tâm thức, thân thể làm nhiều việc lành, như làm từ thiện, phúc lợi xã hội, có tình thương, có trách nhiệm nghĩa vụ với bản thân gia đình và xã hội, đối với con người. Nhưng sự mong cầu đó chỉ mang lại phước báo nhân thiện, phước báo hủ lậu phúc, lộc, thọ, sống có ích cho mọi người, có được đời sống đúng pháp luật, tôn trọng pháp luật, đúng đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, đúng luân thường đạo lý. Thân thể được hưởng nhiều sự vui sướng, nhưng tâm thức vẫn bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ. Cho nên khi hưởng hết báo thân này, thì được luân hồi chuyển kiếp hưởng phước báo nhân thiên, được sinh ra trên cõi trời, và cõi người, để hưởng phước do chính mình đã tạo nhân duyên. Được hưởng thụ năm dục sáu trần, được thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, được hoan hỷ vui sướng, nhưng khi hưởng phước báo mà không chịu tạo thêm, thì khi phước báo đó hết, thì lại bị đọa lạc xuống ba đường ác chịu nhiều buồn khổ, khổ đế do nguyên nhân tập đế.

Ngày nay trong thực tế đời sống chúng ta, là bốn chúng đệ tử Phật, là người học Phật, tu pháp theo giáo lý mà Đức Thế Tôn, khi Ngài hoàn toàn giác ngộ chân lý giải thoát dưới cội bồ đề, ở nước Ấn độ cách đây khoảng 2550 năm. Chúng ta nương nào Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, nương vào tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, biết được phương pháp nhận thức tâm vô minh, nhận thức năm dục sáu trần, tìm phương pháp cách thức đoạn diệt chúng, đưa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đến sự thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, hoan hỷ, giải thoát giác ngộ chân lý. Giúp tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh, an vui.

Còn đa phần đại chúng ngày nay, có người theo các nền tôn giáo, học thuyết, triết học, theo khoa học, hoặc không theo bất kỳ một nền tôn giáo học thuyết, triết học nào, thì đều bị năm dục sáu trần ràng buộc, làm chủ, sai khiến, chỉ đạo tâm thức. Bị tâm vô minh ngăn che không cho tâm thức nhận thức về chân tướng sự thật về các pháp vốn là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Cho nên tâm thức đều là vì năm dục sáu trần mà sinh ra các tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, tám thức, đều bất tịnh, đều loạn động. Do có nhiều sự cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét và có nhiều sự chấp trước vào những khái niệm, định kiến xã hội, tri kiến của con người, tham đắm vào năm dục sáu trần, phân biệt, vọng tưởng, tham vọng vào những gì tưởng tượng, hình dung về quá khứ, hiện tại và tương lai, ham muốn hưởng thụ, thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi.

Nhưng do tất cả những thứ đó, năm dục sáu trần, thân thể con người cũng đều là những thứ, những pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên khi tâm thức của chúng ta bám chấp vướng mắc vào nó. Đó là nguyên nhân tập đế, tạo ra quả khổ đế, tâm thức bị những thứ đó lôi kéo vào con đường sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều khổ đau. Tức là thân thể bị phân hủy, tan dã trở về với tứ đại đất, nước, gió, lửa, tâm thức thì được tái sinh vào kiếp sau, đời sau theo nghiệp thức thiện ác. Theo tri kiến hiểu biết nhận thức mà chiêu cảm đến cảnh giới mới, tương ứng để nhận thân mới, hình thành tâm thức tái sinh mới, do nhân duyên mới quyết định, trong vòng lục đạo luân hồi ba đường ác, lên xuống trầm luân phải chịu nhiều thứ buồn khổ.

Hỷ là sự vui sướng do được thỏa mãn, hưởng thụ những sở thích do tà ác tâm mà sinh. Đó là các tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, đều là những mong muốn được thỏa mãn cái ta, cái của ta, mà bất chấp hành vi tạo tác có hại cho mọi người, chúng sinh muôn loài, có hại cho môi trường sống. Đó là những thú vui, hưởng thụ thỏa mãn bản ngã, cái tôi, như việc vui vẻ hoan hỷ trên nỗi đau khổ của người khác, của chúng sinh muôn loài, nhằm đạt được sự đầy đủ về năm dục sáu trần, tài, sắc, danh, thực, thùy, và sáu trần là sự thỏa mãn thân tâm, về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chúng thể hiện trong đời sống con người, là những hành vi tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý luôn làm những việc vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, năm giới cấm, mười giới thiện.

Con người thông thường lấy việc mua vui, giải trí qua việc câu cá, đánh bắt cá, săn bắn thú, chăn nuôi gia súc, gia cầm, giết mổ lấy thịt, làm hại đến chúng sinh hữu tình, đó gọi là tà ác vui, tà ác hỷ. Khi sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tâm thức có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, dẫn đến tạo tác của thân, khẩu, ý, sáu căn tám thức, đều là tà ác hỷ. Khi dùng những thủ đoạn, thủ thuật, tiểu sảo, để buôn lậu chốn trách pháp luật, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, như việc ba nghiệp tà ác của thân, khẩu, ý. Là việc thỏa mãn hưởng thụ khi tạo ra việc sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tâm thức nghiệp thức được hưởng thụ và thỏa mãn năm dục sáu trần, mà sinh ra những cảm thọ vui sướng về tà ác hỷ, và thỏa mãn sáu căn, tám thức về năm dục sáu trần sinh ra tà ác hỷ. Sự vui sướng này là những cảm thọ sinh ra nhân duyên ái, thủ, hữu. Đó là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, khi thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp vướng mắc, vui sướng tà ác hỷ về những điều đó, thì bị nó lôi kéo theo con đường sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Khi sự thỏa mãn hưởng thụ càng nhiều, sự tà ác hỷ càng lớn, khi thân, khẩu, ý nghiệp vi phạm pháp luật, vi phạm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm giới luật càng sai trái lớn, càng lâu dài. Đó là nguyên nhân của tập đế, thì quả khổ đế càng to, càng mãnh liệt, nhiều buồn khổ, khi thân tâm bị vướng mắc vào năm dục sáu trần càng nhiều, càng sâu thì tâm thức vô minh hiện tại bị ba khổ, tám khổ chi phối, mất hết phước báo nhân thiên, phúc, lọc, thọ, đã tạo nhân trong quá khứ, bị đọa lạc xuống ba đường ác trong sáu cõi luân hồi càng nhiều đau khổ dài lâu.

6.1.4. Khinh an trong tục đế

Khinh an được chia ra làm ba vấn đề. Một là chính thiện khinh an, là sự an lạc, tự do, tự tại, giác ngộ chân lý giải thoát của tâm thức, thân tâm an lạc, thanh tịnh. Hai là khinh an là sự an lạc do được hưởng thụ thỏa mãn sáu căn tám thức về năm dục sáu trần, sự vướng mắc của thân tâm vào năm dục sáu trần, vào tâm vô minh, do thân tâm luôn bám chấp vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét cũng như những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm của thân tâm vào năm dục sáu trần. Ba là tà ác khinh an, đó là sự bất an trong tâm thức.

Chính thiện khinh an, là sự an lạc thanh tịnh của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều thanh tịnh, đạt được cảnh giới tịnh viên cảnh trí, chính thiện khinh an được hình thành từ sự tin tưởng chắc thật vào chính pháp Phật pháp, tin tưởng tuyệt đối vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Từ đó lựa chọn cho mình một pháp môn phù hợp với căn cơ hiểu biết, phù hợp với niềm tin nhận thức, phù hợp với nhân duyên, thiện căn, phước đức của mình, để chính tinh tấn tu hành, tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức. Đạt được sự thanh tịnh của sáu căn tám thức, đạt được công phu thành tựu, vui vẻ hoan hỷ, chính thiện hỷ, niềm vui sướng khi thân tâm được tự do, tự tại, thanh tịnh, thoát khỏi sự ràng buộc của tâm vô minh, của năm dục sáu trần. Do sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu tuệ thức, biết được chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Từ đó giúp cho thân tâm an lạc, chính thiện khinh an, là cảm thọ của thân tâm về sự thanh tịnh của sáu căn, tám thức, ba nghiệp được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý được giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an ổn tịnh diệt.

Như vậy, chính thiện khinh an là quá trình tin tưởng, lựa chọn đúng pháp môn tu hành, thấy biết được sự thật về các pháp đúng là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, nhận biết sự vướng mắc của tâm thức vào năm dục sáu trần. Tâm vô minh là con đường đưa tâm thức đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, là tập đế sinh ra khổ đế, có được thành tựu công phu tinh tấn tu hành, đạt được sự tự do, tự tại, an lạc, hoan hỷ, vui vẻ, thanh tịnh, vắng lặng của thân tâm. Từ đó biết chắc được con đường đi tới sự giải thoát giác ngộ chân lý, là đúng đắn, chắc thật, tạo ra trong tâm thức cảm thọ về sự thanh tịnh khinh an, an lạc, yên ổn, bình an, để tiếp tục tiến tu đến quả vị tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn, an vui thường lạc ngã  tịnh.

Trong thực tế đời sống, người có tâm thức chính thiện khinh an, là người có chính tín, chính tinh tấn, chính thiện hỷ, có được phương pháp, pháp môn tu hành hành trì có công phu, thường xuyên, nhất tâm tu hành không bị năm dục sáu trần quấy nhiễu. Là người sống có đạo đức, nhân cách, chấp hành tốt pháp luật, đúng giới luật, sinh ra định tâm, an tâm, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Trong đời này nhất định kiên trì giữ gìn sự yên ổn thanh tịnh thân tâm, để tu hành sớm đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường an lạc, thường ngã tịnh.

Khinh an, do có sự cảm thọ, thỏa mãn hưởng thụ về năm dục sáu trần. Do có được phước báo nhân thiên, có được đời sống hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, tạo ra những nhu cầu đời sống thường xuyên của con người. Trong đó có sự phân biệt cái ta, cái của ta, chấp trước vào các định kiến, tà tri tà kiến của con người, vọng tưởng về những cảm thọ, vui sướng buồn khổ, yêu thích, chán ghét. Do quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức mà có. Do thân tâm tham đắm vào năm dục sáu trần, tâm thức chưa nhận biết được năm dục sáu trần, các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do nghiệp lực chiêu cảm, do không đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức, cho nên tâm thức mới chỉ đạt đến, hướng đến sự thỏa mãn hưởng thụ cầu mong phúc, lộc, thọ, khang, ninh, được hưởng thụ đủ về năm dục sáu trần. Do đó sinh ra cảm thọ về sự khinh an, do có được nhiều phương tiện, tiện nghi sinh hoạt, phước báo nhân thiên, tâm thức tuy có sự khinh an, yên ổn, nhưng vẫn nằm trong quy luật vô thường sinh diệt của các pháp, nằm trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, để có cơ hội hưởng phước, tùy theo nghiệp nhân duyên thiện ác đã tạo nhân, mà được sinh về cõi trời, cõi người hoặc bị đọa lạc xuống ba đường ác nhiều buồn khổ.

Trong thực tế những người chưa đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp, chưa đủ niềm tin chính tín đối với Phật pháp, chưa biết đến Phật pháp, là chân thật, chắc thật đưa tâm thức con người đến con đường giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh. Tức là mới tin tưởng được một chút ít vào Phật pháp, vào quy luật nhân quả, làm thiện nhân được thiện quả, làm ác nhân bị quả ác báo, tập đế là nhân, khổ đế là quả. Do nhân duyên, thiện căn, phước đức chưa đủ để tin tưởng vào sự lựa chọn tinh tấn, hoan hỷ, khinh an, yên ổn, tu hành Phật pháp đến giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Đại đa số chúng ta mới chỉ dừng lại ở sự cầu mong có được hưởng thụ phước báo nhân thiện, phúc, lọc, thọ, khang, ninh hay chân, thiện, mỹ, tuệ, trong năm dục sáu trần, có được sự hưởng thụ thỏa mãn, ước muốn về năm dục sáu trần, có được đời sống kiếp người yên ổn, bình an, hạnh phúc, hoan hỷ, để hưởng phước hủ lậu thế gian. Cũng làm nhiều việc tốt, có đạo đức, nhân cách tốt, đúng pháp luật, làm nhiều việc từ thiện, phúc lợi xã hội, đúng giới luật, năm giới, mười thiện trong sạch, thì được hưởng phước báo nhân thiên, vẫn phải chịu cảnh luân hồi sáu cõi, từ việc mong cầu phúc, lọc, thọ, có được năm dục sáu trần tốt yên ổn, bình an. Cho nên dẫn đến sự lựa chọn pháp cũng theo đó mà hình thành, đó là những nền tôn giáo, học thuyết, triết học khác, mà không phải là chân lý giải thoát giác ngộ, các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không trong đạo Phật. Cho nên các tôn giáo học thuyết triết học khác, không thể giải quyết vấn đề sinh tử luân hồi, chỉ có đạo Phật bằng tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bằng ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, mới giải quyết vấn đề sinh tử của tâm thức, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, đạt đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Tà ác khinh an trong tục đế, được sinh ra từ sự tà ác tín, mê tín, dẫn đến lựa chọn các pháp tà ác hại người, hại vật, hủy hoại môi trường sống, hủy hoại sự sống, làm những điều trái pháp luật, trái giới luật, trái lương tâm, trái đạo đức nhân cách con người, trái luân thường đạo lý, trái với chân tướng sự thật, thân tâm luôn chạy theo sự hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, thể hiện qua ba nghiệp thân, khẩu, ý. Đó đều là những việc hại người, hại vật, lợi mình, và tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến, về năm dục sáu trần. Do tâm thức có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng, ảo tưởng về những cảm thọ, do năm dục sáu trần mang lại. Khi tâm thức có được sự hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần, thì sinh ra tâm tự mãn, tự kiêu, coi thường pháp luật, giới luật, không tin nhân quả, ba nghiệp làm ra toàn là việc xấu tà ác, khiến cho mọi người bất an, luôn luôn nghĩ mưu, tính kế làm trái pháp luật, giới luật, tâm thức nhiều phiền não. Tuy trước mắt có chút phước báu, nhưng về sau duyên xấu tà ác đến, thì quả báo khổ đế liền xuất hiện, hình thành, thì phải chịu nhiều buồn khổ.

Người mà có được hưởng thụ năm dục sáu trần, có được phước báo nhân thiên, tạm thời do làm các việc chốn tránh, làm việc trái pháp luật, giới luật, thì cứ vui vẻ hoan hỷ, an lạc, với những gì mà mình đã có được, cứ tưởng là mình tài giỏi, hiểu biết hơn người, kiêu mạng, tự cao, tự đại tạm thời. Nhưng quả báo khổ đế, thì vô cùng buồn khổ, tội lỗi chồng chất chân thật không giả dối, bản thân chịu buồn khổ, lại còn kéo theo nhiều người đau khổ, làm cho nhiều người khác vì mình mà khổ, thân khổ, tâm buồn, bị đọa lạc trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Chúng ta ngày nay do sự phát triển tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin truyền hình, internet kết nối qua vệ tinh toàn cầu, sự tiếp xúc giữa sáu căn với sáu trần sinh ra sáu thức, nhân biết về thế giới nhân sinh quan, là rất phong phú sâu rộng. Do có nhiều sự khác biệt về nhận thức, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin truyền thông, về quan điểm tư tưởng, trình độ nhiều lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, phong tục tập quán, khác nhau về vùng miền, khu vực, tôn giáo, học thuyết, triết học. Điều này làm cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp loạn động, bất an, do có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần, về cái tôi, cái của tôi, sinh ra nhiều bất đồng, nhiều mâu thuẫn, bất bình đẳng trong xã hội. Từ đó sinh ra nhiều sự lo lắng phiền não.

Sáu căn tám thức bất tịnh, bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc chỉ đạo ba nghiệp, thân, khẩu, ý, làm ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là hại người, lợi mình, vì cái tôi, cái của tôi. Đó là những hành vi tạo tác trái pháp luật, trái giới luật trong Phật pháp, trái với đạo đức, nhân cách con người, trái với công ước quốc tế, trái với đạo đức xã hội, trái luân thường, thuần phong mỹ tục, trái với bản tính chân tâm thanh tịnh, trái với những lời giáo huấn của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, đã chỉ dạy chúng ta trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đã mô tả thuyết giảng về bốn chân lý trong Tứ diệu đế, khổ, tập, diệt, đạo, đã mô tả về chân tướng sự thật về tam pháp ấn, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, mô tả con đường đưa tâm thức sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Nhưng bên cạnh những điều bất lợi trên còn có mặt lợi ích, có nhân duyên tốt lành. Thông qua các phương tiện truyền thanh, thông tin đại chúng, truyền hình vệ tinh, internet có được nhiều vị Tăng ni Phật tử cúng dường Phật pháp, hộ pháp hoằng pháp lợi sinh. Thông qua các phương tiện in ấn, xuất bản phát hành tuyên truyền, tập kết lại tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, đều có nhiều trong hệ thống dữ liệu lưu truyền trên hệ thống mạng internet kết nối toàn cầu, toàn thế giới, nhiều quốc gia dân tộc. Giúp ích cho nhiều người, nhiều giới, không phân biệt nam nữ, già trẻ, vùng miền, quốc gia, dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tất cả đều có cơ hội, cơ may, nhân duyên tiếp cận học Phật tu pháp, tin tưởng Phật pháp, phát tâm tinh tấn tu hành, để sớm có được sự hoan hỷ, khinh an, thân tâm an lạc, thanh tịnh, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, thoát khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi tận gốc những khổ đau, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chúng ta là tứ chúng đệ tử của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, hoặc là người trong đại chúng thuộc các tổ chức xã hội, vùng miền, quốc gia dân tộc, tôn giáo, học thuyết, triết học, giai cấp bất kỳ nào trong xã hội nào. Nếu đã là người học Phật tu hành đúng theo chính pháp Phật pháp, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, thì ở trong đời sống có rất nhiều lợi ích thiết thực. Là người có đủ đạo đức nhân cách con người, biết tôn trọng chấp hành đúng pháp luật, đúng quy định, đúng giới luật trong Phật giáo. Là người đối nhân xử thế theo pháp Lục hòa kính, luôn thể hiện là tâm chân thành, thật thà, thanh tịnh, bình đẳng, giác ngộ, từ bi hỷ xả, tùy duyên đối với mọi người, mọi sự vật, sự việc hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, tất cả đều là chân thật bình đẳng.

Như vậy người học Phật tu pháp là Phật tử tại gia hay đại chúng học Phật trong đời sống hằng ngày, trong quan hệ công việc làm ăn, sẽ được nhiều người, nhiều đối tác lựa chọn, tin tưởng hợp tác bình đẳng cùng có lợi ích thiết thực, được nhiều người ca ngợi, danh thơm, tiếng tốt, được nhiều người khác giới thân cận, quan tâm chăm sóc giúp đỡ, tin tưởng ủy thác thân tâm, kết thành duyên chồng vợ, được nhiều người tôn trọng, yêu quý, mời tặng nhiều thứ vật dụng tốt, ngon lành, bổ ích và có được đời sống vui vẻ, hạnh phúc, an lạc, có đủ tiện nghi sinh hoạt, phương tiện thuận lợi, phục vụ đời sống con người. Luôn có tâm giúp đỡ, sống có trách nhiệm, nghĩa vụ tốt đối với gia đình, người thân được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an lạc, giúp ích cho xã hội phát triển tốt an định, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác cùng có lợi, trong pháp Lục Hòa Kính.  

Còn các chư vị đệ tử Phật xuất gia, là Tăng ni, thì đã có đầy đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức, từ nhiều đời kết tập tích lũy lại đến đời này, đã hội đủ nhân duyên, được đi xuất gia tu hành, học Phật tu pháp, thâm nhập kinh tạng, ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu rõ được mục đích ý nghĩa của người xuất gia, là xuất thế tục gia, xuất phiền não gia, và xuất tam thế gia, được giải thoát khỏi sáu cõi luân hồi, đã có được niềm tin chắc thật vào chính pháp Phật pháp, đã lựa chọn được cho mình pháp môn phù hợp với căn cơ, trình độ, hiểu biết, để nhận thức rõ tâm vô minh, nhận thức rõ về năm dục sáu trần. Chúng đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, từ đó tinh tấn tu hành, có công phu hành trì pháp môn, đạt được vui vẻ, hoan hỷ, nhẹ nhàng, thanh thoát trong thân tâm. Có được sự an lạc yên ổn trong thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, không bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc, từ đó gìn giữ tâm trạng an lạc hoan hỷ thanh tịnh, gìn giữ nền giáo dục đạo đức Phật đà, luôn luôn niệm Tam bảo, niệm Phật, pháp, tăng, hay niệm giác, chính, tịnh, để đoạn diệt được hết tâm vô minh, đoạn diệt hết sự ràng buộc bởi những cảm thọ, do tham đắm vào năm dục sáu trần sinh ra. Để thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, nhập được vào thiền định, thiền tuệ sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

 

6.1.5. Niệm trong tục đế

Niệm trong tục đế được chia ra làm ba phần: Một là chính thiện niệm thanh tịnh, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều là cảm thọ về sự thanh tịnh, vui vẻ, hoan hỷ, an lạc, yên ổn. Hai là chính thiện niệm còn có những cảm thọ về vui buồn sướng khổ, yêu thích, chán ghét, còn có những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, mang nhiều sự tham vọng về sự hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, mong muốn có được hưởng phước báo hủ lậu nhân thiên. Sáu căn tám thức còn bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, còn bị tam vô minh chỉ đạo, lôi kéo nghiệp thức, còn bị tái sinh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, có phước hưởng phước tùy theo nghiệp thiện ác đã tạo. Ba là tà ác niệm, là những niệm mang nhiều sự tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, về cái ta, cái của ta, về năm dục sáu trần. Do chưa được học Phật tu pháp, chưa biết đến Phật pháp, chưa biết đến tam pháp ấn, chưa biết được chân tướng sự thật về các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, chưa biết đến tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hoặc là người có biết đến Phật pháp nhưng chưa tin tưởng phụng hành, chưa chân thật học Phật tu pháp. Do chưa có được sự tinh tấn tu hành pháp môn, đã được lựa chọn trong Phật giáo. Hoặc là người do nhân duyên, thiện căn, phước đức đời này chưa đủ, để lĩnh hội thâm nhập vào giáo lý trong Phật pháp. Do đó mà thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều là bất tịnh, loạn đông, bất thiện, chạy theo hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, chạy theo những cảm thọ do năm dục sáu trần dụ dỗ, đánh lừa, tâm thức, làm cho thân tâm có nhiều phiền não, lo lắng bất an, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Chính thiện niệm trong tục đế

Chính thiện niệm trong tục đế được sinh ra từ sự chính tín, là sự tin tưởng chắc thật, bằng ý trí bằng sự hiểu biết học Phật tu pháp, có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức. Từ đó đi đến sự lựa chọn chính thiện trạch pháp, lựa chọn đúng pháp môn trong Phật pháp. Đó là ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, trong đó chúng ta lựa chọn một pháp môn để tu hành, huân tu dài lâu, như pháp môn tịnh tông, thiền tông, mật tông, chính giáo và nhiều pháp môn trong tám vạn bốn nghìn pháp môn. Tất cả pháp môn trong Phật giáo đều là pháp môn bình đẳng, đều giúp ích cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp của chúng ta được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Chúng ta có thể lựa chọn bất kỳ một pháp môn nào sao cho phù hợp với căn cơ, hiểu biết nhận thức, tin tưởng phương pháp đó, thì chúng ta lựa chọn để tinh tấn tu hành đạt đến sự giác ngộ chân lý giải thoát. Pháp môn nào mà tịnh hóa được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, tâm thức ngộ nhập tri kiến Phật, thì đó chính là pháp môn tốt nhất đối với chúng ta, đó là chính thiện pháp, là diệu pháp trong Phật pháp. Pháp môn đó chúng ta lựa chọn đúng chính tinh tấn, tu hành đúng pháp môn đó, thì đương nhiên đạt được sự hoan hỷ vui vẻ, an lạc, yên ổn, trong tâm thức, sáu căn tám thức thanh tịnh, an lạc. Đó chính là công phu tu hành, thành tựu kết quả tốt lành, mà chúng ta đã đạt được trong suốt quá trình tinh tấn tu hành.

Cho nên chúng ta cần phải gìn giữ, lưu giữ thành công đó, bằng việc luôn luôn thân tâm niệm về điều đó, niệm chính thiện pháp, niệm Phật, pháp, tăng, niệm giác, chính, tịnh, luôn luôn niệm pháp môn đó, niệm Nam mô A di đà Phật cho thành thục, thuần thành, công phu, chuyên nhất tinh cần, không cho bất cứ sự pha tạp nào, của năm dục sáu trần, tâm vô minh quấy nhiễu vào tâm thức thanh tịnh, an lạc của chúng ta, để chúng ta từng bước thâm nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh an lạc. Tức là chúng ta chỉ chính thiện tinh tấn, niệm một pháp môn cho tinh cần chuyên nhất, không nên một lúc để tâm niệm vào nhiều pháp môn, không để các pháp thế gian, xuất thế gian, không để những ý niệm phân biệt, chấp trước, vọng tưởng và năm dục sáu trần tác động vào quá trình tu hành pháp môn, đã được chúng ta lựa chọn. Chúng ta cần chính thiện tinh tấn, tinh cần chuyên nhất dũng mãnh, nhất tâm vào việc tu hành một pháp môn, để sớm đạt được sự thanh tịnh thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều được thanh tịnh, tâm thức nhất tâm bất loạn, minh tâm kiến tính, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy, những tứ chúng đệ tử Phật, tu hành cầu sự giải thoát giác ngộ chân lý, mà không lựa chọn đúng pháp môn, không đúng chính pháp của Phật pháp, không chính thiện tinh tấn, tinh cần chuyên nhất tu hành theo một pháp môn duy nhất, một pháp môn đã chọn, chính thiện niệm một pháp môn, tu hành một pháp môn, thì mới đạt được thành công. Còn ngược lại thì khó có được kết quả công phu tu hành, thân tâm khó có được sự thanh tịnh, khó đạt đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn, mà chỉ dừng lại ở sự kết duyên với Phật pháp.

Chính thiện niệm trong tục đế thuộc về chính thiện pháp thế gian hoặc là người có học Phật tu pháp, có hiểu biết về Phật pháp, nhưng do sự mong cầu hưởng thụ thỏa mãn sáu căn, tám thức, về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ràng buộc che lấp. Do người này chưa có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp hoặc họ là những người theo những nền tôn giáo học thuyết triết học khác, mà thể hiện qua việc sáu căn, tám thức, khi tiếp xúc với sáu trần còn sinh ra nhiều cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét của thân tâm, tức là người này chưa hiểu được chân tướng sự thật của các pháp, là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Hoặc do có nhân duyên tốt với Phật pháp, nhưng do nghiệp lực thói quen tập tính, năm dục sáu trần, vô minh ngăn cản, dụ dỗ quá mạnh, khiến cho tâm thức người đó bị phiền não lo lắng, vướng bận, ràng buộc vào vòng luẩn quẩn vô thường sinh diệt của năm dục sáu trần. Từ đó tâm thức bị chìm đắm trong năm dục sáu trần bởi những cảm thọ, do có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những sự hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi. Tuy ở đời người này làm nhiều việc, nhiều hành vi tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý đúng pháp luật, đúng giới luật, năm giới cấm mười giới thiện trong Phật pháp, là người có đạo đức nhân cách, biết làm việc tốt, việc từ thiện giúp đỡ mọi người, gia đình, người thân, xã hội. Người này luôn thân tâm niệm đến chính thiện niệm, tuy tâm thức còn nằm trong sự tái sinh, sinh tử luân hồi, nhưng may mắn có được phước báo nhân thiên, có được thân người, thân chư thiên ở kiếp sau, hưởng phước báo hủ lậu trong sáu cõi luân hồi trầm luân lên xuống ba đường ác.

Như vậy chính thiện niệm này là nhân tạo ra quả thiện, được thân người, thân chư thiên, làm người, làm thiện thần, thần tiên trên trời, hưởng phước báo hủ lậu chứ không phải là chính thiện niệm của quả báo giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi.

Hiện nay, trong thực tế tứ chúng đệ tử Phật và trong đại chúng tu hành học Phật tu pháp, theo giáo lý chính pháp trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, được thể hiện qua việc tu hành ba nghiệp, thân, khẩu, ý, sáu căn, tám thức mới chỉ dừng lại ở việc hành trì, giữ gìn năm giới cấm, là không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu bia, và mười giới thiện. Tuy có tâm nguyện, tín, nguyện, hạnh, tu hành theo giới, định, tuệ, nương tựa vào Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, nhưng do sự tin tưởng chưa vững chắc, lựa chọn chưa đúng pháp môn, chưa phù hợp với căn cơ hiểu biết, nhận thức của mình, tu hành công phu định lực còn yếu, chưa chính thiện tinh tấn. Do bị nghiệp lực chi phối, năm dục sáu trần quấy phá, tâm vô minh ngăn che sự thật, chi phối ràng buộc tâm thức, làm cho thân tâm bất tịnh, loạn động, chưa đạt đến sự tự do, tự tại, an lạc, hoan hỷ, vui vẻ, thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi, chưa chứng đắc được tứ thánh quả, chưa nhập vào niết bàn. Mà tâm thức chỉ dừng lại ở việc hưởng thụ phước báo thế gian, nhân thiên, trong sáu cõi luân hồi, đời sau may mắn có được nhân duyên với Phật pháp, tiếp tục con đường tu hành tìm đường giải thoát.

Tuy nhiên trong số tứ chúng đệ tử Phật, cũng có những vị tu hành đúng pháp, đúng chân như, đúng chân tướng sự thật của các pháp, nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, về tam pháp ấn, trong Phật giáo. Đó là các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, đã đoạn diệt hết các sự vướng mắc của năm dục sáu trần, phá hết sự ngăn che của tâm vô minh, đoạn trừ hết các lậu hoặc, thân tâm thanh tịnh, đối với năm dục sáu trần không còn cảm thọ về yêu thích, chán ghét, vui sướng, buồn khổ, tâm thức không còn sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần, về các pháp. Tâm thức đã hiểu thấu sự thật chân tướng của các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, hiểu rõ về tính nhân duyên sinh và nhân duyên diệt, của tất cả các pháp trong năm dục sáu trần, biết được tất cả mọi thứ, có hiện hữu, có hình tướng, là năm ấm, sáu căn, tám thức, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã , tính không. Cho nên giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào thiền định, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Tà ác niệm trong tục đế

Tà ác niệm trong tục đế, là trạng thái thân tâm, sáu căn tám thức bất tịnh, loạn động, tạp niệm. Nguyên nhân là do năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ, chi phối, chỉ đạo, ràng buộc, sai khiến thân tâm, ba nghiệp thân, khẩu, ý làm các hình vi, tạo tác trái với pháp luật, giới luật, trái với đạo đức nhân cách con người. Tâm thức luôn bị nghiệp cảm lôi kéo chạy theo sự hưởng thụ của năm dục sáu trần, để thỏa mãn cái ta, cái của ta, do tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng lớn, về năm dục sáu trần, về cái ta, cái của ta. Dẫn đến các hành vi tạo tác của ba nghiệp đều bất tịnh, bất thiện, trái với chân tướng sự thật của các pháp, trái với chân lý giải thoát giác ngộ, trái với tri kiến của chư Phật, Đức Thế Tôn, trái với giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo.

Những người có tà ác niệm, thường là những người chưa tin vào Phật pháp, chưa tin vào đạo lý quy luật nhân quả, chưa tin Tam bảo, chưa tin vào sự lý, chưa tin vào chân lý giác ngộ giải thoát, chưa tin vào bản thân mình, chưa tin vào bất cứ người nào, tất cả đều hoài nghi, đa nghi. Do đó, người có tà ác niệm là người chưa hiểu biết, chưa có tuệ căn, là người có nhiều phiền não, lo lắng, loạn động, tạp niệm, bất tịnh, bất thiện, do chưa biết được đâu là chính thiện, đâu là tà ác, chưa tìm cho mình một con đường đúng đắn chắc thật về sự giác ngộ chân lý giải thoát. Chưa chủ động đến với Phật pháp, chưa nghiên cứu tìm hiểu, ngộ nhập Phật pháp, chưa biết được chân tướng sự thật của các pháp, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó chưa có được sự giác ngộ chân lý giải thoát, tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, chưa biết đến bốn chân lý Tứ diệu đế, tâm thức chưa thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ, chưa chứng được tứ thánh quả, chưa nhập vào niết bàn thường tịnh an vui.

Người có tà ác niệm tâm, là người có nhiều buồn khổ, lo lắng, phiền não, là người chưa được mọi người tôn trọng, tin tưởng, yêu quý. Tuy họ có được giúp đỡ, vì lòng từ bi nhưng không ai muốn thân cận giao lưu. Chúng ta không nên thân cận với những người ác tri thức, mà cần phải giao lưu thân cận với các bậc thiện tri thức, sẽ có được những lợi ích thiết thực cho việc tu hành, trên con đường đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Như vậy những niệm mà làm cho thân tâm của chúng ta bất tịnh, loạn động, tạp niệm, nó làm cho tâm thức bị vướng mắc vào vô minh, vào năm dục sáu trần, thì đó chính là tà ác niệm.

6.1.6. Định trong phần tục đế

Định này được sinh ra từ việc trạch pháp, lựa chọn pháp môn tu hành, tinh tấn tu hành đạt được sự hỷ lạc khinh an, gìn giữ bảo tồn trạng thái đó, được gọi là niệm, từ niệm tịnh sinh ra định, từ định sinh ra trí tuệ bát nhã.

Như vậy, định cũng được chia ra làm ba phần để giải quyết. Một là, định được xuất phát từ chính thiện tín, dẫn đến lựa chọn cho mình chính thiện trạch pháp. Từ đó chính thiện tinh tấn tu hành đạt được chính thiện hoan hỷ trong thân tâm, thân tâm hoan hỷ sinh ra an lạc yên ổn, chính thiện khinh an. Từ việc thân tâm khinh an, yên ổn sinh ra chính thiện niệm, là sự gìn giữ khắc ghi những trạnh thái tâm thức hoan hỷ vui vẻ, thân tâm luôn niệm chính thiện pháp, niệm pháp môn tu hành hành trì có công phu chắc thật, thường xuyên niệm Phật, pháp, tăng, niệm giác, chính, tịnh, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, không nhiễm vào năm dục sáu trần, không bị tâm vô minh quấy nhiễu, ràng buộc. Hiểu thấu về các quy luật của vạn pháp, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, từ đó đạt được sự tu niệm tâm thức trụ vào thể tính thanh tịnh, nhất tâm bất loạn, đạt được cảnh giới chính thiện định, là cảnh giới thanh tịnh, sáu căn tám thức tịnh viên cảnh trí, có sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả.

Hai là, định ở việc lựa chọn pháp môn tu hành, định pháp là sự mong muốn có được những điều tốt đẹp của năm dục sáu trần, của phước báu nhân thiên, định trong pháp nhân thừa và thiên thừa, định trong giới luật, năm giới trong sạch là nhân thừa, định trong mười giới thiện là thiên thừa. Đây là các cảnh giới định tâm của các tầng định thấp, định này do nhân duyên, thiện căn, phước đức của chúng ta chưa đủ lớn, chưa đủ điều kiện để đạt được các tầng thiền định cao hơn, như thanh văn, duyên giác, bồ tát, chư Phật, tương ứng với tam thừa, nhị thừa, đại thừa và Phật thừa.

Như vậy, chính thiện định nằm trong phước báu hủ lậu nhân thiên, cõi trời và cõi người, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Còn bị năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ, ràng buộc, ngăn che không cho tâm thức, sáu căn tám thức nhận biết được tính vô thường sinh diệt của các pháp, vô ngã, tính không, mà năm dục sáu trần, tâm vô minh lại ngăn che, ràng buộc tâm thức trong các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, làm cho tâm thức có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần. Do nghiệp lực lôi kéo, làm cho sáu căn tám thức bất tịnh, do không đủ duyên lành, do chưa nhận thức rõ về tâm vô minh, năm dục sáu trần, do chưa đoạn trừ được hết tâm vô minh, chưa thoát khỏi được sự ràng buộc của năm dục sáu trần, cho nên tâm thức vẫn phải chịu cảnh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ, có được hưởng phước báu nhân thiên, khi giữ được năm giới mười thiện.

Điều này được thể hiện trong thực tế do thân tâm có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, dẫn đến tà ác tín, mê tín, lựa chọn nhầm chính thiện pháp, lựa chọn phải tà ác pháp, lựa chọn phải pháp môn mà quả báo là phước báu nhân thiên, hoặc là quả báo khổ đế. Do đó tâm thức vẫn nằm trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, như lựa chọn sai, nhầm tôn giáo, học thuyết, triết học, và các lĩnh vực khác, mà những pháp đó chỉ là mang lại phước báu hủ lậu nhân thiên, do sự ham muốn hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi. Do nhu cầu đời sống sinh hoạt của con người, cho nên sáu căn tám thức, thân tâm, ba nghiệp còn bị ràng buộc trong năm dục sáu trần, trong sự ngăn che của tâm vô minh, không cho tâm thức nhận thức đúng chân tướng sự thật về các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Tất cả đều là các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Nếu chúng ta nhận thức bằng sáu tuệ căn, thì liền không bị phụ thuộc vào tâm vô minh, vào năm dục sáu trần, vào các pháp, phá tan được tâm vô minh, đoạn trừ được hết sự ràng buộc của năm dục sáu trần, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Ba là, tà ác định, được sinh ra từ tà ác tín, mê tín, lựa chọn nhầm vào tà ác pháp, sai pháp môn tu hành, từ đó tà ác tinh tấn tu hành, thân tâm loạn động, bất tịnh, ràng buộc vào năm dục sáu trần, tâm vô minh ngăn che chi phối, khiến tâm thức bị phiền não buồn khổ, lo lắng, bất an. Tà ác niệm nổi lên, tạp niệm xâm phạm quấy phá tâm thức bất tịnh, dẫn đến tà ác định. Đó chính là những điều xấu tà ác, do thân, khẩu, ý nghiệp, sáu căn, tám thức, tin vào những tà ác pháp, tà ma ngoại đạo, mà làm ra các hành vi tạo tác hại người, hại vật, hại việc, hại chúng sinh muôn loài, hủy hoại tâm thức thanh tịnh của chính mình, làm cho nó xấu tà ác, làm cho tâm thức thối nát, bẩn thỉu, hư hỏng. Nó thể hiện qua lời nói, suy nghĩ, tạo tác những hành vi trái pháp luật, trái giới luật trong Phật pháp, trái với chân tướng sự thật, trái với ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, trái với chân lý giải thoát giác ngộ. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhiều phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, do trong tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến. Do tham đắm vào các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên bị nó kéo tâm thức vào vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều khổ đau.

6.1.7. Xả trong tục đế

Xả trong tục đế cũng được chia ra làm ba vấn đề để giải quyết. Một là, chính thiện xả, mà giúp thân tâm thanh tịnh giải thoát. Hai là, chính thiện xả, mà chỉ có được phước báo nhân thiên, tâm thức không được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Ba là, tà ác xả.

Chính thiện xả trong tục đế, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, được hình thành từ việc lựa chọn đúng chính pháp Phật pháp, đúng pháp môn hợp với căn cơ, để tu hành, chính thiện trạch pháp. Từ đó chính thiện tinh tấn, tinh cần chuyên nhất, thể hiện bằng công phu hành trì pháp môn, giữ được trong sạch các giới luật, thân tâm được thanh tịnh. Từ đó sinh ra chính thiện hỷ, có được niềm vui, hoan hỷ, hạnh phúc, vui sướng, an lạc. Chính thiện khinh an, là cảm thọ về sự thanh tịnh, yên ổn của thân tâm, khi thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh, nhận thức rõ được về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, về vạn pháp đều là pháp vô thường, vô ngã, tính không. Từ đó có được chính thiện niệm, là luôn luôn niệm chính thiện pháp, niệm pháp môn tu hành, ghi nhớ những lời dạy bảo của Đức Thế Tôn, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nhận thức rõ về bốn vấn đề Tứ thánh đế. Đó là con đường chính thiện pháp đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, tâm thức chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức nhập diệt vào niết bàn thường tịnh an lạc. Tức là từ việc tinh tấn hành trì pháp môn, niệm Phật, pháp, tăng, niệm giác, niệm chính, niệm tịnh, nghiêm trì giới luật, niệm thí, niệm thiên, từ đó sinh ra chính thiện định.

Do việc giữ gìn được các giới luật trong sạch, thanh tịnh mà sinh ra chính thiện định tâm, là sự khẳng định chắc thật về chân lý giải thoát giác ngộ, là sự thật chân tướng của các pháp. Đây là cảnh giới của chính thiện định, do niệm ghi nhớ chính thiện pháp mà sinh, nhưng do các pháp đều là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp nương vào nhau mà có mặt, cái này sinh do cái kia sinh, cái này diệt do cái kia diệt, do đó tất cả các pháp đều là do nhân duyên mà sinh, chính thiện định cũng do nhân duyên mà sinh. Do đó tất cả các pháp cần phải buông bỏ, cần phải đoạn trừ, xa rời để thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, vắng lặng, không bị năm dục sáu trần làm ô nhiễm, không bị tâm vô minh ràng buộc, tâm thức không bị các pháp mê hoặc, đó chính là chính thiện xả. Chính thiện xả là tâm thức của chúng ta nhận thức được rõ chính niệm, sinh chính định, sinh chính tuệ, tuệ giác, là trí tuệ giác ngộ chân lý giải thoát, là bát nhã, là tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tức là chúng ta nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về vạn pháp vô thường, vô ngã, tính không, từ đó buông bỏ, xả ly tất cả những thứ đó. Đó chính là sự hiểu biết trí tuệ chân chính, là trí tuệ bát nhã chân chính, chúng ta càng xả bỏ được sạch chơn tất cả những sự vướng mắc về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về vạn pháp thì sự chứng đắc quả vị tứ thánh quả càng cao, thành tựu nhiều công đức, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Chính thiện xả trong tục đế mà có được hưởng quả báo là phước báo nhân thiên, chính thiện xả được sinh ra từ việc lựa chọn pháp môn tu hành, từ việc lựa chọn các pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Lựa chọn tất cả các pháp trong thế gian như việc lựa chọn các pháp của các tôn giáo, học thuyết, triết học, hay các ngành, các lĩnh vực khác của khoa học để nghiên cứu học hỏi, tin tưởng, thực hành để nhận biết về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan này. Thông qua việc tiếp xúc của sáu căn với sáu trần tạo ra sáu thức. Hoặc dựa vào các thiết bị công cụ khoa học kỹ thuật, hiện đại tối tân tinh vi, vi tính ngày nay, để nhận biết về vạn pháp. Hoặc là lựa chọn đúng chính pháp Phật pháp, lựa chọn đúng pháp môn nhưng không tinh cần chuyên nhất tinh tấn tu hành, do không có đủ năng lực, không có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật giáo, do nhận thức chưa đúng về Phật giáo, chưa đúng pháp môn tu hành. Hoặc do các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, do năm dục sáu trần, vô minh chỉ đạo chi phối, ràng buộc, do nghiệp chướng quấy nhiễu, do mong muốn hưởng thụ thỏa mãn về cái ta, cái của ta, mà cầu mong được hưởng phúc, lộc, thọ trên thế gian. Tức là cầu mong được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, do bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, cho nên thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp bị kẹt trong những cảm thọ của năm dục sáu trần. Tâm thức bị kẹt trong tâm vô minh, bị kẹt trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ. Tuy có được chút ít hưởng thụ thỏa mãn về phước báo nhân thiên, nhưng khi phước báo hưởng hết mà không được tạo mới, thì phước báo đó hưởng hết rất nhanh. Khi phước báo hết thì khổ đau ập đến, khổ đế làm chủ tâm thức, khi vô thường sinh diệt đến, sinh lão bệnh tử đến, thì thân thể bị phân hủy tan rã theo quy luật vật chất, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Thân tứ đại lại trở về với nguyên thủy tứ đại, đất, nước, gió, lửa, còn tâm thức bị kẹt, bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, bị tâm vô minh chi phối làm chủ, thân tâm bị kẹt trong sự hưởng thụ thỏa mãn phước báo nhân thiên, bị kẹt trong thế giới cảnh giới cõi trời, cõi người, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Do nhận thức sai lầm về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, không hiểu thấu tâm vô minh, không đoạn trừ hết tâm vô minh, chưa thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, sáu căn, tám thức chưa được thanh tịnh. Cho nên tâm thức vẫn bị nghiệp thức tái sinh luẩn quẩn trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, chính thiện xả mà quả báo là nhân thiện, thì chúng ta cần có chính thiện tín vào Phật pháp, lựa chọn cho mình một pháp môn để tu hành, tu hành giới luật, giữ gìn năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch, chịu lắng nghe giảng kinh thuyết pháp. Nhận thức hiểu thấu về Phật pháp, hiểu thấu ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, buông bỏ bớt những tà ác pháp, các giáo pháp, tôn giáo, học thuyết, triết học, thiên về nghiên cứu các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Bằng các căn thông thường, tri kiến, trí tuệ hiểu biết nhận thức thông thường của con người, mà không phải dùng sáu tuệ căn, tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, để nhận biết sáu trần, nhận biết về chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường, vô ngã, tính không. Cho nên tâm thức của con người thường vướng mắc vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ tri kiến.

Như vậy chúng ta cần xả bỏ những quan điểm, hiểu biết, tri kiến sai lầm đó. Cần phải thanh lọc thân tâm cho bớt đi những tập tính, thói quen, nếp suy nghĩ, tạo tác của ba nghiệp xấu tà ác. Bớt đi sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần, xả bỏ những pháp bất thiện, bất tịnh, các pháp xấu tà ác. Đó là những nguyên nhân để sinh ra những nổi buồn khổ, khổ đế, từ đó giúp cho thân tâm được nhẹ nhàng, vui vẻ, hoan hỷ, an lạc, tự do, tự tại, thanh tịnh giải thoát giác ngộ chân lý. Tâm thức luôn nhớ nghĩ, niệm xả hết tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh, nhận thức rõ về nó, đi đến tinh tấn tu hành pháp môn chính pháp để đoạn trừ, xả bỏ tất cả vạn pháp, xả bỏ tất cả sự vướng mắc ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh. Từ đó thân tâm được hoan hỷ vui vẻ, an lạc, yên ổn, niệm thanh tịnh, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, định pháp môn, định chính pháp Phật pháp, định vào chân đế, đạo đế, diệt đế, định tâm vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, đạt được chính thiện định, chính thiện xả, chính thiện tuệ, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Tà ác xả trong tục đế, được hình thành từ tà ác tín, mê tín, dẫn đến lựa chọn tà ác pháp, tà ác trạch pháp. Đó là những pháp hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống, hại chính mình. Do trong tâm có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần. Do tâm vô minh, nghiệp trướng ngăn che và ràng buộc thân tâm trong những cảm thọ về vui buồn sướng khổ, dẫn đến các hành vi tạo tác tà ác, tinh tấn làm ra các việc của thân, khẩu, ý nghiệp đều là hại người, lợi mình, hại đến chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống. Thể hiện qua việc vi phạm pháp luận, vi phạm giới luật, làm cho gia đình bất hạnh, xã hội bất an, quốc gia dân tộc yếu kém, thế giới bất hòa, chiến tranh, nhân loại thì nghèo đói, buồn khổ, phiền não, lo lắng, không có sự hoan hỷ, vui vẻ, khinh an, yên bình. Thân tâm nhiều bất tịnh, bất thiện, có nhiều tà ác niệm, tạp niệm, loạn động trong tâm thức, sinh ra những sự khó chịu buồn khổ, giày vò, rối loạn trong tâm thức, khiến cho thân tâm phải chịu cảnh buồn khổ dài lâu, sinh ra chán nản, thất vọng, tuyệt vọng, không có lối giải thoát, hoàn toàn bế tắc. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp không được thanh tịnh giải thoát giác ngộ chân lý, không bước vào được cảnh giới thiền định, tịch tịnh, mà thân tâm loạn động.

Do tham vọng vào năm dục sáu trần, mà tu hành theo tà ác pháp, có được tà ác định, nhưng định này chỉ là định kiến sai lầm, sai trái với chân lý giải thoát giác ngộ, sai pháp luật, sai trái với giới luật, sai trái với đạo đức, nhân cách con người, đi ngược lại với lợi ích của mọi người. Chưa chịu nghe lời khuyên bảo của các bậc thiện tri thức, các bậc thiện nam tử, thiện nữ nhân, bốn chúng đệ tử Phật khuyên bảo, chỉ dẫn, giúp đỡ cho biết được các chính thiện pháp, các pháp môn phù hợp với từng căn cơ, trình độ, hiểu biết của mình. Từ đó tinh tấn tu hành đạt được những thành tựu, có được sự hoan hỷ, vui vẻ, khinh an, thiền định xả bỏ sự vướng mắc của tâm thức vào năm dục sáu trần, cắt đứt sự ràng buộc của tâm vô minh, ngộ nhập tri kiến Phật, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Tà ác xả, là xả bỏ các chính thiện pháp, chưa chịu nghe lời, chưa làm theo những gì mà Đức Thế Tôn chỉ dạy Phật pháp, chưa tu hành để nhận thức, hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để được đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả. Mà lại đi ngược lại với chân tướng sự thật của các pháp, của năm dục sáu trần, của tâm vô minh. Nhận thức sai lầm về các pháp, đi theo con đường tà ác nghiệp, tạo ra những nguyên nhân tập đế, dẫn đến khổ đế, để rồi phải chịu nhiều phiền não, đau khổ, tà ác xả cũng giống như tà ác tri thức, thường làm ra các sự vật, sự việc, hiện tượng những tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, hại người lợi mình, để nhằm được thỏa mãn hưởng thụ những vật thực trong năm dục sáu trần, thỏa mãn cái tôi, cái của tôi.

Người có tâm tà ác xả, là người tâm vô minh, là người tạo ra nhiều nguyên nhân tập đế, dẫn đến phải chịu quả báo xấu tà ác, quả khổ đế, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Như vậy, tà ác xả hay tà ác tri thức, là do trong quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, có nhiều những cảm thọ về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, về năm dục sáu trần. Khi yêu thích thì hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, thủ giữ bám chấp, sở hữu không buông bỏ. Còn khi chán ghét thì cố gắng tìm đủ mọi cách, thủ đoạn, bất chấp luật lệ, bất chấp pháp luật, giới luật, để phủ nhận những điều sai trái pháp luật mà mình đã tạo ra, trái đạo đức, nhân cách con người. Do tâm có tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, cho nên hình thành lên những tập tính, thói quen xấu tà ác, như tự tư, tự lợi, ích kỷ ghen ghét, đố kỵ hiền tài, làm hại người tốt, trà đạp lên nhân phẩm đạo đức, nhân cách của con người. Tạo ra danh tiếng xấu tà ác cho xã hội, khiến cho mọi người buồn khổ, phiền não, bất an, tất cả những thứ đó thuộc về tâm tà ác xả, tâm tà ác tri thức, là người si mê không hiểu biết. Do tâm vô minh ngăn che, do năm dục sáu trần ràng buộc, không biết được chân tướng sự thật của năm dục sáu trần, tất cả mọi thứ đó đều gọi là pháp. Pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó những người có tâm tà ác xả, thì chưa nhận thức được về điều này, chưa tin tưởng được vào Phật pháp, chưa tiếp xúc với đạo đế là nguyên nhân, là con đường đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, giúp cho tâm thức đạt được sự chứng đắc diệt đế, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Mà ngược lại người có tâm tà ác xả, là người tiếp xúc với tập đế, là những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, dẫn đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chịu nhiều buồn khổ, khổ đế.

Như vậy, chính thiện xả, là xả bỏ việc xấu tà ác, làm các việc chính thiện, còn tà ác xả, là xả bỏ những việc chính thiện, mà làm những việc xấu tà ác, một bên là được thiện quả, một bên là chịu ác báo. Nhân nào quả đấy, nhân của tập đế, thì quả là khổ đế, nhân là vướng mắc trong năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc, thì quả là sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác. Nhân là đạo đế, thì quả là diệt đế, nhân là các pháp giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, phá tan tâm vô minh, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần, thì tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

6.2. Bảy bồ đề phần hay by giác chi trong phần chân đế

Bảy giác chi, thể hiện sự giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc tứ thánh quả. Bằng việc tu hành đạo đế có công phu, thông qua ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Thể hiện bằng sự đoạn trừ hết các lậu hoặc, cắt đứt hết các sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh. Trong quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những cảm thọ thanh tịnh của thân tâm, của sáu căn tám thức, của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, đạt được trạng thái tâm thức tịnh viên cảnh trí. Không còn những cảm thọ về sự yêu thích, chán ghét, buồn vui, sướng khổ của thân tâm đối với năm dục sáu trần. Cũng không còn sự ái nhiễm, thủ chấp, sở hữu về những thứ trong năm dục sáu trần, những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không đó. Thân tâm chúng ta đều không có vướng mắc, không liên quan, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập vào được cảnh giới thiền định, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Như vậy, bảy bồ đề phần trong chân đế, thể hiện bằng công phu chứng đắc đoạn diệt tâm vô minh, cắt đứt hoàn toàn sự ràng buộc của năm dục sáu trần. Còn bảy bồ đề phần trong tục đế, mới chỉ nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, và bằng quá trình tu hành tinh tấn để đoạn trừ. Trong quá trình đoạn trừ vẫn còn nhiều sự vướng mắc trong năm dục sáu trần, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp chưa hoàn toàn được thanh tịnh, vẫn nằm trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, hưởng phước báo nhân thiên, hoặc đọa xuống ba đường ác.

Do đó, bảy bồ đề phần trong chân đế, được bắt nguồn từ việc tu hành theo chính thiện pháp đúng đắn, đúng chính thiện pháp trong Phật pháp. Có được sự hiểu thấu ba pháp ấn, về chân tướng sự thật của các pháp, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, có được pháp môn tu hành phù hợp đúng căn cơ, đúng chính tín, phù hợp với nhận thức tri kiến, nhân duyên, thiện căn, phước đức của chính mình. Từ đó chính thiện tinh tấn tu hành, hành trì pháp môn có công phu thuần thành, chuyên nhất, pháp môn mà mình đã lựa chọn trong tam tạng kinh điển, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Trong tám vạn bốn nghìn pháp môn tu hành đến giải thoát giác ngộ chân lý trong Phật giáo, đạt được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, không bị năm dục sáu trần, vô minh quấy nhiễu, ràng buộc ngăn che, biết rõ được chân tướng sự thật về các pháp, về tam pháp ấn, đó là các pháp vô thường, vô ngã, tính không, giúp cho tâm thức hoàn toàn thanh tịnh nhập vào thiền định, thiền tuệ, có được trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến của chư Phật, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Tức là đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát một cách chân thật, chính xác rõ ràng minh bạch, chứng đắc được sự yên ổn, an lạc, khinh an, an tâm của thân tâm, từ đó sinh ra các chính thiện niệm thanh tịnh, vô niệm thanh tịnh. Tức là không có niệm nào vướng mắc vào năm dục sáu trần, và sự ràng buộc của tâm vô minh, mà chỉ là sự thanh tịnh vắng lặng giác ngộ chân lý giải thoát chân thật. Để từ đó thân tâm bất động, thanh tịnh, vắng lặng đi sâu vào thể tính chân tâm, nhập vào cảnh giới thiền định, thì tâm thức liền trong trạng thái xả bỏ tất cả mọi thức, mọi sự quan hệ với thế giới bên ngoài, sáu căn, tám thức hoàn toàn được thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí. Thân tâm không còn những cảm thọ về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, không còn ái nhiễm, thủ, hữu, tất cả đều là buông xả, xa lìa vạn pháp. Cho dù đó là pháp gì, thiện pháp hay tà ác pháp, đều được buông bỏ, vì pháp là pháp phương tiện, là công cụ, là con đường đưa tâm thức đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, an vui, tịnh tịch, chứng đắc tứ thánh quả, đạo đế là nguyên nhân là con đường đưa tâm thức đến tịch diệt niết bàn.

Do đó, bảy bồ đề phần trong chân đế, là trạng thái của tâm thức theo bảy đoạn đường, để đi đến sự giải thoát giác ngộ chân lý hoàn toàn, trong đó không còn có mặt của năm dục sáu trần, tâm vô minh, vì chúng đã bị đoạn trừ hết. Tức là trong chân đế không còn có nhân duyên quả báo của sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, mà chỉ là trạng thái vui vẻ, hoan hỷ, khinh an, yên ổn, vắng lặng thanh tịnh, tự do, tự tại, vô niệm. Thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh đến tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, xả bỏ được hết hoàn toàn các lậu hoặc, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

7. Bát chính đạo

Bát chính đạo, bao gồm tám chi phần, tám đoạn đường, tám bước đường đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Đó là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, chính định.

 

7.1. Bát chính đạo trong tục đế

Được chia làm ba vấn đề, để nhận biết, nhận thức rõ về tập đế và khổ đế. Một là, bát chính đạo giúp cho thân tâm của chúng ta nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh. Do thoát khỏi được những nguyên nhân tập đế, dẫn đến thoát khỏi sự khổ đế, đạt được sự hoan hỷ, an lạc, tự do, tự tại, thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát. Hai là, bát chính đạo mang lại phước báu nhân thiên. Ba là, bát tà đạo, là do trong thân tâm có nhiều tà ác, tri kiến, do sự hiểu biết sai lầm, về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, hiểu biết sai lầm về năm dục sáu trần. Do tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật của các pháp, dẫn đến tâm thức bị tâm vô minh, bị năm dục sáu trần làm chủ, chi phối, đánh lừa, ràng buộc vào những cảm thọ, về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ của thân tâm. Do đó sinh ra duyên ái nhiễm, thủ, hữu, làm cho thân tâm bị bất an, bất tịnh, bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc tâm thức, lôi kéo tâm thức đi vào con đường sinh tử luân hồi, sinh lão bệnh tử, trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

7.1.1. Chính kiến trong tục đế

Chính là chính thiện pháp trong Phật pháp, là ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Kiến là sự thấy biết hiểu biết, nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về vạn pháp thông qua việc học Phật tu pháp, mà có được chính kiến, hiểu thấu được Phật pháp, là pháp phương tiện giúp cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, biết được các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Hiểu thấu được như vậy được gọi là chính kiến.

Nói cách khác chính kiến trong tục đế, là sự thấy biết rõ ràng minh bạch chính xác, chắc thật về khổ đế, là kết quả của những nguyên nhân tập đế. Tập đế là nguyên nhân sinh ra nhiều thứ khổ đế, đó là sinh lão bệnh tử, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạnh. Thân tâm bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ràng buộc làm chủ, chưa biết đến Phật pháp. Và còn nhiều nguyên nhân dẫn đến khổ đau, là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sinh ra sáu thức, nhận thức phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, sinh ra sự tham ái, thủ, hữu, vì cái ta, cái của ta. Từ đó tâm thức bị ràng buộc vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp đều là vô thường, vô ngã, tính không, cho nên mới hình thành nên khổ đế. Tâm thức bám chấp vào năm dục sáu trần, bám chấp vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức, liền bị vô thường sinh diệt lôi cuốn tâm thức đi trong sinh tử luân hồi, luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Khi chúng ta nhận thức hiểu rõ về những nguyên nhân dẫn tâm thức đến khổ đế, thì chúng ta sử dụng chính thiện pháp trong Phật pháp. Đó là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, từ đó tinh tấn tu hành để đoạn trừ hết tất cả những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, quả khổ đế, để sáu căn tám thức thanh tịnh, thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan được sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh. Từ đó chứng đắc giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Chính kiến là sự hiểu rõ về tục đế, là bước đường đầu tiên đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát.

Năm xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế, năm Ngài được hai mươi chín tuổi, đã có nhân duyên, thiện căn, phước đức, đủ lớn chính muồi. Ngài đã từ bỏ gia đình, vợ con, người thân, từ bỏ sự hưởng thụ thỏa mãn sáu căn tám thức, thân tâm về năm dục sáu trần, quyết tâm ra đi tìm chân lý giác ngô giải thoát khỏi mọi khổ đau, giải thoát tâm thức khỏi sinh tử luân hồi. Ngài gặp nhiều vị đồng đạo, nhiều giáo lý, nhưng không đưa tâm thức đến sự giải thoát khỏi buồn khổ, không thoát khỏi được sự sinh tử luân hồi. Do đó Ngài tự mình cầu tìm chân lý giải thoát giác ngộ, trong suốt sáu năm tu hành khổ hạnh trong rừng khổ hạnh, thân tâm mệt mỏi, yếu đuối, sức tàn lực kiệt, bên bờ sinh tử, sự sống mong manh. Ngài đã hồi tưởng lại toàn bộ cuộc đời từ nhỏ đến bây giờ, thì Ngài chợt nhận ra một điều kỳ diệu nhiệm mầu trong qua khứ.

Lúc Ngài còn nhỏ đi theo lễ hạ điền, Ngài ngồi dưới gốc cây táo, trong tư thế tọa thiền, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, không có sự ràng buộc quấy nhiễu của năm dục sáu trần, thì Ngài đã nhập vào được cảnh giới thiền định, thân tâm an lạc, tự do, tự tại, thanh tịnh. Mặc dù bầu trời, hoàn cảnh xung quanh đã tối, nhưng bóng của cây táo và chỗ Ngài ngồi tọa thiền vẫn còn ánh nắng mặt trời, vẫn còn bóng của cây táo trên nền đất, không bị thay đổi kể cả từ lúc Ngài nhập vào trạng thái thiền định. Cha của Ngài là đức vua Tịnh Phạn đi tìm gặp được Ngài trong tư thế hoàn cảnh đó, đã ca ngợi tán thán sự mầu nhiệm, khả năng thần diệu của Ngài. Chính vì nhân duyên này mà Đức Thế Tôn tỉnh ngộ, tìm được chính kiến, biết được con đường đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát. Đó là con đường trung đạo, là sự tu hành tỉnh thức, hiểu thấu chân tướng sự thật của các pháp là vô thường, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, nhập vào được trạng thái thiền định, vượt ra khỏi sự ràng buộc vướng mắc, che lấp của tâm vô minh, của không gian và thời gian, đạt đến sự thanh tịnh tịnh diệt, tự do, tự tại, an lạc, không còn chướng ngại, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. Tâm thức đạt đến sự bất sinh, bất diệt, theo thời gian và không gian.

Con đường trung đạo là con đường không hưởng thụ, thỏa mãn năm dục sáu trần, không bám chấp, không vướng mắc vào những cảm thọ, vui buồn, sướng khổ. Và cũng không tu hành khổ hạnh ép xác thân, chỉ cần giữ được thân thể khỏe mạnh, cắt ái ly dục, thanh tịnh, yên ổn, bình thường để tu hành, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, tâm thức nhập được vào trạng thái thiền định, xa rời được sự quấy nhiễu, ràng buộc của năm dục sáu trần. Tức là không bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật, về các pháp vô thường, vô ngã, tính không, thân tâm chỉ còn có cảm thọ, về sự thanh tịnh, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, không còn có cảm thọ, về sự yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ về năm dục sáu trần. Tâm thức không có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần, về các định kiến, định pháp, những khái niệm, khẩu hiệu, được con người tạo ra bằng tri kiến con người có điều kiện. Mà không phải là tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là bậc hoàn toàn giác ngộ chân lý giải thoát, có năng lực thần kỳ, chứng đắc được tam minh, lục thông, biết được vạn pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, vạn pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Từ đó đoạn trừ được hết mọi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, giúp cho thân tâm hoàn toàn được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, ngộ nhập tri kiến Phật. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy con đường giải thoát giác ngộ chân lý, là con đường trung đạo của thân và tâm thức, tức là thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, trung đạo. Vì sáu căn tám thức, mười tám giới, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Năm dục sáu trần cũng là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên không thể tìm trong sáu căn, tám thức, được con đường giải thoát giác ngộ chân lý. Mà phải tịnh hóa nó, giải thoát thân tâm khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật của các pháp, bằng tam pháp ấn. Do đó con đường giải thoát, là con đường giải thoát tâm thức khỏi tâm vô minh, khỏi năm dục sáu trần, còn thân xác, sáu căn, tám thức đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Thân xác là do tứ đại, đất, nước, gió, lửa hợp thành, nuôi dưỡng và rỗi sẽ ly tán, tàn hoại, đi đến chỗ diệt vong, theo quy luật, sinh lão bệnh tử. Đối với vật chất, thực vật, là thành trụ hoại không, hoặc sinh trụ dị diệt, chúng có hình tướng, có hiện hữu, nhưng rồi chúng sẽ bị biến mất, trở về với nguyên thủy, sinh diệt tiếp nối. Nếu tâm thức chúng ta bám chấp vào nó, nhận nó là bản thể của mình, nhận nó là ta, là cái của ta, thì cũng đều bị nó, kéo vào sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ, do tạo ra nguyên nhân tập đế, thì phải chịu quả khổ đế.

Do đó chính kiến là bước đường đầu tiên, để giúp cho chúng ta đi đúng con đường giác ngộ chân lý giải thoát, mà Đức Thế Tôn đã đi qua trước. Đó là sự nhận thức chính xác, chắc thật, về con đường trung đạo của thân tâm, đưa thân tâm đến sự thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những cảm thọ hoàn toàn thanh tịnh, không bị vướng mắc vào năm dục sáu trần, phá tan màn chắn ngăn che chân tướng sự thật về các pháp của tâm vô minh, biết được sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Từ đó giúp cho thân tâm sáu căn tám thức ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, nhập vào cảnh giới thiền định, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh an lạc, có được thần lực, tam minh, lục thông.

Chính kiến trong tục đế là kiến thức, là nhận thức, hiểu biết, về chân tướng sự thật của các pháp. Pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, do có sáu tuệ căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, khi Ngài tu hành giác ngộ, thấy biết được sự thật đó. Chính kiến là kiến thức hiểu biết, nhận thức của chúng ta, về các sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, theo tri kiến Phật, đúng chân lý, giúp ích cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, xa lìa những ràng buộc của năm dục sáu trần, tâm vô minh ngăn che sự thật, về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, sinh ra sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, sinh ra những cảm thọ, về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, đây là nguyên nhân sinh ra các nỗi khổ, tập đế là nhân khổ đế là quả.

Người có chính kiến, là người có nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật giáo, có thiện căn, tuệ căn khi học Phật tu pháp, có phúc đức, do ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm các việc chính thiện, giúp đỡ mọi người, mọi chúng sinh muôn loài có được sự thanh tịnh thân tâm. Có được chân hạnh phúc, an lạc, tự do, tự tại, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Chính kiến ở đây là bước đường đầu tiên, để đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát. Chính kiến này là kiến thức, là hiểu biết, nhận thức của sáu tuệ căn khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu tuệ thức, sáu tuệ căn, tám tuệ thức này, do nương vào tri kiến của chư Phật, Đức Thế Tôn mà có được chính kiến. Nhưng mới chỉ là sự nhận thức của sáu tuệ căn, nó chưa phải là tri kiến Phật, do tu hành đạt đến trạng thái thiền định, lý nhất tâm bất loạn, minh tâm kiến tính, vô niệm, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, tịch diệt, mà có được tri kiến Phật, có được trí tuệ bát nhã, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Chính kiến được hình thành từ chính tín, là sự tin tưởng chắc thật vào Phật pháp, vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, là sự lựa chọn trạch pháp đúng đắn, đúng với chính thiện pháp, đúng với pháp môn, phù hợp với căn cơ, nhân duyên, thiện căn, phước đức của nghiệp thức, của sáu căn tám thức, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp sớm đạt được sự thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, có được kết quả chân chính, hoan hỷ, an lạc, yên ổn trên con đường thành đạo.

Chính kiến trong tục đế mang lại quả báo là phước báo nhân thiên. Đây là do chúng ta chưa đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp, chưa có được chính tín, chính thiện pháp, để tu hành đạt đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả. Do việc tu hành đạt đến vô niệm, nhất tâm bất loạn, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Mà chúng ta mới chỉ có được chính kiến, kiến thức, hiểu biết, nhận thức được pháp nhân thừa, thiên thừa, sự tin tưởng, lựa chọn pháp phụ thuộc rất nhiều vào nhân duyên, thiện căn, phước đức của chúng ta với Phật pháp. Tức là chúng ta mới tin tưởng và lựa chọn các pháp thuộc về nhân thừa, thiên thừa, chưa đủ niềm tin, khả năng để lựa chọn các pháp tam thừa, tiểu thừa, nhị thừa, đại thừa, Phật thừa, hay pháp thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa, để có được các quả vị tương ứng với các pháp.

Do đó những người lựa chọn tin tưởng pháp nhân thừa, thì tu hành giữ gìn trong sạch năm giới cấm, không vi phạm pháp luật, còn pháp thiên thừa, giữ gìn trong sạch mười giới thiện, thân tâm, sáu căn tám thức ba nghiệp trong sạch, thì chứng đắc được cảnh giới chư thiên, chứng đắc các bậc thiền, tứ thiền thiên, là tứ thiền, tứ không thiền. Do đó, chính kiến trong tục đế mang lại lợi ích phước báo nhân thiên, thì vẫn nằm trong sinh tử luân hồi, trầm luân lên xuống trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Như vậy, chính kiến trong tục đế mang lại phước báo nhân thiên, là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, còn có sự hiểu biết sai lầm về các pháp vốn là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do thân tâm còn có nhiều vướng mắc trong năm dục sáu trần, do tâm thức còn có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần. Do đó dẫn đến sự lựa chọn pháp môn chưa đúng với chính pháp Phật pháp, chưa đúng căn cơ, trình độ, nhận thức, hiểu biết, chưa hợp với nhân duyên, thiện căn, phước đức trong Phật pháp. Lựa chọn nhầm giáo pháp, chọn nhầm những nền tôn giáo, học thuyết, triết học khác. Mà quả báo chỉ được là phước báo nhân thiện, chỉ là sự hưởng thụ thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi, thông qua những sự cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, khi được hưởng thụ thỏa mãn phúc, lọc, thọ, về năm dục sáu trần như ý, mà không biết tất cả những thứ cảm thọ đó, đều làm cho thân tâm bất tịnh, bất thiện, loạn động, vướng mắc vào năm dục sáu trần, ràng buộc vào tâm vô minh, bám chấp vào những thứ, những pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, bị nghiệp lực lôi kéo tâm thức, đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác nhiều buồn khổ. Tức là thân tâm chưa có được tri kiến Phật, chân thực đưa tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp đến sự thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Trong thực tế đời sống xã hội hiện nay, đại đa số chúng ta thường có chính kiến, mà quả báo là phước báo nhân thiên. Trong đó tứ chúng đệ tử Phật cũng mới chỉ có chính kiến, nhận thức được rõ về Phật pháp, về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nhận thức rõ tâm vô minh, nhận thức rõ năm dục sáu trần. Chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, nhưng để tu hành đạt đến trạng thái thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, thì còn hạn chế, ít người tu hành có được công phu thiền định cao thâm, thanh tịnh, tịch diệt, đạt đến cứu cách niết bàn thường lạc ngã tịnh. Vì còn nhiều tập tính, phiền não, còn sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng vào năm dục sáu trần, còn phần đông đại chúng, thì đa phần thân tâm đều chạy theo sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, vì cái tôi, cái của tôi.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mang lại nhiều cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, mà thân tâm không được thanh tịnh, bị nhiễm duyên ái, thủ, hữu. Tức là con người thông thường trong xã hội thường chạy theo những nghiệp thiện, ba nghiệp, thân, khẩu, ý nghiệp, tạo tác hành động, việc làm thiện. Thể hiện qua cuộc sống, là người có đạo đức, nhân cách, phẩm chất tốt, chấp hành đúng pháp luật, giới luật, về đạo tâm, thì do nhân duyên, thiện căn, phước đức chưa đủ, chưa chín muồi với Phật pháp, với chân lý giác ngộ giải thoát, xa lìa tất cả khổ đế, được tất cả niềm vui diệt đế, sự vui vẻ, hạnh phúc, an lạc. Do thân tâm thanh tịnh không nhiễm bụi trần, cắt đứt sự ràng buộc của tâm thức vào năm dục sáu trần, vào tâm vô minh ngăn che sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, xa dời được tất cả các pháp thế gian, trong đó có các tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học các nghành nghề, thuộc về pháp mang lại phước báo hủ lậu, phước báo nhân thiên. Trong Phật giáo là người tu hành theo năm giới cấm, mười giới thiện, tuy vẫn nằm trong luân hồi sáu cõi ba đường ác, nhưng được hưởng phước báo nhân thiên. Kiếp sau còn giữ lại được thân người hoặc thân chư thiên, để tiếp tục có cơ hội gặp được chính pháp Phật pháp, gặp được pháp môn phù hợp với căn cơ, để tiếp tục được tu hành theo tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Tuy các pháp là pháp bình đẳng, các tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học là pháp bình đẳng, nhưng chân lý giải thoát giác ngộ chỉ có trong Phật giáo. Đó là tam pháp ấn, đó là tam tạng kinh, mười hai giao, ba bảy phẩm trợ đạo, là pháp Tứ diệu đế, là pháp mô tả về bốn chân lý, đưa tâm thức chúng ta đến sự giác ngộ chân lý giải thoát chân thật, chứng đắc tứ thánh quả. Tâm thức hoàn toàn thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Cho dù bạn là ai, bạn xuất thân từ nơi nào, tri kiến, hiểu biết, nhận thức của bạn ra sao, bạn thuộc vùng miền, quốc gia, dân tộc nào, bạn đang theo tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học ngành nghề nào, thì tất cả đều được bình đẳng học Phật tu pháp. Không có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, và nương tựa vào ngôi Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, đều được bình đẳng giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui.

Tà ác kiến hay tà ác tri thức trong tục đế: Tà kiến, là những hiểu biết sai lầm về năm dục sáu trần, về vạn pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tà kiến là những điều thiếu hiểu biết, vô trí, vô giác, đi ngược lại với những hiểu biết về chính kiến, không hiểu biết về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đi ngược lại với chân tướng sự thật về các pháp vô thường, vô ngã, tính không, mà lại chưa hiểu chính pháp, hiểu sai về các pháp là thường, là không sinh diệt, có ngã, là thật có. Do sáu căn thông thường nhận biết về sáu trần, tạo ra sáu thức, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, thể hiện là người có tà tri tà kiến. Là người có các hành vi tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý trái với đạo đức, nhân cách con người, vi phạm pháp luật, giới luật, làm nhiều điều xấu tà ác, hại người, hại vật, hại chính bản thân mình, nhân nào quả đấy. Thiện nhân thì có thiện quả, ác nhân thì có ác báo, thân tâm người có tà tri tà kiến luôn bất tịnh, bất thiện, luôn chạy theo sự hưởng thụ, ham muốn thỏa mãn về năm dục sáu trần. Do bị những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét của thân tâm đối với năm dục sáu trần. Tức là thân tâm luôn bị tham đắm ràng buộc vào những thứ, những pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó bị nó lôi cuốn theo chôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Tà ác kiến, là những hiểu biết hoặc chưa hiểu biết các pháp đúng với chân tướng sự thật của chúng, chưa hiểu được các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chưa hiểu được bốn chân lý trong pháp Tứ diệu đế, khổ tập diệt đạo. Tức là chưa hiểu được những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, nhân đạo đế, dẫn đến quả diệt đế, do không biết hoặc hiểu sai về những nguyên nhân tập đế và quả khổ đế, cho nên tâm thức bị loạn động, phiền não. Không biết đâu là nguyên nhân dẫn đến buồn khổ, do đó không thể đoạn trừ được hết những buồn khổ, khổ đế, thân tâm chạy theo năm dục sáu trần, bị tâm vô minh chi phối, chỉ đạo, ràng buộc thân tâm trong những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, ái nhiễm, thủ, hữu, vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó bị nghiệp thức, bị năm dục sáu trần, tâm vô minh kéo đi trong sinh tử luân hồi, trầm luân trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Người có tâm tà ác kiến, là người thường vi phạm năm giới cấm, mười thiện, vi phạm pháp luật, xa ngã vào các tệ nạn xã hội, do tâm thức có tham, sân, si, mạng, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý đều bị năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ, chỉ đạo sai khiến, làm cho thân tâm bất tịnh, bất thiện, bị nghiệp lực lôi kéo theo con đường sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, dài lâu chịu nhiều buồn khổ, trong đời này vào nhiều đời tiếp theo, do nhân nào quả đấy, chân thật không giả.

7.1.2. Chính tư duy trong tục đế

Một là, chính tư duy là những tâm niệm ghi nhớ, hiểu thấu về những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế. Tức là nhận biết tục đế, nhận biết tâm vô minh, nhận biết về các pháp, hiểu được chân tướng sự thật của các pháp, là vô thường, vô ngã, tính không. Từ đó đoạn trừ những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh che lấp sự thật, giúp cho tâm thức được thanh tịnh, giác ngộ được chân lý giải thoát, nhập được vào thiền định, thiền tuệ, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Hai là, chính tư duy được sinh ra từ chính kiến, mà phước báo được hưởng là hủ lậu nhân thiên. Phước báu này vẫn nằm trong lục đạo luân hồi, là phước báu hủ lậu do thân tâm vẫn bị năm dục sáu trần ràng buộc, tâm vô minh che lấp sự thật, chưa hiểu và từ bỏ được sự vướng mắc của tâm thức vào các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Ba là, tà ác tư duy được sinh ra từ tà ác kiến. Tà ác tri kiến là những tư duy trái với chân tướng sự thật, về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, vô thường cho là thường, vô ngã cho là có ngã, tính không cho là có tự tính độc lập riêng biệt, các pháp là pháp phương tiện. Các pháp đều do nhân duyên sinh, đều do nhân duyên diệt. Do đó tâm thức tham đắm vào năm dục sáu trần, ba nghiệp, thân, khẩu, ý đều là tạo tác các hành vi xấu tà ác, hại người lợi mình, hại bản thân mình bất tịnh, bất thiện, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, nhằm thỏa mãn hưởng thụ năm dục sáu trần, thỏa mãn cái tôi, cái của tôi. Do chưa biết đến Phật pháp, chưa biết đến chân tướng sự thật về các pháp, chưa biết đến những nguyên nhân dẫn đến buồn khổ, tập đế là nhân, khổ đế là quả. Do trong qua trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, không hiểu được tam pháp ấn, là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Cho nên tâm thức đều chấp trước, phân biệt, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ngăn che ràng buộc, kìm hãm tâm thức trong sinh tử luân hồi, trầm luân lên xuống trong sáu cõi luân hồi, ba đường ác chịu nhiều thiệt thòi buồn khổ.

Chính tư duy trong tục đế: Những tư duy nhằm mục đích hiểu rõ những nguyên nhân tập đế, gây ra những đau khổ, khổ đế, để từ đó đoạn trừ hết những nguyên nhân dẫn đến đau khổ này, thì được gọi là chính tư duy trong tục đế. Nói cách khác chính tư duy, là những suy nghĩ tư duy về những giáo lý trong Phật pháp, mà được Đức Thế Tôn khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát, truyền lại cho chúng ta. Đó là những tư duy về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để nhằm giúp cho thân tâm của chúng ta, sớm được thanh tịnh, an lạc, tự do, tự tại, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc, thì những tư duy đó, được xem là chính tư duy.

Tư duy quán chiếu về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tư duy để nhận biết về quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ về vui buồn sướng khổ, yêu thích, chán ghét, do phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tác ý về năm dục sáu trần, mà sinh ra các cảm thọ, cảm thọ sinh ra duyên tham ái, thủ, hữu, nó ràng buộc thân tâm trong các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tư duy về những điều, những pháp mà giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh, an lạc, thì đó chính là chính tư duy.

Chính tư duy trong tục đế, mà quả báo của nó là phước báo nhân thiên, tức là tư duy được hình thành từ chính kiến, hiểu biết, nhận thức về năm dục sáu trần. Do quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, do tâm thức bị vướng mắc về năm dục sáu trần, dẫn đến tư duy, suy nghĩ, tạo tác, việc làm của ba nghiệp, thân, khẩu, ý làm các việc nhằm mục đích hưởng lợi, hưởng thụ, thỏa mãn thân tâm về năm dục sáu trần, mong muốn có được phước báo nhân thiên. Thể hiện là người sống có đạo đức, nhân cách, chấp hành đúng pháp luật, giới luật, thì tu trì giữ gìn năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch. Chính vì tư duy nhận thức, ý thức chỉ đạo các nghiệp, ba nghiệp lựa chọn các pháp, để phù hợp với nhu cầu hưởng thụ, phước báo nhân thiện, mà thân tâm chưa đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức, để lựa chọn các pháp giác ngộ chân lý giải thoát, tu hành theo đạo đế, để đạt được quả diệt đế, đạt được sự chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Do đó chính kiến quyết định đến chính tư duy, chính kiến nhận thức, hiểu biết như thế nào, thì trong quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, thì sẽ tạo ra chính tư duy tương ứng như thế ấy. Trong quá trình tiếp xúc bằng sáu căn thông thường, thì chính kiến và chính tư duy, chỉ đem lại phước báo nhân thiên, được hưởng chút phước báo do năm dục sáu trần đem lại, tâm thức vẫn bị bất tịnh, bất thiện, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, còn tiếp xúc với sáu trần bằng sáu tuệ căn, thì sinh ra sáu tuệ thức, nhận thức được đúng chân tướng sự thật, về các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, nhận thức được tâm vô minh, nhận thức được rõ tập đế là nguyên nhân chắc thật đưa tâm thức đến quả báo khổ đế. Và nhận thức được rõ đạo đế, là nguyên nhân chắc thật giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý đến sự thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, ngộ nhập chính tư duy của chư Phật.

Tức là ở đây thân tâm chúng ta trong đời sống hằng ngày, làm nhiều điều thiện nhân, giúp đỡ mọi người, mọi vật, lánh dữ làm lành, tu hành tam quy ngũ giới, thập thiện, là người chấp hành đúng pháp luật, có đạo đức, nhân cách con người, sống có tình, có nghĩa, biết ơn, đền ơn, là thiện nam tử, thiện nữ nhân, đây là nguyên nhân dẫn đến quả hưởng phước báo nhân thiên, hoặc làm các việc Phật sự, hộ pháp, thì đều đem lại phước báo nhân thiên, được hưởng những điều tốt đẹp về năm dục sáu trần, có được cuộc sống ấn no, hạnh phúc, hưởng phúc, lọc, thọ, khang, ninh.

Tà ác tư duy trong tục đế, được hình thành từ tà ác kiến, tà ác tri thức. Đó là những tư duy hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài, hại môi trường sống, hại chính thân tâm mình, những sự việc, làm cho thân tâm bất tịnh, bất thiện, nhiều phiền não, lo lắng buồn khổ, vướng mắc vào năm dục sáu trần. Do thân tâm có nhiều tập tính, thói quen, nghiệp trướng xấu tà ác, ba nghiệp, thân, khẩu, ý đều làm các việc như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, vi phạm các tệ nạn xã hội, vi phạm năm giới cấm, mười giới thiện. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ về sự hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, về sự ái nhiễm, thủ, hữu về năm dục sáu trần, thân tâm luôn bị nó lôi cuốn theo sự yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ về năm dục sáu trần. Do tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên ý thức, nhận thức sai lầm đó là nguyên nhân tập đế, sẽ dẫn đến những nỗi buồn khổ, quả khổ đế, tâm thức chịu chi phối bởi quy luật sinh diệt luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

7.1.3. Chính ngữ trong tục đế

Chính ngữ trong tục đế được chia làm ba vấn đề. Một là, chính ngữ giúp ích cho mọi người nhận thức được Phật pháp, đưa tâm thức đến chỗ giác ngộ chân lý giải thoát. Hai là, chính ngữ giúp cho mọi người và bản thân được thọ hưởng phước báu nhân thiên. Ba là, tà ác ngữ là làm cho mọi người buồn khổ, tâm thức đi đến chỗ đọa lạc, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhiều khổ đau.

Chính ngữ trong tục đế được sinh ra, hành thành từ chính kiến, chính tư duy, thì chính ngữ, là những lời nói chân chính, nói về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩn trợ đạo. Nói về tập đế là nguyên nhân chắc thật sinh ra quả khổ đế, nói về đạo đế là nguyên nhân đạt được quả diệt đế, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Do đó chính ngữ là những lời nói giúp ích cho mọi người, cho mọi vật, chúng sinh muôn loài có được lợi ích chân thật, nhận thức, hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu về Tứ diệu đế, nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về vạn pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chúng ta có lời nói chính ngữ, giúp đỡ mọi người, thì cũng chính là giúp đỡ mình, lời nói chính ngữ với mọi người nghe qua tai và nghe lại qua tai của chính mình. Do đó chúng ta nói gì, thì chúng ta nghe lại chính những gì mà chúng ta đã nói ra, nếu là lời nói giúp đỡ mọi người có được sự an vui, hạnh phúc. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, thì chính chúng ta là người nói chính ngữ đó, cũng được an vui, hạnh phúc, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc, giác ngộ được chân lý giải thoát, nhập vào được thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. Còn chúng ta nói lời không chính ngữ, bất tịnh, bất thiện, loạn động, xấu tà ác, hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài, thì đó là những lời nói tà ác ngữ, hại chính thân tâm chúng ta, khiến cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện, xấu tà ác, dẫn tâm thức chúng ta đi trong sinh tử luân hồi, đọa lạc xuống ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Trong thực tế đời sống, trong tứ chúng đệ tử Phật, hoặc trong đại chúng không phân biệt là người thuộc tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học, quốc gia, vùng miền, nam nữ, trình độ, nếu là người học Phật tu pháp, tu theo phương pháp giới, định, tuệ, hay nương theo giác, chính, tịnh, có được chính kiến, chính tư duy, thì người đó có lời nói biểu hiện ra bên ngoài trong giao tiếp với mọi người, mọi chúng sinh, mọi vật, mọi việc, đều là những lời nói chân thành, thật thà. Chính ngữ giúp ích cho mọi người và cho chính bản thân mình, luôn có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, an lạc, tự do, tự tại, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh vào tâm thức, giúp tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, mà không để lại ấn tượng cảm thọ, về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ, về sự được mất, thật giả, tốt xấu của năm dục sáu trần nữa, mà thân tâm được tịnh hóa, chỉ còn lại cảm giác thanh tịnh, hoan kỷ, khinh an, yên ổn, không bị năm dục sáu trần quấy nhiễu. Đây chính là hạnh phúc, an lạc, tự do, tự tại, giải thoát giác ngộ chân lý chân thật, từ sự thanh tịnh của tâm thức đi vào thể thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Như vậy chính ngữ, là quá trình nhận thức về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về các pháp tục đế, về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, về thật tướng của các pháp, là pháp phương tiện, Phật pháp là pháp mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát, là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, năm dục sáu trần cũng thế, từ đó chúng ta có được chính kiến, chính tri kiến của các bậc giác ngộ chân lý giải thoát, của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, và thân tâm luôn ghi nhớ suy luận, lý giải thật nghĩa về những điều đó, thì được gọi là chính tư duy, nó giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý, đạt đế sự thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát. Khi chúng ta có được thân tâm thanh tịnh, có được chính kiến, chính tư duy là quá trình tự giác ngộ thân tâm của chúng ta, xong biểu hiện qua bên ngoài bằng chính ngữ, là những lời nói của người có thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh. Để giúp ích cho mọi người, mọi vật, mọi sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, có được sự hiểu biết về chân tướng sự thật của các pháp, biết được sự thật về sự giác ngộ chân lý giải thoát, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Đây là quá trình giác tha, hoằng dương Phật pháp, lợi lạc mọi người, chúng sinh muôn loài, giúp đỡ họ nhân thức được rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, về những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, nhân duyên đạo đế, dẫn đến quả diệt đế, được giác ngộ chân lý giải thoát. Tức là giúp mọi người hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu về các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Hiểu thấu những cảm thọ, vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, trong quá trính sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức, để lại ấn tượng rất sâu đậm, tâm thức bị ràng buộc trong những cảm thọ, về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp. Do đó dẫn đến những tạo tác của thân, khẩu, ý nghiệp, đều là những việc làm nhằm thỏa mãn hưởng thụ năm dục sáu trần, như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, để rồi tâm thức bị bất tịnh, loạn động, bất thiện, bị sinh tử luân hồi theo năm dục sáu trần, luân hồi theo các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, phải cam chịu luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Chính ngữ là những lời nói, giảng giải mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát, về bốn chân lý, khổ, tập, diệt, đạo, về các pháp đạo đế, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Chính ngữ trong tục đế được sinh ra bắt nguồn từ chính kiến, chính tư duy, mà quả báo mạng lại là phước báu hủ lậu nhân thiên. Tức là chính kiến hiểu biết, mong cầu mục đích của thân tâm. Nhận thức về vô minh, về năm dục sáu trần, về các pháp như thế nào, thì nó quyết định đến chính tư duy và chính ngữ như thế đó. Ở đây chính kiến, chính tư duy, chính ngữ mà mục đích mong muốn hiểu biết về năm dục sáu trần, còn có sự tham đắm vào sự hưởng thụ phước báo nhân thiên, thỏa mãn ham muốn về năm dục sáu trần, tâm thức còn có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham luyến về những cảm thọ, vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức. Tức là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ còn bị ràng buộc trong năm dục sáu trần, trong sự ngăn che của vô minh về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, làm cho thân tâm, sáu căn tám thức chưa được hoàn toàn thanh tịnh, chưa được giác ngộ chân lý giải thoát, vẫn nằm trong sinh tử luân hồi hưởng phước báo nhân thiên, có được hưởng phúc, lộc, thọ, khang, ninh, quả thiện, thân tâm, ba nghiệp tạo tác vẫn là vì cái tôi, cái của tôi, vướng mắc trong năm dục sáu trần, tâm thức đi trong sinh tử luân hồi sáu cõi, thân xác biết đổi theo quy luật sinh lão bệnh tử, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, thân tứ đại, đất, nước, gió, lửa, nối tiếp hợp rồi tan, thân tứ đại lại trở về với tứ đại nguyên thủy ban đầu của nó.    

Trong thực tế đời sống xã hội, cũng như trong tứ chúng đệ tử Phật, còn nhiều người có nhận thức, hiểu biết, có chính kiến, chính tư duy, chính ngữ còn nằm trong nhân duyên quả báo, là phước báu nhân thiên. Nguyên nhân là chưa nhận thức đúng về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chưa hiểu rõ về ba pháp ấn trong Phật giáo. Các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, do thân tâm còn tham đắm vào những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, về năm dục sáu trần. Do quá trình tạo tác tiếp xúc của thân, khẩu, ý nghiệp, của sáu căn, tám thức đối với sáu trần, đối với mọi người, mọi chúng sinh muôn loài, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Biểu hiện trong thực tế đời sống, là có nhiều người do nhân duyên, thiện căn, phước đức chưa đủ, đối với những giáo lý trong Phật giáo, chưa biết đến Phật giáo, chưa hiểu biết và tin tưởng Phật giáo, Phật pháp là pháp phương tiện, mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc. Do đó mà tìm đến các giáo lý, học thuyết, tôn giáo, triết học, khoa học nhiều lĩnh vực để cầu mong có được phước báo nhân thiên. Thân tâm có được sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, để rồi tâm thức vẫn phải sống trong cảnh phải chịu sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Đời sống con người hiện nay, do có được sự trợ giúp của các thiết bị, công cụ khoa học kỹ thuật, công nghệ, thông tin đa phương tiện, kết nối thông tin giao lưu, liên kết, về nhiều lĩnh vực trong phạm vi toàn cầu. Bên cạch đó giúp cho nền kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị, ngoại giao, khoa học, kỹ thuật ngày càng hiện đại phát triển, giúp ích cho đời sống kinh tế vật chất nuôi dưỡng thân mạng được ấn no, hạnh phúc, dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, thế giới hòa bình hợp tác bình đẳng cùng có lợi. Những điều đó giúp ích cho chúng ta có được sự nhận thức hiểu biết về nhiều lĩnh vực trong đời sống con người, hiểu được nhiều sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ thế giới nhân sinh quan này. Và thông qua các kênh truyền hình, truyền thông đa phương tiện, kết nối internet, giúp cho rất nhiều người trong đại chúng, nhân loại trên toàn thế giới, thuộc nhiều tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học biết đến Phật pháp, biết đến giáo lý giác ngộ chân lý giải thoát của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, biết được chân tướng sự thật về các pháp. Đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, biết rõ hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, biết rõ về Tứ diệu đế, bốn sự thật mầu nhiệm chắc thật, đó là khổ, tập, diệt, đạo. Đó là con đường giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi tri kiến của con người, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Mặc dù chúng ta hiểu thấu biết rõ về nó, là chân tướng sự thật hiển nhiên đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, nhưng do thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp còn đang bị năm dục sáu trần, tâm vô minh ngăn cản, bị các cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu ghét về năm dục sáu trần, bị nó chi phối, chỉ đạo, sai khiến làm cho thân tâm bị vướng mắc ràng buộc vào nó, làm cho thân tâm bất tịnh, phiền não, khổ đau. Hơn nữa, có nhiều người còn chủ quan cho rằng đời người còn rất dài, lúc này chúng ta còn trẻ, thì cứ hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần đi, sáu căn tám thức, ba nghiệp thích làm gì theo bản năng thì cứ làm, theo những tập tính, thói quen sinh hoạt, theo những cái mà chúng ta yêu thích, vui sướng, và loại bỏ những cái mà chúng ta chán ghét, khổ đau, về năm dục sáu trần là được. Còn sau này về già thì mời chịu học Phật tu hành theo Phật pháp, để được giác ngộ chân lý giải thoát, chúng ta có chính kiến, chính tư duy, chính ngữ. Chúng ta nhận thức, tư duy, nói như thế là hoàn toàn sáu lầm, vì khi chúng ta già yếu bệnh tật, sức tàn lực kiệt, tinh thần yếu đuối, thêm vào đó là có quá nhiều những tập tính thói quen về những tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, có nhiều những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, về năm dục sáu trần. Do quá trính sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, để lại ấn tượng, khắc ghi trong tiền thức, ký ức trong thời gian dài, sự liên kết chặn chẽ ăn sâu vào trong thân tâm. Do đó việc tu hành đạt được sự thanh tịnh, trong sạch của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp có cơ hội giác ngộ chân lý giải thoát là rất khó, rất nhỏ, rất chậm tiến trên con đường ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, khó có được cơ hội chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. May mắn thì giữ được năm giới, mười thiện, thì kiếp sau tâm thức được đến cảnh giới nhân thiên, nhận được thân người, thân chư thiên để hưởng phước, và có cơ duyên với Phật giáo, thì được tiếp tục tu hành để đi đến con đường giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn vào đời sau, kiếp sau và những kiếp tiếp theo.

Tà ác ngữ trong tục đế, được sinh ra từ tà ác kiến, tà ác tri thức, tà ác pháp, do mê tín, tà ác tín, và tà ác tư duy. Tà ác ngữ là những lời nói làm cho sáu căn, tám thức của mọi người, mọi chúng sinh và bản thân mình đều bị bất tịnh, bất thiện, là những lời nói xấu tà ác hại mọi người, hại chúng sinh muôn loài, hại vật, hại việc tốt của người khác. Lời nói xấu tà ác khiến cho mọi người chìm đắm ràng buộc thân tâm trong những cảm thọ, về năm dục sáu trần, khiến cho mọi người và chính bản thân mình bị tâm vô minh làm chủ, chi phối, ngăn che chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, tất cả mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, năm dục sáu trần đều nằm trong quy luật đó.

Như vậy, lời nói tà ác ngữ, là những lời nói sai chân tướng sự thật về các pháp, nói sai chân lý giác ngộ giải thoát, nói sai chính pháp Phật pháp, nói trái ngược với những giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, do trong tâm thức chứa đựng nhiều tà ác kiến, tà ác tư duy, cho nên khi biểu hiện qua bên ngoài bằng lời nói cũng là tà ác ngữ. Đó là những lời nói dối, nói hai lời, nói ỷ ngữ, nói lời xấu tà ác, khiến cho người nghe và bản thân thân tâm mình sinh ra những phiền não, đau khổ, bất tịnh, bất thiện, loạn động.

Trong thực tế nó biểu hiện bằng những lời nói xấu tà ác, kích động mọi người và bản thân làm các việc trái pháp luật, vi phạm các tệ nạn xã hội, những lời nói trái với đạo đức, nhân cách con người, trái với luân thường đạo lý, trái với thuần phong mỹ tục, trái với giới luật trong Phật pháp, trái với thể tính chân tâm thanh tịnh tịch diệt. Khiến cho mọi người và dư luận xã hội bị phiền não, buồn khổ, lo lắng, điên đảo, không biết đâu là đúng sai, phải trái, thật giả, chính tà. Do bị năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ sai khiến, chỉ đạo, lôi kéo tâm thức đến sự đọa lạc vào ba đường ác trong sáu cõi luân hồi, chịu nhiều buồn khổ.

Trong thực tế đời sống con người hiện nay, người có tà ác ngữ, có lời nói xấu tà ác, nói dối, nói sai sự thật, nói về mục đích hưởng thụ, thỏa mãn bản năng, thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, về năm dục sáu trần, mà nói lời hại người, hại mình, ca ngợi những điều xấu tà ác về năm dục sáu trần. Nó khiến cho tâm thức bị vướng mắc ràng buộc trong những cảm thọ về năm dục sáu trần, bản thân nói lời xấu tà ác, nói lời giả dối khiến cho người khác tưởng là thật. Rồi lại nói lại những điều đó cho người khác nghe, một lời nói xấu tà ác được phát tán, được lặp đi lặp lại nhiều lần cho nhiều người nghe, khiến cho tâm thức của họ bị mê lầm, hiểu sai chân tướng sự thật của các pháp, về năm dục sáu trần. Các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, khiến cho nhiều người có tà ác kiến, có tà ác tư duy, có tà ác ngữ, để rồi phải nhận chịu những nỗi khổ đế. Do những nguyên nhận tập đế, do sự tham đắm của thân tâm vào năm dục sáu trần. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ, vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Do tâm có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, khiến cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bị bất tịnh, bất thiện, dẫn đến tâm thức phải chịu cảnh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

7.1.4. Chính nghiệp trong tục đế

Chính nghiệp được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ. Do đó chính thiện nghiệp là những tạo tác hành động của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, của nhận thức đúng đắn, về chính pháp Phật pháp. Là nhận thức đúng về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, hiểu thấu Phật pháp, hiểu thấu ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Hiểu thấu tập đế là nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế, đạo đế là nguyên nhân dẫn tâm thức đến hưởng quả diệt đế, thấy biết rõ về quy luật nhân quả, biết được chân tướng sự thật về các pháp, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, từ đó ý nghiệp, chính tư duy quán chiếu về những sự thật đó, chứng thực được Tứ diệu đế. Từ đó đoạn trừ được hết những nguyên nhân tập đế dẫn đến quả khổ đế, và tạo được nhân duyên đạo đế, để sớm có được quả diệt đế, chứng đắc tứ thánh quả, thể hiện thông qua khẩu nghiệp. Chính ngữ giúp đỡ mọi người biết được chân tướng sự thật về Tứ thánh đế, về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, cho nên tâm thức không bị vướng mắc ràng buộc vào các pháp, vào năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh, đoạn trừ được hết những sự vướng mắc ràng buộc của năm dục sáu trần, của vô minh, của các pháp, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập trí kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Chính nghiệp, là chính nghiệp thức do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Nếu là sáu tuệ căn, có chính kiến, chính tri kiến của chư Phật, thì giúp cho sáu căn, tám thức, chính nghiệp thức có được những cảm thọ về sự thanh tịnh, vô nhiễm năm dục sáu trần. Do hiểu thấu được chân tướng sự thật của các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, hiểu thấu được những nguyên nhân do thân tâm tiếp xúc với năm dục sáu trần, có sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Do tâm thức có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, định tà kiến, tà tri thức, tham đắm vào năm dục sáu trần, là nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế. Và hiểu thấu biết rõ nguyên nhân đạo đế dẫn tâm thức đến hưởng quả diệt đế, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, nhập được vào cảnh giới thiền định, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Chính thiện nghiệp trong tục đế, mang lại phước báo nhân thiên, hay là làm các nguyên nhân tạo tác, để được hưởng quả báo, là phước báo cõi người và cõi trời, có được đời sống đầy đủ về vật chất và tinh thần, có được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần. Đó là những nhân duyên thiện, như sống và làm việc theo hiến pháp pháp luật, trụ tâm thức vào pháp luật, chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật, và tu hành theo năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch. Tâm thức trụ vào đó, thì mang lại quả báo, là phước báo nhân thiên, tức là người đó có được đời sống cá nhân gia đình ấn no hạnh phúc, có được hưởng thụ và thỏa mãn về năm dục sáu trần. Tức là phước báu nhân thiên hủ lậu, là vẫn bị nằm trong sáu cõi luân hồi, lên xuống trầm luân trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ, nguyên nhân là do nhận thức, chính kiến, chính tư duy, chính ngữ. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, còn để lại nhiều ấn tượng cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu ghét, về sự được mất, tốt xấu, thật giả, sinh diệt của năm dục sáu trần. Thân tâm bị vướng mắc vào đó, ràng buộc, che lấp chân tướng sự thật của tâm vô minh, về các pháp vô thường, vô ngã, tính không. Do đó sinh ra sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, làm cho sáu căn, tám thức không được thanh tịnh, thân tâm bị tham đắm, bị kẹt trong năm dục sáu trần, kẹt trong những cảm thọ về yêu thích, chán ghét, vui buồn, sướng khổ. Khi được hưởng thụ thỏa mãn và không được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần mang lại những cảm thọ. Do đó tâm thức liền bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, được hưởng thụ chút ít phước báu nhân thiên, trong khoảng thời gian rất ngắn, để rồi tâm thức lại bị đọa lạc xuống ba đường ác nhiều buồn khổ.

Trong thực tế hiện nay, trong bốn chúng đệ tử Phật, những người học Phật tu pháp mới chỉ là đến kết duyên với Phật pháp, chưa đủ thiện căn, phước đức, mới chỉ nương vào tam quy y, ngũ giới, thập thiện, mới chỉ nhận thức và tin tưởng vào Phật giáo. Mà chưa tinh tấn tu hành để thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đạt được sự thanh tịnh, chưa chứng đắc được vào cảnh giới thiền định, chưa chứng tứ thánh quả. Những người đó, khi hết báo thân này, khi bị tử vong tâm thức liền bị nghiệp thức tái sinh, tri kiến, hiểu biết, tham chấp vào năm dục sáu trần, mà bị nghiệp lực lôi kéo đi đầu thai nhận thân mới, ở cảnh giới thế giới mới, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Tuy theo nhân duyên thiện nghiệp hay ác nghiệp, mà được hưởng phước báo nhân thiên hoặc bị đọa lạc xuống ba đường ác nhiều buồn khổ.

Còn lại những người theo các tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học, hoặc chưa theo một tôn giáo, học thuyết, chủ nghĩa, triết học, khoa học nào, mà những người đó chưa học Phật tu pháp, chưa hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Chưa biết đến Tứ diệu đế, chưa biết đến ba pháp ấn, về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chưa tịnh hóa được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý, chưa nhập vào thiền định, chưa giác ngộ được chân lý giải thoát. Thì tâm thức của những người đó, hoàn toàn bị năm dục sáu trần ràng buộc bởi những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, bị tâm vô minh làm chủ, chỉ đạo, chi phối khiến tâm thức bị bất tịnh, loạn động, bất thiện, bị những thứ vô thường sinh diệt, kéo đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác phải chịu nhiều buồn khổ. Cho dù người đó là người tốt, có đạo đức, nhân cách con người, ba nghiệp thường làm các việc thiện giúp đỡ mọi người, trong gia đình và ngoài xã hội, sống có lý tưởng, trách nhiệm, nghĩa vụ với bản thân, gia đình và xã hội, quốc gia dân tộc, nhân loại trên thế giới, luôn chấp hành đúng pháp luật, giới luật, năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch, nhưng cũng chỉ là người tốt. Tâm thức con người, tri kiến con người, hoặc cao hơn là tri kiến chư thiên, thì cũng vẫn nằm trong quy luật, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ. Như vậy tâm thức này vẫn bị kẹt, bị ràng buộc trong năm dục sáu trần, còn bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó tâm thức chưa đạt đến sự tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, bất sinh bất diệt, nằm ngoài sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui.

Tà ác nghiệp trong tục đế, là nghiệp chướng sinh ra từ tà ác tín, mê tín, mê lầm nhân quả, chưa tin vào chính pháp Phật pháp, dẫn đến có những nhận thức tà ác kiến, tà ác tri thức, là những tạo tác của ba nghiệp tà ác, là tà ác kiến, tà ác tư duy, tà ác ngữ. Từ đó sinh ra tà ác nghiệp, là những tạo tác hành động, việc làm, cử chỉ, lời nói của ba nghiệp, làm ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, trái với chính pháp Phật pháp, không đúng, không hợp với chân lý giác ngộ giải thoát. Hiểu sai về tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, tin theo các tà môn, ác đạo, làm những việc trái với đạo đức, nhân cách con người, trái pháp luật, vi phạm giới luận trong Phật giáo. Thân tâm bất tịnh, bất thiện, nhiều phiền não, tập tính xấu tà ác, làm hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài, hại chính bản thân mình phải chịu quả báo xấu tà ác, nhiều khổ đau trong sáu cõi luân hồi ba đường ác.

Tà ác nghiệp, là do quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc, để lại nhiều sự ràng buộc, vướng mắc, để lại nhiều cảm thọ yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, mà không phải là cảm thọ thanh tịnh. Do tâm thức bị năm dục sáu trần dụ dỗ, lôi kéo, tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó tâm thức mới tham đắm vào đó, để rồi làm ra, tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý nhằm đạt được sự thỏa mãn, hưởng thụ những cảm giác, cảm thọ yêu thích, sướng vui, thì tâm thức liền giữ lấy, chinh phục chiếm đoạn làm của riêng, sở hữu. Còn những gì chán ghét buồn khổ, sân hận, bức bách, khó chịu trong thân tâm, thì muốn vứt bỏ, tiêu diệt, loại bỏ khỏi cái tôi, cái của tôi.

Do đó con người thông thường chưa nhận thức rõ về năm dục sáu trần, tâm vô minh, chưa biết được các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, thì liền bị nó ràng buộc, vướng mắc, khiến cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều bất tịnh, bất thiện, loạn động, phiền não, tạp niệm. Thân tâm còn có những cảm thọ tham đắm vào năm dục sáu trần, thì người đó đang mê lầm nhân quả, người đó chỉ sợ quả báo xấu tà ác, mà lại không sợ làm ra những nguyên nhân xấu tà ác, tập đế, sinh ta quả khổ đế, nhân nào quả đấy. Còn người có thân tâm thanh tịnh giác ngộ giải thoát, là người tin tưởng vào quy luật nhân quả, là con người có đạo đức, nhân cách, thì sợ tạo ra những nguyên nhân xấu tà ác, không sợ quả khổ, mà sợ tạo ra nhân tập đế, để rồi tự làm, tự chịu quả khổ đế.

Khi chúng ta đoạn trừ được hết nhân tập đế, thì quả khổ đế không còn, chỉ còn những nguyên nhân cũ, nguyên nhân tập đế mới, chúng ta đã đoạn trừ được hết, thì từ nay về sau chúng ta không phải chịu những quả báo khổ đế mới nữa. Tức là chỉ còn những quả báo do chúng ta từ trước đến này đã tạo ra nhân tập đế, thì phải chịu quả báo khổ đế. Chúng ta muốn tịnh hóa những nguyên nhân tập đế, mà chúng ta do bị vô minh mà tạo ra trong quá khứ đến nay, nó đã được kết tập trong ký ức, tiền thức, a lại gia thức. Bằng cách dùng những giáo lý phương pháp trong ba đại tạng kinh, mười hai giao, ba bảy phẩn trợ đạo, dùng pháp Tứ diệu đế, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, để tịnh hóa những nguyên nhân tập đế này. Bằng cách nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về chân tướng sự thật của các pháp là vô thường, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, để đoạn trừ hết sự vướng mắc của thân tâm vào năm dục sáu trần, do những cảm thọ ràng buộc lôi kéo, phá tan tâm vô minh. Giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý được hoàn toàn thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập Phật tri kiến, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều khổ đau.

Tức là mọi người thông thường, mọi chúng sinh thì đều sợ, đều không muốn quả khổ đế, nhưng mà lại không sợ tạo nhân tập đế để có quả khổ đế. Còn người giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, thì không tạo nhân tập đế nữa, tức là tuyệt đối không tạo nhân tập đế, để phải chịu quả khổ đế, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, không sợ quả khổ đế. Vì có nhân tập đế thì quả khổ đế là điều đương nhiên, các bậc thánh, chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn có được tam minh, lục thông, thì đều biết rõ được sự thật về nhân quả, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Do đó người giác ngộ chân lý giải thoát, thì chỉ tạo ra nhân đạo đế, để sớm đạt được quả giải thoát sinh tử luân hồi, diệt đế. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tâm thức bất sinh, bất diệt, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Người giác ngộ thì đều có tình thương, lòng từ bi hỷ xả, không điều kiện, đối sử bình đằng đối với mọi người, với mọi chúng sinh, với mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Bình đẳng đối với mọi người không phân biệt, nam nữ, già trẻ, người thiện, người ác, tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học, các nền văn hóa trên toàn thế giới, thuộc nhiều vùng miền, quốc gia, dân tộc khác nhau. Tất cả đều được bình đẳng đối xử, giúp đỡ, thương mến, kính trọng, chân thành, thật thà, thanh tịnh, bình đẳng, giác ngộ, từ bị hỷ xả, tùy duyên giúp đỡ lý giải Phật pháp, phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử, khỏi mọi khổ đau phiền não. Thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, chứng đắc được tứ thánh quả, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui.

Còn người thông thường chưa được học Phật tu pháp, thì cũng có tình cảm thương yêu mọi người, giúp đỡ bản thân, gia đình và xã hội. Nhưng tình thương đó có tình chấp, có điều kiện, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm, vướng mắc vào năm dục sáu trần, tình thương vì cái tôi, cái của tôi. Do có những cảm thọ về buồn vui, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần, cho nên tâm thức bám chấp vào đó, bám chấp vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, bám chấp vào các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, dẫn đến thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện. Do đó mà tâm thức bị nó lôi kéo vào con đường sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

7.1.5. Chính mạng trong tục đế     

Chính mạng trong tục đế được chia làm ba vấn đề. Một là, chính mạng được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, mà giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, đi đến chỗ giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Hai là, chính mạng, mà quả báo mang lại là phước báu nhân thiên. Ba là, tà ác mạng là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, đọa lạc vào ba đường ác, trong sáu cõi luân hồi chịu nhiều buồn khổ.

Chính mạng mà quả báo là sự giải thoát giác ngộ chân lý, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những cảm thọ thanh tịnh, do đã hiểu thấu về chân tướng sự thật của các pháp. Cho nên tâm thức không còn bị bám chấp vào năm dục sáu trần nữa, đã phá tan được tâm vô minh. Do đó có được đời sống chính mạng là sự sống của tâm thức, không còn dính bám về năm dục sáu trần, phá tan được sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh. Cho nên chính mạng là sự sống của tâm thức và thân xác chân chính, là người có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, hiểu thấu Phật pháp, biết rõ về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh. Từ đó đoạn trừ hết sự vướng mắc của tâm thức về những sự vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không của các pháp, của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả.

Chúng ta biết sự sống, mạng sống của chúng ta gồm hai phần, là thể xác và tinh thần, tâm thức, và thân mạng, thể xác, chính thân mạng của chúng ta được xây dựng từ chính nghiệp, chính ngữ, chính tư duy, chính kiến, chính nghiệp được thể hiện thông qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, ba nghiệp chân chính, đúng pháp luật, đúng giới luật. Thân mạng của chúng ta được sinh ra từ nhiều nhân duyên hòa hợp mà được tạo thành thân người, như nhân duyên cha mẹ, dòng họ, tổ tiên, người thân nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ, chăm sóc, từ trong bào thai cho đến lúc trưởng thành và được nuôi dưỡng dạy bảo giáo dục đạo đức. Được duy trì sự sống bằng sự chuyển hóa từ thức ăn, nước uống, ô xi, thân nhiệt, trong tứ đại là đất, nước, gió, lửa. Trong quá trình đó nếu có sự nhận thức chính kiến, chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, thì chính thân mạng đó, được nuôi dưỡng, được phát triển chân chính bằng các vật thực kiến sống từ các chính nghiệp, thiện nghiệp, không làm hại đến mọi người, đến chúng sinh muôn loài, hại sự vật, sự việc, hiện tượng, hủy hoại môi trường sống, giữ được thân mạng trong sạch, yên ổn, thanh tịnh, được gọi là chính mạng, chính tuệ mạng, thuộc về tâm thức mạng.

Thân mạng, là do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt, theo quy luật, sinh lão bệnh tử, vật chất, thực vật, khoáng vật, thì theo quy luật, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Do đó để có được chính thân mạng, thì cần nhận thức rõ về quy luật này, từ đó giúp cho tâm thức không bị dính bám vào thân mạng. Tâm thức không bị thân mạng kéo theo con đường vô thường sinh diệt, tâm thức không được chấp trước, phân biệt, vọng tưởng về thân mạng. Cũng như không được vướng mắc vào năm dục sáu trần, cần nhận thức rõ về tâm vô minh, đoạn trừ hết tâm vô minh, hiểu thấu về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy, chính mạng trong tục đế, là những tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những chính nghiệp, nhận thức rõ những nguyên nhân dẫn đến khổ đau tập đế, quả khổ đế, để từ đó đoạn diệt, xa lìa, buông bỏ, không vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, ba nghiệp tạo tác các hành động không tạo ra những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, trong đời sống chính mạng của chúng ta, giúp cho thân tâm đoạn trừ hết tất cả những nguyên nhân dẫn đến kết quả khổ đau, được giải thoát giác ngộ hoàn toàn, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Đức Thế Tôn trước khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát dưới gốc cây bồ đề, Ngài đã thề nguyện cho dù có phải bỏ thân mạng cũng quyết tâm ngồi thiền định, cho đến khi nào giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập Phật tri kiến. Đây chính là chính mạng do có chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, mà hình thành chính mạng, giúp ích cho sự giác ngộ chân lý giải thoát. Cho nên chúng ta cần tinh tấn, dũng mãnh tu hành mới có cơ hội vượt qua được nghiệp chướng, ma chướng, đoạn trừ được hết sự vướng mắc vào năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, nhận chân được các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, từ đó giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được tịnh hóa, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, ngộ nhập Phật tri kiến, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh an vui.

Chính mạng trong tục đế, tạo ra nhân duyên của quả báo, là phước báo nhân thiên. Tức là ba nghiệp tạo tác các nghiệp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan. Thân tâm còn chạy theo những cầu mong được hưởng thụ, thỏa mãn, về phước báo nhân thiên, phúc, lộc, thọ, khang, ninh, có được những thứ mang lại cho thân tâm những cảm giác, cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Cho nên thân tâm bị năm dục sáu trần ràng buộc, vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp, che lấp trí tuệ Phật, che lấp sự giác ngộ chân lý giải thoát, vô minh làm cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bị bất tịnh, bất thiện, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Do đó tâm thức và thể xác, chính tâm mạng và chính thân mạng, chỉ được hưởng phước báo nhân thiên, do có được nhân duyên, thiện căn, phước đức, biết chấp hành đúng pháp luật, giới luật trong Phật pháp, giữ được năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch, có được ba nghiệp thiện lành, luôn làm những việc từ thiện giúp mọi người, mọi chúng sinh muôn loài, cũng là giúp chính mình có được cuộc sống tốt đẹp, được hưởng phước báu nhân thiên, và gia đình hạnh phúc, xã hội an định, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới hòa bình ổn định hợp tác cùng có lợi.

Tuy không phải là người theo Phật giáo, mà theo các nền tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học kỹ thuật nhiều ngành nghề, nhiều hình thức khác nhau, ở các vùng miền, quốc gia, dân tộc khác nhau, nhưng là người có nhận thức, có chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp. Họ luôn làm những việc tốt, giúp đỡ mọi người có lợi ích, lìa khổ được vui, phá mê si, tà ác, khai thị sự giác ngộ chân lý giải thoát, làm nhiều điều thiện lành, làm nhiều việc từ thiện, phúc lợi xã hội, biết yêu thương tôn trọng mọi người, chấp hành đúng pháp luật, luôn làm các việc thiện, không làm các việc ác, thì xa lìa được những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế không còn, được hưởng phước báu. Họ sẽ có cuộc sống tốt đẹp, hưởng thụ, thỏa mãn, do năm dục sáu trần mang lại, tuy thân tâm, sáu căn tám thức ba nghiệp vẫn chưa được hoàn toàn thanh tịnh, nhưng cũng có được cuộc sống an vui, hạnh phúc, được hưởng phước báo nhân thiên, kiếp sau tâm thức được tái sinh đến cảnh giới nhân thiên hưởng phước, trong sáu cõi luân hồi có trầm luân lên xuống ba đường ác.

Tà ác mạng trong tục đế, được hình thành từ tà ác kiến, tà ác tri thức, từ tà ác tín, từ tà ác tư duy, ngữ, nghiệp, là ba nghiệp, thân, khẩu, ý làm ra các việc trái pháp luật, vi phạm các tệ nạn xã hội, vi phạm giới luật. Đặc biệt là những giới trọng, tính tội, năm tội ngỗ nghịch, vi phạm năm giới cấm, mười giới thiện, vi phạm đạo đức, nhân cách con người, làm những việc hại người, hại chúng sinh muôn loài, hại vật, hại việc, hủy hoại môi trường sống, môi trường giáo dục. Thân tâm bất tịnh, bất thiện, tà ác, hại chính bản thân mình có nhiều phiền não, khổ đau, do mình tự làm tự chịu, nhân nào quả đấy, do tạo tác nhiều, tiếp xúc, sử dụng nhiều âm mưu thủ đoạn xấu tà ác hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài. Đây là những nguyên nhân dẫn đến buồn khổ, tập đế, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng về hưởng thụ thỏa mãn về cái ta, cái của ta, dẫn đến bất chấp những quy định của pháp luật, giới luật, mà làm liều. Tạo ra những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, thì phải chịu quả khổ đế, trong thân tâm nhiều phiền não, buồn khổ, mặc cảm tội lỗi, bất tịnh, bất thiện, nhiều tội lỗi xấu tà ác, vô đạo đức, không nhân cách, thì không được làm người, tự diệt vong, không được hưởng phước báo nhân thiên. Do đó phải bị đọa lạc thân tâm xuống ba đường ác, trong sáu cõi luân hồi chịu nhiều buồn khổ.

Ngoài những nguyên nhân trên còn có các nguyên nhân khác nữa, như việc sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có ấn tượng cảm giác, cảm thọ sâu sắc về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, đối với cuộc sống của con người trong thế giới Ta bà, ngũ trược ác thế này, do tâm thức chưa có chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, cho nên sinh ra tà ác mạng. Do bị những cảm thọ mà thúc đẩy ba nghiệp làm ra các việc xấu tà ác, nhằm đạt được sự thỏa mãn hưởng thụ về năm dục sáu trần, như vi phạm pháp luật, giới luật, thì đều bị nhận chịu quả báo xấu tà ác, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp không tịnh, không thiện, thì bị sinh tử luân hồi, bị đọa lạc xuống ba đường ác trong sáu cõi luân hồi chịu nhiều buồn khổ.

7.1.6. Chính tinh tấn trong tục đế

Chính tinh tấn, được tạo thành từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, thì chính tinh tấn được chia ra làm ba phần, để phân biệt đâu là chính thiện tinh tấn, giúp tâm thức đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn, đâu là chính thiện tinh tấn mang lại phước báo nhân thiên, đâu là tà ác tinh tấn mà quả báo khổ đế, là sự khổ đau, tâm thức bị đọa xuống ba đường ác trong sáu cõi luân hồi.

Chính thiện tinh tấn trong tục đế, là sự tinh cần chuyên nhất, thể hiện qua ba nghiệp thanh tịnh, khi tiếp xúc với năm dục sáu trần. Là động lực thức đẩy tâm thức nhận thức rõ được bản chất của năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật về các pháp của vô minh. Tâm thức biết được các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Từ đó đoạn trừ tất cả những sự ràng buộc của tâm thức vào năm dục sáu trần, vô minh, hiểu thấu được các pháp trong Phật pháp, hiểu thấu ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Biết rõ được những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, dẫn đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, những nguyên nhân khiến cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp không tịnh, không thiện, thì chúng ta sử dụng các phương pháp pháp môn trong Phật pháp mà tịnh hóa nó, đoạn trừ hết những sự ràng buộc, vướng mắc vào năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che của tâm vô minh, giúp cho sáu căn tám thức, ba nghiệp thân tâm được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Như vậy, chúng ta muốn được giải thoát giác ngộ chân lý, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, thì cần phải có chính tri, chính kiến, tức là có được sự hiểu thấu về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đó là những giáo lý, phương pháp, pháp môn chân thật giúp cho tâm thức của chúng ta nhận thức đúng đắn, chắc thật, về chân tướng sự thật của các pháp, đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, đó là những giáo lý mô tả chân thật về chân lý giải thoát giác ngộ, về tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Khi đó tâm thức đoạn trừ hết sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan màn đêm ngăn che sự thật về các pháp của tâm vô minh, khi chúng ta có sự nhận thức chân thật đó. Chúng ta mới thoát khỏi được những cám dỗ, ràng buộc lôi kéo của năm dục sáu trần, bằng những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, khi sáu căn, tám thức, ba nghiệp, thân tâm, tiếp xúc với sáu trần. Chúng ta học Phật tu pháp chính thiện tinh tấn như thế, thì giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, cảm thọ đều là thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức được giải thoát khỏi sáu cõi luân hồi ba đường ác, ngộ nhập Phật tri kiến, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chính tinh tấn giúp cho tâm thức đi đến cảnh giới giác ngộ chân lý giải thoát. Nó thúc đẩy tâm thức nhận thức, hiểu thấu về chính pháp Phật pháp, hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu được bản chất chân thật của năm dục sáu trần, vô minh, hiểu thấu những cảm thọ của thân tâm. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, hiểu thấu được tất cả những nguyên nhân tập đế dẫn đến khổ đế, hiểu thấu những nguyên nhân đạo đế, để có được quả diệt đế, giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, cảm thọ thanh tịnh khi tiếp xúc với sáu trần, đi đến sự diệt đế, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập Phật tri kiến, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Do đó, chính tinh tấn là sự tận dụng tối đa thời gian điều kiện hoàn cảnh, tâm trí, sức lực vào việc học Phật tu pháp, luôn luôn thường xuyên chính thiện, tinh tấn, chuyên cần, dũng mãng, để tư duy, suy nghĩ, cầu đạo, thân cận với các bậc thiện tri thức, gần gũi với Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh. Luôn luôn tiếp xúc thường xuyên học tập giáo lý trong ba tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, tiếp xúc thường xuyên với những chân lý trong Tứ diệu đế, đạo đế, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Do đó chúng ta cần chính thiện tinh tấn, dũng mãnh tu hành Phật pháp, để đoạn trừ, xả bỏ hết sự ràng buộc của năm dục sáu trần, vô minh, cho dù có phải xả bỏ thân mạng cũng phải vượt qua chướng ngại, nghiệp lực lôi kéo, để giải thoát tâm thức khỏi tâm vô minh, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chính tinh tấn trong tục đế, mà quả báo là phước báo nhân thiên, là những suy nghĩ, việc làm được xuất phát từ những mong cầu hưởng thụ, thỏa mãn bản năng sinh tồn, của con người, về năm dục sáu trần. Đó là mong cầu hưởng thụ phúc, lộc, thọ, khang, ninh, mong cầu có được cuộc sống con người, đầy đủ về vật chất và tinh thần, có được vợ chồng, con cái, ấn no, hạnh phúc, sống trong một xã hội an định, bình yên, quốc gia dân tộc giầu mạnh, thế giới hòa bình hợp tác cùng có lợi. Tức là muốn có một đời sống được hưởng thụ thỏa mãn thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp về những thứ vật dụng trong năm dục sáu trần, có được những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, mà không bị những cảm thọ về buồn khổ, chán ghét.

Điều này được thể hiện qua sự hiểu biết, chính kiến, là định kiến xã hội, là nhận thức do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có nhiều tình chấp, phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, do được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần mang lại. Điều đó được thể hiện trong đời sống, là người thuộc nhiều nền tôn giáo, học thuyết, triết học, khoa học nhiều ngành nghề lĩnh lực, hoặc là người trong tứ chúng đệ tử Phật, đại chúng biết đến Phật pháp, thì mới chỉ dừng lại ở việc tạo nhân duyên, như việc giữ gìn năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch thanh tịnh, lánh dữ làm lành, bỏ ác tu thiện, làm các việc Phật sự. Họ mới chỉ có nhận thức lý luận, chưa chân thật thực hành giáo lý, hoặc thực hành sai phương pháp, chưa có đủ chính tri, chính kiến, từ bi, trí tuệ hoặc là người chưa biết đến Phật pháp. Nhưng cũng làm đủ các việc lành giúp người, giúp chúng sinh muôn loài, làm nhiều việc tình nghĩa từ thiện, phúc lợi, thì đây là những nguyên nhân, nhân duyên tốt để có được sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, có được phước báo nhân thiên, còn đối với chính Pháp Phật pháp, đối với những giáo lý giác ngộ chân lý giải thoát, thì mới chỉ là kết duyên lành, thân cận với các bậc thiện tri thức, mới làm quen với tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chứ chưa đủ sự chính thiện tinh tấn, dũng mãnh, để đoạn trừ buông bỏ hết tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh chi phối, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Do đó, người có chính thiện tinh tấn, mà tâm thức vẫn bị vướng mắc trong các hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, về năm dục sáu trần, thì người đó chỉ được hưởng phước báo hủ lậu nhân thiên, ở thế gian. Khi hết thọ mạng tâm thức tái sinh về cảnh giới cõi người và cõi trời, được làm người và chư thiên, hưởng phước báu về năm dục sáu trần, nằm trong sáu cõi luân hồi, trầm luân lên xuống ba đường ác, có các cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, nhiều buồn khổ.

Tà ác tinh tấn trong tục đế, được hình thành từ tà ác tri kiến, tà ác tư duy, tà ác ngữ, tà ác nghiệp, tà ác mạng. Đó là những hiểu biết sai lầm về chân tướng sự thật của các pháp, sự thật về năm dục sáu trần. Do quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ vui sướng, yêu thích, hoặc khó chịu, bức bách, khi bị những cảm thọ về buồn khổ, chán ghét, khiến cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp không tịnh, không thiện, và trong tâm thức có nhiều tư duy tà ác, luôn sống vì cái ta, cái của ta, mà bất chấp tất cả, thân tâm ba nghiệp đều vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật trong Phật pháp. Các hành động tạo tác đều làm hại đến con người, đến chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống, môi trường giáo dục, môi trường đạo đức, nhân phẩm con người, và đó cũng chính là hại bản thân mình buồn khổ theo. Vì đây là những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, là nguyên nhân dẫn tâm thức đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Tà ác tinh tấn, là làm các việc trái đạo đức, nhân cách con người, như vi phạm các tệ nạn xã hội, hại mình hại người thân, hại mọi người, hủy hoại môi trường sống vật chất và tinh thần bị ô nhiễm. Những người có tâm thức tà ác tinh tấn là những người không có chính tri, chính kiến, không có hiểu biết trí tuệ, tâm thức vô minh, có tà tri tà kiến, tà ác tri thức, là người có tà ác tín, mê tín, si mê, mê muội điên đảo, do đó mới tạo ra những tội lỗi, ác nghiệp khiến cho mọi người khổ đau, buồn phiền, sân hận, bức bách, khổ đau theo, môi trường sống bị hủy hoại. Khiến cho thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp, đều không tịnh, không thiện, loạn động, tạp niệm, sống cũng đau khổ, cho đến khi chết thì tâm thức bị đọa lạc vào ba đường ác, trong sáu cõi luân hồi chịu nhiều buồn khổ dài lâu. Nguyên nhân là do năm dục sáu trần dụ dỗ, lôi kéo tâm thức bởi những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghet, thất tình lục dục, và bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, năm dục sáu trần. Tất cả mọi thứ đều là các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên người có tâm thức tà ác tinh tấn là người không có chính tri, chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng. Do đó mới tạo ra những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, tập đế là nhân, còn khổ đế là quả, chưa biết đến những nguyên nhân dẫn tâm thức đến sự vui sướng, hạnh phúc, an lạc, tự do, tự tại, thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Đó là nhân đạo đế còn quả được hưởng là diệt đế.

Trong thực tế đời sống thường là những người chưa biết đến Phật pháp, hoặc bốn chúng đệ tử Phật cho dù biết Phật pháp nhưng mới chỉ là kết duyên, làm Phật sự, vì mục đích hưởng thụ năm dục sáu trần, hướng dẫn đại chúng, bốn chúng đệ tử Phật hiểu sai, làm sai chân tướng sự thật của các pháp, sai chính pháp trong Phật pháp. Từ đó tạo ra những hình ảnh thân giáo không tịnh, không thiện, loạn động, khiến cho đại chúng hiểu lầm chính pháp Phật pháp, xa rời chính pháp, bị năm dục sáu trần mê hoặc, tâm vô minh làm chủ, dẫn đến thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bị ràng buộc trong năm dục sáu trần, bị tâm vô minh chi phối, nghiệp thức lôi kéo tâm thức đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi luân hồi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Người có tâm tà ác tinh tấn, là người thường tạo ra những nguyên nhân, mà nó mang lại cho họ những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, có được những thứ mà mình mong cầu, được sở hữu được hưởng thụ, được thỏa mãn, được nắm giữ, tham đắm chấp thủ, cố hữu vào nó, và mong muốn được loại bỏ những điều mà mình chán ghét, buồn khổ. Cho nên họ rất chăm chỉ riêng năng tinh tấn dũng mãnh làm việc tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, không ngừng tạo ra những nguyên nhân, để có được những thứ mà họ mong cầu, về năm dục sáu trần, để thỏa mãn cái ta, cái của ta. Trong quá trình đó họ làm ra, tạo ra nhiều nguyên nhân khiến cho người khác, chúng sinh khác vì họ mà bị hại, bị buồn khổ, chán ghét xa lánh, mà những nguyên nhân đó sẽ lôi kéo chính họ phải chịu quả báo khổ đau, khổ đế, tự làm, tự chịu.

Như vậy, con người thông thường khi chưa biết đến Phật giáo, chưa thật sự học Phật tu pháp, chưa hiểu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chưa có được chính tri, chính kiến trong Phật giáo, thì họ thường tạo ra những nguyên nhân để được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, hưởng thụ những thứ mà mình yêu thích, vui sướng. Bên cạch đó do tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp, do thân tâm có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, mà làm sinh ra những nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế. Họ sợ quả khổ đế, không thích những điều chán ghét, buồn khổ đến với họ, nhưng họ lại không sợ tạo nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, họ chỉ thích quả báo mang lại cho họ những điều yêu thích, vui sướng, được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, mà những quả báo xấu tà ác, thì họ lại không muốn chịu nhận mà những điều đó là do chính họ đã tạo ra, nhân nào quả đấy, thiện nhân thì có thiện quả, ác nhân thì bị ác báo, mọi thứ đều nằm trong quy luật nhân quả.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những cảm thọ thanh tịnh, hiểu thấu được bản chất của năm dục sáu trần, của tâm vô minh, hiểu thấu về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, để được giác ngộ chân lý giải thoát, không tạo ra những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả báo khổ đế, hoặc không tạo ra những nguyên nhân do yêu thích, sướng vui, buồn khổ, chán ghét về năm dục sáu trần, những người mới giác ngộ chân lý giải thoát, mới có được sự minh tâm kiến tính, thì chưa có đủ năng lực chứng đắc tam minh, lục thông.

Như vậy, con người thông thường chưa giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, thì đều sợ quả khổ đế, không sợ nhân tập đế, thường tạo nhân tập đế để rồi phải chịu quả khổ đế, thích có được sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, còn người đã giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật. Tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, thì đoạn trừ hết những sự hưởng thụ về năm dục sáu trần, không sợ quả khổ đế, mà sợ tạo ra những nguyên nhân tập đế, thường tạo những nguyên nhân đạo đế dẫn đến được hưởng quả diệt đế, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập Phật tri kiến, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh lạc ngã tịnh.

7. 1.7. Chính niệm trong tục đế

Chính niệm, được chia ra làm ba phần, ba vấn đề, ba lĩnh vực cảnh giới để nhận biết, căn cơ của con người và chúng sinh. Một là, chính niệm đưa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý, đến sự thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui. Hai là, chính niệm mang lại phước báo nhân thiên, được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, bởi những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét. Ba là, tà ác niệm là những nguyên nhân xấu tà ác, do ba nghiệp tạo tác các hành vi hại người, hại vật, hủy hoại môi trường sống, là nguyên nhân tập đế đưa tâm thức đến chịu quả xấu tà ác khổ đế, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều không tịnh, không thiện, bị quả báo sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Chính thiện niệm trong tục đế, được bắt nguồn từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý có được cảm thọ thanh tịnh tịch diệt, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn. Như vậy, chính niệm là sự bám trụ, nương tựa của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hành động lưu giữ, khắc cốt ghi tâm tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Đó là sự tâm niệm tiếp xúc thường xuyên ghi nhớ trong tâm thức về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, là pháp Tứ diệu đế, hiểu thấu được bốn điều mô tả chân thật về chân lý giác ngộ giải thoát, khổ, tập, diệt, đạo, giúp cho tâm thức giác ngộ được chân lý giải thoát. Là sự gắn kết tâm thức với những chính tư duy, về những ý nghĩa, giáo lý trong Phật pháp, nhằm loại bỏ những tà tri, tà kiến ra khỏi tâm thức vô minh, cũng như tư duy về chân tướng sự thật của các pháp, về tính vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, giúp cho tâm thức đoạn trừ được hết sự ràng buộc vướng mắc vào những cảm thọ, do năm dục sáu trần tạo ra, do tâm vô minh che lấp, giúp cho tâm thức được thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, được tự do, tự tại, an vui, yên ổn, tạo ra nhân đạo đế, đưa tâm thức đến hưởng quả diệt đế. Và nó được biểu hiện qua chính ngữ, ngôn ngữ, lời nói, thông qua các sự tiếp xúc giao tiếp với mọi người, mọi chúng sinh muôn loài, đối với các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh này. Nó thể hiện qua việc sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, để truyền tải những thông điệp, giáo lý mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát, giúp cho mọi người thấy được sự tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, giác ngộ chân lý giải thoát. Do nương nhờ bám trụ vào tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, do tác ý, suy nghĩ của chính tư duy về các pháp, về chính pháp, về phương pháp trong đạo đế. Đã phá tan được tâm vô minh, đoạn trừ hết được những sự vướng mắc ràng buộc của năm dục sáu trần, giờ đây thân tâm, sáu căn, tám thức được tịnh hóa, tịnh viên cảnh trí, cảm thọ thanh tịnh đối với năm dục sáu trần. Có được chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, là ba nghiệp, thân, khẩu, ý là những tạo tác nghiệp đối với sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, không để lại ấn tượng, không để lại những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, về năm dục sáu trần, mà là những cảm thọ hoàn toàn thanh tịnh, không bị năm dục sáu trần ràng buộc, ba nghiệp được thanh tịnh được thể hiện qua chính mạng, qua đời sống tiếp xúc hằng ngày của chúng ta.

Chúng ta sống trong thế giới cõi người, sống trong năm dục sáu trần, sống trong những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, sống trong sự chi phối làm chủ ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh, về sự thật của các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Chúng ta sống trong nhân duyên quả báo thiện ác, mà thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp của chúng ta không bị những sự ràng buộc, vướng mắc, bị kẹt vào năm dục sáu trần, không bám trụ vào nó. Chúng ta luôn giữ chính niệm, tỉnh thức, bám trụ vào chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính niệm, để không tạo ra những nguyên nhân dẫn đến quả báo khổ đế, và những nguyên nhân thiện lành dẫn đến hưởng thụ, thỏa mãn năm dục sáu trần, về phước báo nhân thiên. Tức là thân tâm, sáu căn tám thức của chúng ta nằm trong năm dục sáu trần, sống trong tâm vô minh, nhưng không liên quan gì đến tâm thanh tịnh của thân tâm chúng ta.

Như vậy, chính niệm là phương pháp, hành động, việc làm tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức. Bằng việc hiểu thấu nhận thức rõ, ghi nhớ, bám trụ, nương nhờ vào chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bám trụ vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để đoạn trừ, buông bỏ được hết sự vướng mắc, ràng buộc của năm dục sáu trần vào thân tâm, sáu căn tám thức. Bằng chính tri kiến của chư Phật, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên, sinh do nhân duyên diệt, để từ đó có được chính niệm thanh tịnh, thân tâm, sáu căn tám thức đạt được sự thanh tịnh hợp nhất, nhất tâm bất loạn, vô niệm thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập được vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Nói cách khác, chính niệm là bám trụ, là ghi nhớ những lời nói dạy bảo, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ của Đức Thế Tôn năm xưa, trong ba đại tạng kinh, mười hai giao, ba bảy phẩm trợ đạo. Chính niệm, là thường xuyên liên tục nhớ niệm Tam bảo, Phật, pháp, tăng, hay giác, chính, tịnh, niệm kinh, niệm luật, niệm luận, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Là những suy nghĩ, lời nói, việc làm, đều là những chính nghiệp thanh tịnh, trong đời sống đối nhân, sử thế, tiếp vật, tiếp việc, đều là những chính thiện nghiệp thanh tịnh, giúp cho thân tâm có được những hiểu biết nhận thức rõ về tâm vô minh, về năm dục sáu trần, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được đời sống tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý, bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Chính niệm trong tục đế, mà nó mang lại phước báo nhân thiên, được hình thành từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, thì chính niệm được thể hiện qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý. Thể hiện qua sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có sự mong cầu về hưởng thụ thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, về những thứ trong năm dục sáu trần, do quá trình tiếp xúc của sáu căn với sáu trần, sinh ra sáu thức, để lại nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc, cảm giác, cảm thọ về sự vui sướng, buồn khổ, yêu thích, chán ghét, về năm dục sáu trần. Do trong tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, có những hiểu biết sai về chân tướng sự thật của các pháp, có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào các pháp thế gian, các pháp nhân thừa và thiên thừa, chưa hiểu được bản chất thật sự của các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Tất cả đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, mọi thứ đều là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chưa có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp. Do đó thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp còn bị ràng buộc trong những cảm thọ về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, ba nghiệp tạo ra những nhân thiện, thì được hưởng quả thiện, là phước báo nhân thiên, mà chưa có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, được hoàn toàn thanh tịnh, không bị ràng buộc vào năm dục sáu trần bởi những cảm thọ, không bị kẹt trong tâm vô minh, tâm thức giác ngộ được chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Những người trong đời sống thực tế có được tâm thức đạo đức, nhân cách con người, thể hiện qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý luôn sống và làm việc theo hiến pháp pháp luật của nhà nước và khuyên bảo mọi người cùng thực hiện tốt các quy định của pháp luật. Họ thường làm các việc từ thiện, phúc lợi cho xã hội, hiểu biết về Phật pháp, giữ gìn được năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch, thanh tịnh, thì đều được hưởng quả thiện lành, có được hưởng thụ thỏa mãn về phước báo nhân thiên, có được cuộc sống ấn no hạnh phúc, sự nghiệp phát triển ổn định. Họ có được năm dục sáu trần, có được tiền tài sự sản, nhà cửa ruộng vườn, tiện nghi sinh hoạt đầy đủ, có được vợ chồng, con cái hiền lành, mạnh khỏe, hòa thuận, lễ hiếu, có được công danh lợi lọc, danh vọng địa vị, danh thơm tiếng tốt, vinh hoa phú quí. Có được cuộc sống đầy đủ no ấm về vật thực, có được các điều kiện chăm sóc tốt bản thân và gia đình, có người giúp đỡ tin yêu thương sót, có cuộc sống đầy đủ về phúc, lọc, thọ, khang, ninh, hưởng thụ thỏa mãn phước báo nhân thiên.

Trong thực tế đời sống, người có chính niệm là thiện niệm phước báo nhân thiên, là người có đạo đức, nhân cách con người tốt, chấp hành đúng pháp luật, tu năm giới mười thiện, làm nhiều việc từ thiện, mang lại những phúc lợi cho xã hội. Là người sống có tình, có nghĩa, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, họ hàng, anh em thân cận, có nghĩa vụ đối với xã hội, quốc gia dân tộc, nhân loại trên toàn thế giới, vì hòa bình ổn định phát triển hợp tác bền vững bình đẳng cùng có lợi, là người có trình độ, học vấn, có kiến thức về các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, nhiều ngành nghề trong xã hội. Là người có chính kiến, hiểu biết tin tưởng hoặc theo một trường phái tâm lý, triết học, học thuyết, tôn giáo nào đó. Hoặc là trong bốn chúng đệ tử Phật tại gia hay xuất gia, mới phát tâm tu hành theo Phật giáo, mới giữ được năm giới, mười thiện trong sạch, mới chỉ có chính tri kiến, mới có nhận thức năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, mới bước đầu tiếp xúc, kết nhân duyên với những giáo lý trong đạo Phật, mà chưa tinh tấn dũng mãnh, đoạn trừ hết những sự tham đắm của thân tâm vào những sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần. Chưa phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật về các pháp của tâm vô minh, sáu căn, tám thức chưa được thanh tịnh, mà chỉ là tạo ra những nhân duyên thiện lành, để có được thiện quả, là sự hưởng thụ vui sướng, yêu thích, do được hưởng phước báo nhân thiên trong cõi trời, cõi người mang lại. Tâm thức chính tri kiến này vẫn nằm trong cảnh giới nhân thiên, trong sáu cõi luân hồi lên xuống trầm luân ba đường ác nhiều buồn khổ.

Nói cách khác, thì khi chúng ta có chính niệm mà trụ vào, nương tựa vào chính tri kiến của con người, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào những hiểu biết, kinh nghiệp sống của các thế hệ con người đi trước, quan niệm định kiến xã hội trong hiện tại, bám trụ vào pháp luật, không vi phạm pháp luật. Tức là ba nghiệp, thân, khẩu, ý không tạo ra những nguyên nhân tội lỗi, hại người, hại vật, hại chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống bình yên, không vi phạm những quy định của pháp luật, thì không phải chịu quả báo khổ đau khi bị pháp luật sử phạt, tội lỗi mà mình đã tạo ra, thì mình phải gánh chịu, tự làm tự chịu, quy luật nhân quả không ai có thể thay đổi được, thiện nhân thì được thiện quả, ác nhân thì chịu ác báo.

Chúng ta muốn thay đổi nhân quả trong hiện tại bằng cách tạo nhân mới, duyên mới, để được quả mới, nhân thiện được quả thiện, nhân ác bị quả ác báo. Nhân duyên đã tạo trong quá khứ thì không thể thay đổi được, nhưng nó phụ thuộc vào duyên hiện tại và duyên tương lai, nếu là duyên lành thì được quả tốt lành, còn duyên xấu tà ác thì phải nhận chịu quả báo xấu tà ác. Ba nghiệp thân, khẩu, ý, luôn suy nghĩ về những việc có lợi ích cho mọi người, thể hiện bằng việc làm, lời nói giúp ích cho mọi người, là người sống có đạo đức, nhân cách con người, chấp hành tốt pháp luật, tu hành năm giới, mười thiện trong Phật pháp. Từ đó tạo ra những hành động, việc làm thiện lành, tạo ra nhiều lời ích giúp đỡ mọi người và bản thân gia đình mình, nhằm nuôi dưỡng thân mạng thỏa mãn những nhu cầu mong muốn về những thứ mà mình yêu thích, vui sướng, trong năm dục sáu trần, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp luôn để ý đến những việc thiện lành đó. Thì khi hết báo thân này, tâm thức được tái sinh đến cảnh giới con người, hoặc cảnh giới chư thiên, để nhận thân người và thân chư thiên mới, để được hưởng phước báo hủ lậu nhân thiên, được hưởng thụ thỏa mãn những mong muốn về năm dục sáu trần. Tuy vẫn nằm trong sáu cõi luân hồi, trầm luân trong ba đường ác, nhưng đã tạo được duyên thiện lành với Phật pháp, có được chút thiện căn, phước đức, may mắn đời sau gặp được thiện tri thức, bậc minh sư, người giác ngộ chân lý giải thoát, gặp được tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, gặp được pháp Tứ diệu đế. Nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, nhập thức về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tâm thức được giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức thoát khỏi sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra được trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Tà ác niệm trong tục đế, được sinh ra, hình thành từ tà ác tri kiến, từ sự mê tín, tà ác tín, từ tà ác tư duy, tà ác ngữ, tà ác nghiệp, tà ác mạng, tà ác tinh tấn, thì tà ác niệm, là những hành vi tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý bất tịnh, bất thiện. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều là những nghiệp xấu tà ác, không tịnh, không thiện, do thân tâm có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào những sự hưởng thụ thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi, trong năm dục sáu trần. Làm ra những sự vật, sự việc hiện tượng hủy hoại sự sống, hủy hoại môi trường sống bình yên, khiến cho mọi người, mọi chúng sinh và chính bản thân mình bị buồn khổ, ba nghiệp tạo tác các hành vi, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, vi phạm năm giới cấm, mười giới thiện, tâm thức có nhiều tham vọng, mưu mô, thủ đoạn xấu tà ác, hại người hại mình, vi phạm các tệ nạn xã hội, nhằm chinh phục, chiếm đoạn, sở hữu những thứ mà mình yêu thích có giá trị, vui vẻ, sung sướng, và loại bỏ những thứ gì mà mình chán ghét buồn khổ.

Do tâm thức chưa có được những hiểu biết về Phật pháp, chưa hiểu thấu được tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chưa tin tưởng, hiểu thấu về quy luật nhân quả, chân tướng sự thật của các pháp, là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét cũng là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chúng được sinh ra, tồn tại và diệt vong đều phụ thuộc vào các điều kiện của nhân duyên. Tất cả chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, nếu chúng ta bám trụ tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp vào nó, thì cũng bị nó lôi kéo theo con đường sinh lão bệnh tử, vô thường sinh diệt theo chúng, làm cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp không được hoàn toàn thanh tịnh, dẫn đến tâm thức bị nhận quả báo buồn khổ, khổ đế do tập đế sinh, đến khi hết báo thân liền bị nghiệp thức, nhận thức vô minh ràng buộc tâm thức trong năm dục sáu trần. Tâm thức tái sinh đến một cảnh giới thế giới mới, nhận thân mới tương ứng với nghiệp thiện ác đã tạo ra, tùy theo ba nghiệp, đã tạo tác mà chịu nhận quả báo ở một trong sáu cảnh giới, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Như vậy, tâm niệm bám trụ vào pháp nào, thuộc cảnh giới nào, thời điểm nào, thể hiện qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý, thì tâm thức bị luân hồi chuyển kiếp đến cảnh giới đó, tùy theo tương ứng với nhân duyên nghiệp thiện ác, đã tạo mà nhân quả báo thiện ác tương ứng ở kiếp sau, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp bám trụ vướng mắc, ràng buộc vào năm dục sáu trần, ở cảnh giới con người hoặc chư thiên, tu hành năm giới cấm, mười giới thiện trong sạch, thì kiếp sáu được làm con người và chư thiên, để được hưởng phước báo nhân thiên tiếp tục, còn ngược lại nếu vi phạm năm giới, mười thiện, thì bị đọa lạc vào ba đường ác nhiều buồn khổ, còn thân tâm trụ vào đạo đế, thì kiếp sau có nhân duyên được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, ra ngoài tam giới, chứng đắc tứ thánh quả.

7.1.8. Chính định trong tục đế

Chính định, được chia làm ba phần để nhận thức. Một là, được hình thành sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, thì chính định là sự thanh tịnh tịch diệt thường xuyên liên tục của thân tâm, của sáu căn tám thức. Trong quá trình thân tâm, ba nghiệp, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mà thân tâm luôn giữ được những cảm thọ thanh tịnh, không bị năm dục sáu trần quấy phá, không bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, xa lìa được những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh, đoạn trừ được tất cả những sự vướng mắc ràng buộc của tâm thức vào năm dục sáu trần.

Đối với những thứ vô thường sinh diệt, tâm thức chúng ta không bám trụ vào nó, không liên quan đến những pháp vô thường sinh diệt, không liên quan đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, tâm thức đã giác ngộ được chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được sự chính tư duy, về chính pháp Phật pháp, về những phương pháp trong đạo đế, để đi đến đoạn trừ xa lìa buông bỏ được hết những thứ ràng buộc vướng mắc, loại bỏ được tất cả những nguyên nhân dẫn đến khổ đế, thể hiện thông qua ba nghiệp, thân, khẩu, ý, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, luôn luôn tu luyện hành trì pháp môn, bằng tri kiến của chư Phật, để đoạn trừ hết các lậu hoặc. Cắt đứt toàn bộ sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan màn đêm bao phủ che lấp chân tướng sự thật về các pháp của vô minh, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, thường xuyên liên tục bám trụ vào chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, để tâm thức đạt được trạng thái thường xuyên liên tục thanh tịnh tịch diệt, vô niệm, nhất tâm bất loạn, bước vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, được minh tâm kiến tính, được giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui.

Chính định trong tục đế, là tâm thức bám trụ, định tâm, toàn tâm ý, ba nghiệp, sáu căn tám thức, tập trung tiếp xúc, nghiên cứu học hỏi tu hành theo chính pháp Phật pháp, thường xuyên tiếp xúc thực tập pháp môn, để hiểu thấu về năm dục sáu trần, về vô minh. Từ đó bằng việc định tâm, cột chặt tâm thức vào việc tư duy suy nghĩ giải nghĩa những giáo lý, đạo lý, chân tướng sự thật trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, về vạn pháp, vạn vật, mọi sự việc hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, về tính vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không của các pháp. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, từ đó đi đến sự đoạn trừ hết những sự ràng buộc, vướng mắc của thân tâm vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh chi phối, làm chủ, thoát khỏi được tất cả những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần, chính tinh tấn, dũng mãnh vượt qua vật cản, bám vứu của năm dục sáu trần, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Từ đó thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn được giữ nguyên ở trạng thái thanh tịnh, tịch diệt, không còn sự ràng buộc nào của năm dục sáu trần, không bị tâm vô minh chi phối, không bị sinh tử luân hồi lôi kéo tâm thức đi trong sáu cõi luân hồi, trạng thái tâm thức, sáu căn tám thức thanh tịnh thường xuyên liên tục đó. Đó chính là cảnh giới của thiền định, bất biến theo thời gian, không gian hoàn cảnh, không phụ thuộc vào các nhân duyên của năm dục sáu trần, tâm thức hoàn toàn được thoát ra khỏi tam giới, sáu cõi luân hồi, không còn chút nào liên quan đến năm dục sáu trần, hiểu thấu nhận thức rõ, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm vô minh không còn tồn tại, mà thay vào đó chính là chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là quang minh ánh sáng trí tuệ bát nhã của chư Phật Như Lai, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chính định trong tục đế, mà quả báo là phước báo nhân thiên, mang lại sự hưởng thụ, thỏa mãn khi có được những thứ mà mình mong cầu về năm dục sáu trần, có được những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, trong đời sống con người, có được hưởng những phước báo cõi người và cõi trời, thỏa mãn về cái ta, cái của ta. Do có được hưởng thụ về phước báo nhân thiên trong năm dục sáu trần, điều này có được là nhờ vào chính tri kiến, là trí tuệ thế gian. Đó là trình độ hiểu biết về nhiều ngành nghề khoa học kỹ thuật, dựa vào những công cụ thiết bị chế tạo, nhằm giúp ích cho con người có được nhiều của cải vật chất, tinh thần, đầy đủ, ấm no. Có được cuộc sống sự nghiệp cá nhân và gia đình hạnh phúc, có được hưởng thụ về lợi ích đặc quyền sở hữu về năm dục sáu trần, thân tâm an nhàn, hưởng thụ phúc, lộc, thọ. Tuy nhiên những thứ đó, phúc, lộc, thọ, phước báu nhân thiên vẫn nằm trong vòng sinh tử luân hồi, trầm luân sáu cõi ba đường ác, bị vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không chi phối. Do đó mà tâm thức tái sinh đến nhận thân mới ở những cõi thiện, nhân thiên, để được hưởng phước báo hủ lậu nhân thiên tạm thời, do mình đã tạo ra trong sáu cõi ba đường ác, trầm luân lên xuống nhiều buồn khổ. Nguyên nhân chính là do con người chưa có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp, đối với những giáo lý, là chân lý giác ngộ giải thoát, trong Phật giáo. Chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc nhận thức, kết duyên với Phật pháp, mới chỉ biết đến lý thuyết, khái niệm, khẩu hiệu, hướng thiện mà chưa thực hành các phương pháp để nhận thức rõ về bản chất của năm dục sáu trần, bản chất của các pháp, bản chất về vô minh. Chưa có được sự chứng đắc các giáo lý, đạo lý, trong tam tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, ngộ nhập tri kiến Phật, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an vui.

Những người có chính định kiến, định lực, định tâm vào các pháp thế gian, các pháp mang lại quả báo là phước báo nhân thiên, trong đạo Phật tu hành năm giới mười thiện trong sạch. Còn đối với những người đại chúng là người sống có đạo đức, nhân cách con người, thường làm nhiều việc từ thiện, phúc lợi xã hội, chấp hành đúng pháp luật, thân tâm ít phiền não, sống an nhàn thanh thản, và những người thuộc các trường phái học thuyết, triết học, tôn giáo, khoa học xã hội nhiều lĩnh vực trong đời sống. Những hệ tư tưởng đó còn nằm trong sự đối đãi, vướng mắc ràng buộc tâm thức vào năm dục sáu trần, còn bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, mọi thứ đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt.

Người chưa học Phật tu pháp, thì thường vướng mắc, ràng buộc tâm thức vào những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần, bị nó chi phối, chỉ đạo, sai khiến ba nghiệp, thân, khẩu, ý làm những việc nhằm thỏa mãn về cái ta, cái của ta, trong năm dục sáu trần. Tức là tâm thức còn bị nằm trong sự tác động, tạo tác giữa sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, để tìm cầu chân lý giải thoát giác ngộ trong đó, thì không thể tìm thấy được chân lý. Mà phải tịnh hóa thân tâm, tịnh hóa sáu căn tám thức, tịnh hóa ba nghiệp, thân, khẩu, ý, đạt được sự tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh của tâm thức, tịnh viên cảnh trí, bước vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui, hạnh phúc, thường tịnh.

Như vậy, tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý nghĩ, lời nói, việc làm, chính ngữ, chính nghiệp, chính tinh tấn thường xuyên có chính kiến, nhận thức hiểu biết về các pháp nào, thân tâm thường xuyên tiếp xúc gắn kết, nhận chính kiến đó là mình. Đó là cái của mình, là sự hiểu biết, là sự mong cầu của mình, thì sẽ sinh chính định tâm thức, định kiến vào pháp đó. Từ đây chúng ta có chính định kiến vào pháp nhân thừa và thiên thừa, là những mong cầu, hành vi tạo tác, ba nghiệp tạo nhân duyên để được hưởng quả báo là phước báo nhân thiên, là người có đời sống đạo đức, nhân cách, chấp hành đúng pháp luật, giữ gìn năm giới cấm, mười thiện giới trong sạch thanh tịnh. Tâm thức đó đang có chính định trong cảnh giới chính tri kiến của con người, loài người, và chư thiên, do đó cần phá tan chính tri kiến này, để đi đến cảnh giới mới cao hơn, là cảnh giới giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, và các pháp thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa, Phật thừa. Cần phải có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, cần phải hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy pháp trợ đạo, mới có đủ năng lực phá tan màn đêm che phủ vô minh, hiểu thấu được chân tướng sự thật về các pháp, đều là pháp vô thường, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Đoạn trừ được hết những sự vướng mắc ràng buộc của năm dục sáu trần, bởi những sự dụ dỗ, cám dỗ, bằng những cảm thọ vui sướng, yêu thích, thỏa mãn hưởng thụ năm dục sáu trần, vì cái tôi, cái của tôi. Buông bỏ được hết những sự chấp trước, phân biệt, vọng tưởng của tâm thức, tịnh hóa tâm thức tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri tà kiến, tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp để đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập Phật tri kiến, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh.

Tà ác định trong tục đế, được sinh ra từ tà ác tri kiến, là những hiểu biết nhận thức sai lầm của thân tâm, về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về các pháp, về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh qua này. Tức là không biết đến chân lý, chân tướng sự thật của các pháp, các pháp đều do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, không có được chính tri kiến của các bậc giác ngộ chân lý giải thoát, thiện tri thức.

Do đó, tâm thức bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, bị kẹt vào sự ngăn che của tâm vô minh, bị các cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét chi phối, lôi kéo thân tâm, lôi kéo ba nghiệp, thân, khẩu, ý, lôi kéo sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, đều bị tâm vô minh làm chủ, làm cho thân tâm vui buồn, sướng khổ theo nó, theo năm dục sáu trần. Thân tâm được thỏa mãn hưởng thụ về năm dục sáu trần, thì thân tâm có cảm thọ về vui sướng, yêu thích những thứ đó, còn không đạt được mục đích, không có được những thứ mà mình yêu thích, vui sướng, thì thân tâm liền buồn khổ, bức bách, lo lắng phiền não, chán ghét, khiến cho thân tâm luôn sống trong cảnh không tịnh, không thiện, loạn động, tạp niệm, phiền não. Sáu căn tám thức bị ràng buộc vướng mắc, bị kẹt, bám chấp vào những cảm thọ về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh che lấp chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.

Như vậy, tà ác định, là do tà ác kiến, tà ác tri thức mà sinh, tri kiến ở cảnh giới nào, thì quyết định sinh ra định ở cảnh giới đó, cảnh giới hiểu biết, tri kiến, trí tuệ nhận thức ở trạng thái nào, mức độ nào, thì sinh ra cảnh giới chính định, thiền định đó. Ở phần này là tà ác tri kiến thì sinh ra tà ác định, thông qua sự nhận thức hiểu biết sai lầm tham đắm tâm thức vào các pháp tà ác, mê tín dị đoan, hoặc không biết đến Phật pháp, sinh ra tạo tác ba nghiệp tà ác. Như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật trong Phật giáo, tâm thức bị say mê, chìm đắm trong sự hưởng thụ thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi. Trong năm dục sáu trần, do phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm về những cảm thọ vui sướng, yêu thích, là nguyên nhân dẫn đến nhiều thứ khổ, tập đế sinh ra khổ đế.

Do đó, con người có chính tri kiến gì, thì tâm thức, ba nghiệp tạo tác các nghiệp sinh ra những nguyên nhân nhân tố, dẫn đến kết quả quả báo của trí kiến đó, trong cảnh giới đó, là chính tri kiến của con người, thì đạt được chính định là cảnh giới con người, tu hành năm giới cấm trong sạch. Là người có đạo đức, nhân cách, chấp hành đúng pháp luật, còn chính định là cảnh giới của chư thiên, thì tu hành mười giới thiện trong sạch, thân tâm tương đối thanh tịnh, thanh thản, an nhàn, hưởng phước báo phúc, lộc, thọ, phước báo hủ lậu nhân thiên.

Những người có tâm thức ở cảnh giới ba ác đạo, trong tâm thức có nhiều tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến, thân tâm vi phạm năm giới cấm, mười giới bất thiện, vi phạm pháp luật, ba nghiệp, thân, khẩu, ý, sáu căn tám thức, thường làm ra những việc xấu tà ác, hại người hại vật, hại chúng sinh muôn loài, hủy hoại môi trường sống, hủy hoại sự sống, vi phạm các tệ nạn xã hội, làm trái pháp luật, trái giới luật, trái với chân lý giải thoát giác ngộ, trái với những điều mô tả về chân lý giác ngộ giải thoát trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, những người có tâm thức tà ác tri kiến, là những người có cuộc sống rất nhiều phiền não, lo lắng, si mê, bức bách, buồn khổ, do có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những sự hưởng thụ thỏa mãn cái ta, cái của ta, về cảm thọ trong năm dục sáu trần, mà dẫn đến ba nghiệp không tịnh, không thiện, do tạo tác các hành vi, vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật. Nó là những nguyên nhân xấu tà ác hại người, hại mình, thì đương nhiên phải chịu quả báo xấu tà ác nhiều buồn khổ, đến khi hết thọ mạng, thì tâm thức liền bị đọa lạc vào cảnh giới tam ác đạo, tương ứng với các nghiệp xấu tà ác đã tạo, các nguyên nhân này dẫn đến quả báo tái sinh sống trong cảnh thấp kém, chịu nhiều thiệt thòi buồn khổ.

Còn người có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì dẫn tới ba nghiệp, thân, khẩu, ý, chính tinh tấn, dũng mãnh tạo ra những nguyên nhân, tu hành theo chính kiến trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, theo chính kiến trong đạo đế, để phá tan tâm vô minh, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần, đạt được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc. Có được chính định, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh. Tức là chúng ta cần thay đổi chính tri kiến của con người, thành chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chúng ta cần học Phật tu pháp.

Để thay đổi được những tà tri, tà kiến của con người, thành chính tri, chính kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì chúng ta cần nhận thức rõ về bản chất thật sự của các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, nương nhờ vào chính tri, chính kiến của chư Phật, Đức Thế Tôn. Để loại bỏ tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần vào chúng ta, phá tan vô minh, buông bỏ tất cả những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, không tạo tác các hành vi của ba nghiệp nhằm được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, do các cảm thọ lôi kéo. Không phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, không làm các việc hại người, hại mình, không vi phạm pháp luật, giới luật trong Phật pháp. Cần phải đoạn trừ hết những tâm thức tham, sân, si, mạng, nghi, tà tri, tà kiến của con người giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, bước vào được cảnh giới thiền định tịch diệt, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh.

Chúng ta trong quá khứ do vô minh làm chủ, chi phối, sai khiến thân tâm, năm dục sáu trần dụ dỗ, bằng những cảm thọ, cho nên đã tạo ra nhiều tội lỗi, ba nghiệp tạo tác các hành vi trái pháp luật, trái giới luật, thân tâm không tịnh, loạn động, tạp niệm, không thiện. Những điều này là nguyên nhân xấu tà ác, tập đế dẫn đến chúng ta phải chịu quả báo khổ đế là điều đương nhiên. Không ai có thể thoát khỏi quy luật nhân quả, nhưng chúng ta cũng không cần mặc cảm tội lỗi, thân tâm không bám chấp vào nó, mà chúng ta đã may mắn gặp được chính pháp trong Phật pháp, có được chút ít nhân duyên, thiện căn, phước đức, đối với Phật pháp. Nhận thức hiểu thấu được quy luật nhân quả, thì chúng ta không tạo những nguyên nhân xấu tà ác nữa, chấm dứt đoạn diệt hết những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, cũng chính là không còn quả khổ đế, vì nhân tập đế đã được đoạn trừ hết. Từ này về sau chúng ta chỉ tạo ra những nhân duyên đạo đế, dẫn đến quả diệt đế, tịnh niệm, vô niệm, chính định, thiền định, sinh ra trí tuệ bát nhã, giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Từ nay về sau thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp chỉ còn sự an vui, hạnh phúc, thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh. Những nhân duyên tập đế trước khi chúng ta đã tạo, thì giờ đây do chúng ta nhận thức được về nó rõ ràng, cho nên có phải nhận quả khổ đế. Nhưng chúng ta cũng vui vẻ tiếp nhận một cách thanh tịnh, không có chút buồn khổ nào. Nhưng do không tạo ra những nhân tội lỗi mới, cho nên từ này về sau không còn có mặt của khổ đế, mà chỉ là cảnh giới giải thoát giác ngộ chân lý thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2. Bát chính đạo trong chân đế

7.2.1. Chính kiến trong chân đế

Chính tri kiến trong chân đế, là nhận thức hiểu biết trí tuệ bát nhã, tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Khi Ngài tu hành đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát hoàn toàn, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, Ngài vì tình thương, lòng từ bị, mà trụ lại thân người trên thế gian, để giảng kinh thuyết pháp. Ngãi đã vì người mà diễn nói, mô tả lại chân lý giác ngộ giải thoát cho mọi người, mọi chúng sinh muôn loài, được biết đến đạo giác ngộ chân lý giải thoát, thể hiện trong hơn bốn mươi năm, khoảng bốn mươi năm đến bốn chín năm. Ngài đã để lại cho nhân thế, hậu thế ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, và đã được trùng tuyên kết tập, ghi chép lại thành tam tạng kinh điển, kinh tạng, luận tạng, luật tạng, qua nhiều thế hệ bốn chúng đệ tử Phật, được lưu giữ truyền đạo Phật đến ngày nay, Phật lịch 2559 năm. Tình thương của Đức Thế Tôn, là vô điều kiện đối với con người và chúng sinh muôn loài hữu tình, vô tình. Các giáo lý của Ngài, đã được các bậc thánh tăng đệ tử tập kết lại qua nhiều đời, để truyền lại cho chúng ta hậu thế, hậu học những người có may mắn, có đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức, được lĩnh hội, được học tập, được tu hành theo giáo pháp là chính pháp trong Phật giáo. Để nhận thức rõ về chân tướng sự thật của các pháp, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh này, chúng có hình tướng, có hiện hữu. Nhưng rồi mọi thứ đó, sẽ tan biến, tàn hoại, diệt vong theo quy luật nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, mà hiện hữu, có mặt trên cuộc đời này. Con người là được sinh ra theo quy luật mười hai nhân duyên, các vật hiện hữu, là do sự hòa hợp nương tựa vào nhau mà có mặt, theo quy luật, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Cái này có mặt, hiện hữu tồn tại và phát triển là do những cái kia có mặt, tồn tại và phát triển, cái này tàn hoại diệt vong, là do cái kia tàn hoại diệt vong. Chúng đều là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Khi chúng ta biết được chân tướng sự thật về các pháp là như thế, thì chúng ta mới không bị nó dụ dỗ, đánh lừa bằng những cảm thọ, vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét, tâm vô minh không ngăn che được chân tướng sự thật về các pháp, chúng không ràng buộc tâm thức chúng ta, trong năm dục sáu trần. Từ đó chúng ta xa lìa buông bỏ được chúng, thân tâm chúng ta có được sự thanh tịnh, đối với năm dục sáu trần, tâm thức chúng ta không còn liên qua liên kết, bám chấp vào năm dục sáu trần, có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, hạnh phúc, thuần thiện, thuần tịnh. Do tâm thức không bị vướng mắc vào những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, dẫn đến thân tâm không thiện, không tịnh. Do đó tâm thức có được sự vui vẻ, hạnh phúc, an lạc, thường lạc, thanh tịnh, giác ngộ được chân lý giải thoát, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, chứng đắc tứ thánh quả, có được năng lực, có được quang minh Phật, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh an vui.

Như vậy, chính kiến trong chân đế là chính tri kiến của người giác ngộ chân lý giải thoát, đã nhận thức rõ về năm dục sáu trần, vô minh, biết được chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Đã có được thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, không còn những sự ràng buộc vướng mắc, hay sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần. Mà thay vào đó là sự cảm thọ thanh tịnh của thân tâm, sáu căn, tám thức, ba nghiệp, đã đoạn trừ được hết nguyên nhân tập đế, thể hiện qua việc ba nghiệp tạo tác các hành động, việc làm, lời nói, suy nghĩ, không vi phạm giới luật, không vi phạm pháp luật. Giữ được trong sạch tất cả các giới luật, phá tan được sự tăm tối tâm vô minh ngăn che ánh sánh quang minh của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Biết được chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp chính tinh tấn tu hành tạo ra những nguyên nhân đạo đế. Để giúp cho tâm thức sớm chứng đắc giác ngộ chân lý giải thoát, diệt đế, thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Do đó chính kiến, hiểu biết, tri thức của con người trong cuộc sống, trong quá trình tiếp xúc của sán căn với sáu trần tạo ra sáu thức. Do tâm thức có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét về năm dục sáu trần, mà hình thành lên những nhận thức, ý thức hiểu biết kinh nghiệm, tập tính của chúng ta. Do tổ tiên, ông bà, cha mẹ, tri thức văn hóa nhân loại để lại, và do tiếp xúc với tâm thức chúng ta, khiến cho chúng ta tiếp xúc rất nhiều với những tri kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống của nhiều người, nhiều nền văn hóa, nhiều học thuyết, triết học, nhiều tôn giáo, nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhiều ngành nghề, để hình thành lên sự nhận thức, định kiến, tri kiến của chúng ta là tri kiến con người. Thông qua sự nhận biết về các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, bằng ba nghiệp, thân, khẩu, ý, tư duy nhận thức khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức, để lại những ấn tượng ghi nhớ, hiểu biết, nhận thức, định tri kiến rất sâu, rất chặt chẽ, rất bền vững, gắn kết vào những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét về năm dục sáu trần, do sáu căn thông thường tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức là tri thức thông thường của con người.

Khi chưa có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bằng tri kiến của con người, thì không thể hiểu biết được về chân tướng sự thật, về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, đối với thân tâm, con người thường tham đắm vào năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ. Còn đối với vật chất, khoáng chất, thực vật, thì tuân theo quy luật, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Do đó chính tri kiến, nhận thức, hiểu biết trí tuệ của con người, thì hoàn toàn nằm trong sự chi phối vướng mắc, bị kẹt trong những cảm thọ về năm dục sáu trần, bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật của các pháp, bị các thứ vô thường sinh diệt, lôi kéo tâm thức tái sinh sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Còn người giác ngộ chân lý giải thoát, có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được hiểu thấu ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đó là nguyên nhân đạo đế, dẫn đến sự giải thoát giác ngộ chân lý, và cũng là phương tiện tốt nhất hữu hiệu để nhận thức và đoạn trừ hết sự ràng buộc vào năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che của tâm vô minh, đạt được đức năng tam minh, lục thông. Biết rõ quy luật nhân quả, đoạn trừ hết nguyên nhân dẫn đến khổ đau, khổ đế, những nguyên nhân dẫn đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Tạo được những nhân duyên tốt lành, thanh tịnh đưa tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp đến chỗ tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giác ngộ chân lý giải thoát, diệt đế, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui, hạnh phúc thường tịnh.

Như vậy, người giác ngộ chân lý giải thoát, thì trong tâm thức không còn sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, không còn phân biệt cái ta, cái của ta, với cái của người khác, không phân biệt đối sử, hơn thua, cao thấp về sự có mặt của năm dục sáu trần. Không phân biệt, người chính thiện, người tà ác, không phân biệt, chính kiến hay tà kiến, tất cả đều không liên quan đến tâm thức thanh tịnh, tất cả đều được bình đẳng trước chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Trước lòng từ bi yêu thương của chư Phật Như Lai, mọi người, mọi chúng sinh đều được bình đẳng, không phân biệt tôn giao, học thuyết triết học, khoa học nhiều lĩnh vực, vùng miền, quốc gia dân tộc. Nhân loại trên toàn thế giới hiện nay, khoảng bảy tỷ người, đều được giúp đỡ thương sót tôn trọng bình đẳng như nhau, trong tứ chúng đệ tử Phật cũng không có sự phân biệt là người tại gia hay xuất gia. Tất cả đều được đối đãi bình đẳng trước chính tri kiến của người giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Người giác ngộ luôn luôn giữ được tâm thức thanh tịnh, tất cả những cảm thọ về năm dục sáu trần, về sự thay đổi, biến đổi liên tục tiếp nối của các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Vạn pháp đều là do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt, chúng do hòa hợp nương tựa vào nhau mà có mặt và tàn hoại, tan dã khi nhân duyên hòa hợp không còn, thì chúng bị diệt vong, sinh diệt tiếp nối. Vạn pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên tất cả những thứ xung quanh ta và thân xác tứ đại của con người, cha mẹ, vợ con, người thân, họ hàng, anh em, thân bằng quyến thuộc, bạn bè, thầy cô, mọi mối quan hệ giữa con người với con người hoặc những sự tiếp xúc giữa con người với mọi chúng sinh, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh, đều tuân theo quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên người giác ngộ chân lý giải thoát, thì luôn giữ được thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, trước những sự biến động, thay đổi của vô thường sinh diệt, tương tục tiếp nối, có cảm thọ thanh tịnh đối với sự còn mất, thay đổi của năm dục sáu trần, tâm thức không bị bám vứu, vướng mắc vào năm dục sáu trần, vào tâm vô minh, vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, đối với những thứ vô thường sinh diệt. Người giác ngộ không quan tâm, không màng đến sự có mặt hoặc không có mặt của nó, tất cả những sự tồn tại hay diệt vong của nó, nó đều tuân theo các quy luật sinh diệt vô thường, nhân quả tuần hoàn tương tục tiếp nối, cho nên người giác ngộ không quan tâm, không vướng mắc, không ràng buộc, tham đắm tâm thức vào những thứ đó, vì đó là nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, nó là nguyên nhân dẫn tâm thức đến sự tái sinh luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.

Chính tri kiến của con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, chưa ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì bám chấp, vọng tưởng, phân biệt, tham đắm vào năm dục sáu trần, tâm thức bị ràng buộc vướng mắc, bị kẹt, bị kìm hãm trong năm dục sáu trần, ba nghiệp tạo tác bất tịnh, sáu căn tiếp xúc với sáu trần, để lại nhiều ấn tượng cảm xúc, cảm thọ về vui buồn sướng khổ, yêu thích chán ghét, xoay vòng trong đó rồi bị năm dục sáu trần, tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật của các pháp giác ngộ chân lý giải thoát. Sự thật về các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, để rồi bị nó lôi kéo tâm thức theo quy luật vô thường sinh diệt của nó, theo sự luân hồi tương tục tiếp nối lên xuống trầm luân trong sáu cõi luân hồi ba đường ác.

Người giác ngộ chân lý giải thoát là người có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, đã đoạn trừ được hết những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh. Có được lòng từ bi thương yêu bình đẳng đối với mọi người, mọi chúng sinh, tình thương không cần điều kiện, không cần sự đền đáp trả ơn. Tâm thức không còn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng vào bất cứ thứ gì trong năm dục sáu trần, không bị những cảm thọ chi phối, tình thương lòng từ bi là thường tình, thương bất biến, thường hằng, mãi mãi, thường xuyên, liên tục không gián đoạn, không thay đổi, bất  biến đối với thời gian, không gian hoàn cảnh. Đối với mọi người, mọi chúng sinh đều được bình đẳng thương yêu, giúp đỡ, tôn trọng như nhau, để mọi người, mọi chúng sinh sớm giác ngộ được chân lý giải thoát, thoát khỏi mọi sự khổ đau, khổ đế. Do đoạn trừ hết nguyên nhân tập đế, phá tan tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật của các pháp vô thường, vô ngã, tính không, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp của mọi người được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ sinh ra tri tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc Tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh an lạc.

Còn tình yêu, tình thương của người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham vọng vào năm dục sáu trần, tình thương, tình yêu có điều kiện. Nó phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như thời gian, không gian hoàn cảnh, môi trường và nhiều thứ trong năm dục sáu trần. Tình yêu, tình thương đó do tâm thức bám chấp vào những điều kiện về năm dục sáu trần, do đó nó cũng bị chi phối bởi quy luật vô thường sinh diệt, thay đổi tiếp nối lúc có, lúc không, lúc yêu thích, lúc thì chán ghét, lúc vui sướng, lúc thì khổ đau, nó phụ thuộc vào điều kiện nhân duyên, khi thân tâm được hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, về những điều mà mình mong cầu, thì yêu thích, vui sướng. Còn không được thỏa mãn thì chán ghét, buồn khổ, chính cái chính tri kiến, hiểu biết trí tuệ đó, của người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, sẽ lôi kéo họ ràng buộc trong những cảm thọ về năm dục sáu trần. Họ bị kẹt trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ, bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Do đó mà thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp không tịnh, loạn động, không thiện, không được nhất tâm, cho nên bị đọa lạc trong sáu cõi ba đường ác. Như vậy người giác ngộ có tình thương chân thành, thật thà, bình đẳng, thanh tịnh, giác ngộ từ bi, tùy duyên, thường tịnh, thường tuệ, thường có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức họ được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thường thanh tịnh, nhập vào được thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2.2. Chính tư duy trong chân đế

Chính tư duy được bắt nguồn từ chính tri kiến. Chính tư duy là những suy nghĩ, ý nghĩ, suy luật, tâm niệm, ý niệm, quán tưởng về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Là tư duy về những giáo lý, ý nghĩa được mô tả trong kinh tạng, đạo đế, nhằm mục đích làm sáng tỏ chân lý giải thoát giác ngộ, hiểu thấu về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp đều là pháp vô thường, vô ngã, tính không, nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, để từ đó lựa chọn cho mình pháp môn, phương pháp phù hợp nhất, để đoạn trừ những vướng mắc, ràng buộc của thân tâm chính mình trong năm dục sáu trần. Do chưa nhận thức được chân tướng sự thật của các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp vô thường, vô ngã, tính không, và do tâm thức bị chi phối, lôi kéo, dụ dỗ bởi những cảm thọ, yêu thích, vui sướng, buồn khổ, chán ghét, mà do năm dục sáu trần mang lại, kìm hãm ràng buộc thân tâm, sáu căn tám thức của chúng ta trong sinh tử luân hồi sáu cõi ba đường ác, trong quy luật vô thường sinh diệt, sinh lão bệnh tử. Từ đó chúng ta tư duy sử dụng các phương pháp trong đạo đế, ba bảy phẩm trợ đạo, làm phương tiện đoạn trừ hết những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ, bát nhã, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn an vui thường tịnh.

Chính tư duy, là những tạo tác, tương tác của những ý niệm tiếp xúc với các pháp trong Phật pháp, tiếp xúc thâm nhập vào ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Là sự tiếp xúc của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức này, là sự nhận biết khi sáu căn tiếp xúc với chính pháp Phật pháp, để tìm ra phương hướng con đường đưa tâm thức đến sự giác ngộ chân lý giải thoát thanh tịnh. Như vậy, chính tư duy là điều rất quan trọng, là sự tác ý quan trọng bậc nhất, nó dựa vào chính kiến, chính tri kiến để loại bỏ, đoạn trừ, nhận biết tất cả những trạng thái của tâm thức, của những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, về năm dục sáu trần, về sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần. Từ đó biết cách lựa chọn pháp phương tiện, phương pháp, lý luận, đạo lý, quy luật nhân quả, bốn chân lý Tứ diệu đế, để nhận biết rõ về tâm vô minh, nhận biết rõ về bản chất của năm dục sáu trần, nhận biết cảnh giới trạng thái tâm thức của chính bản thân mình, để từ đó loại bỏ, đoạn trừ hết những sự tham đắm vướng mắc đó. Tức là không tạo ra những nguyên nhân ràng buộc tâm thức trong năm dục sáu trần, thân tâm thoát ra khỏi những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần, để tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2.3. Chính ngữ trong chân đế 

Chính ngữ, được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ là biểu hiện bằng lời nói, bằng ngôn ngữ, bằng biểu hiện thái độ, bằng cử chỉ hành động, tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, của những biểu hiện tạo tác hành động tiếp xúc giữa sáu căn với sáu trần sinh ra sáu thức, tác động tiếp xúc với mọi người, mọi thứ trong thế giới vụ trụ nhân sinh quan này, nhằm mục đích biểu đạt, biểu lộ, biểu diễn những thông tin, tin tức, thông điệp về ý nghĩa của các pháp trong chính Pháp Phật pháp, thông qua đó để truyền tải những thông tin về sự có mặt của chính kiến, chính tri kiến, sự hiểu biết, nhận thức thông qua chính tư duy, về các pháp trong Phật pháp, trong ba đại tạng kinh, mười hai giao, ba bảy phẩm trợ đạo. Mục đích nhằm đạt được những thành công, loại bỏ được những sự tà tri, tà kiến, có được chính tri kiến, chính tư duy, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, nhờ vào việc đoạn trừ hết những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh. Thể hiện qua các hoạt động hằng ngày, bốn oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi, trang nghiêm đúng chính pháp, lời nói, suy nghĩ, việc làm. Ba nghiệp đều là những lời nói chân thành, thật thà, bình đẳng, thanh tịnh, giác ngộ, từ bi, tùy duyên, chính niệm tỉnh thức. Luôn giữ chính ngữ với mọi người, luôn là những lời nói chính thiện, đúng chính pháp trong Phật pháp, đúng giới luật, luôn tạo ra những nhân duyên thiện lành, giúp cho mọi người tin tưởng, kính trọng, học hỏi thỉnh giáo, cầu đạo giải thoát giác ngộ chân lý, khai thị những giáo lý, chân lý giải thoát giác ngộ của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn.

Chính ngữ, là những lời nói chân thành, thật thà, không cần điều kiện, để giúp đỡ mọi người có được cuộc sống tốt đẹp, ấn no, hạnh phúc, có được chính tri, chính kiến, chính tư duy, để hiểu thấu về năm dục sáu trần, hiểu thấu tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, nhận biết được tâm thức của mình và của mọi người đang bị vướng mắc vào những định kiến, là tà tri, tà kiến. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm của thân tâm vào những cảm thọ hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, vì cái tôi, cái của tôi, do đó tâm thức có được chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc giác ngộ chân lý giải thoát, giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp, thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.

Như vậy, chính ngữ là lời nói bằng ngôn ngữ khi giao tiếp giữa con người với con người, hoặc tiếp xúc với chúng sinh muôn loài, những lời nói, ngôn ngữ. Chính ngữ, là nói về những chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nói về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, lời nói biểu hiện ý nghĩa, lý luận trong chính tư duy. Đó là sự thống nhất từ chính tri kiến đến chính tư duy, và được biểu hiện qua chính ngữ, nó biểu hiện bằng lời nói chân chính thanh tịnh, cảm thọ thanh tịnh, không có liên quan, không có điều kiện gì, về năm dục sáu trần, hoàn toàn được xuất phát từ tình thương, lòng từ bi chân chính, vô điều kiện, không dính mắc trong năm dục sáu trần. Không bị tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, không bị những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét ràng buộc, sai khiến, chỉ đạo. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mà là những lời nói chính ngữ được sinh ra từ chính tri kiến, chính tư duy, hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, không nhiễm bụi trần. Hoàn toàn là những lời nói của chính tri kiến, chính tư duy, của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là trí tuệ ánh sáng quang minh của chư Phật, bình đẳng chân thật, chân thành, từ bi, giác ngộ, tùy duyên đối đãi với mọi người, mọi chúng sinh muôn loài. Giúp khai thị chỉ bảo cho con người nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về tâm vô minh, về chân tướng sự thật của các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, để từ đó ngộ nhập vào những giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để đoạn trừ hết những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh. Giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, tâm thức được giải thoát khỏi tri kiến của con người, ngộ nhập chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2.4. Chính nghiệp trong chân đế

Chính nghiệp, được bắt nguồn ra đời từ chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, được thể hiện thông qua ba nghiệp, là thân, khẩu, ý, là chính nghiệp trong chân đế. Tức là ba nghiệp này đã được thanh tịnh, thân tâm, sáu căn tám thức đều thanh tịnh, không bị vướng mắc bởi năm dục sáu trần, đã phá tan được sự ngăn che chân tướng sự thật của vô minh, về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, không để lại những ấn tượng cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, không bị năm dục sáu trần ràng buộc, tức là đối với năm dục sáu trần không có liên quan đến thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều hiểu thấu bản chất chân tướng sự thật của các pháp, cho nên chúng ta hoàn toàn buông bỏ, không quan tâm đến sự còn tồn tại, hay biến mất, bị diệt vong, tốt xấu, thật giả, đúng sai thuộc về năm dục sáu trần nữa, mà chỉ còn cảm thọ thanh tịnh của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, có chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, lấy trí tuệ bát nhã làm sự nghiệp tu hành cả đời, có được những thành tựu, thành công, mùa màng bội thu. Là sự chia sẻ lòng từ bị, tình thương yêu bình đẳng, đối với mọi người, từ đó giác ngộ được chân lý giải thoát. Tức là lấy trí tuệ, bát nhã, tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn, là sự nghiệp cả đời này, duy tuệ thị nghiệp. Thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, không còn liên quan, vướng mắc gì vào năm dục sáu trần, vô minh, thân tâm không còn những cảm thọ nào về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, đối với năm dục sáu trần, lấy sự nghiệp giác ngộ chân lý giải thoát, là chính nghiệp quan trọng nhất, duy nhất của người tu hành đưa tâm thức đến sự giác ngộ, chứng đắc tứ thánh quả. Từ đó có được tình thương, lòng từ bi, không cần điều kiện đền đáp trả ơn, giúp đỡ bình đẳng cho mọi người, mọi chúng sinh, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ quan này, có được những lợi ích thiết thực, giác ngộ được chân lý giải thoát, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Trong thực tế đời sống con người thường có chính nghiệp, có ba nghiệp, thân, khẩu, ý vướng mắc, ràng buộc, bị kẹt vào những sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, bị năm dục sáu trần chi phối, sai khiến theo những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, dẫn đến sự vướng mắc lưu luyến ai nhiễm, chấp trước, phân biệt, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, ba nghiệp, thân, khẩu, ý, những tạo tác của sáu căn đều vì những lợi ích của bản thân, của gia đình họ hàng, của quốc gia dân tộc, của sự sở hữu, của cái ta, cái của ta, làm tất cả mọi việc đều có điều kiện, có tình chấp. Vì những cảm thọ mà tạo tác ba nghiệp, do bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Vạn vật, vạn sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, chúng có hiện hữu, tồn tại rồi chúng cũng tàn hoại, diệt vong, biết mất. Các pháp đều nương tựa hòa hợp vào nhau mà hiện hữu, có mặt trên cõi đời và rồi do nhân duyên tàn hoại, tan dã mà diệt vong, chúng không có chủ thể, cá thể, thể tính độc lập riêng biệt, chúng không có tự tính. Chúng không tự đến, tự đi, mà chúng sinh diệt tiếp nối luân hồi theo các quy luật, đối với thân người và tâm thức bị vô minh làm chủ, bị vướng trong năm dục sáu trần, thì tuân theo quy luật, sinh lão bệnh tử, luân hồi sinh diệt nối tiếp trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ, còn đối với vật chất, khoáng chất, thực vật, thì tuân theo các quy luật, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, tuần hoàn liên tục nối tiếp không ngừng. Tâm thức có chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, là người giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì không còn bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, mà được bước vào cảnh giới thiền định, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm, chứng đắc được tứ thánh quả, thẳng tiến trên con đường chính giác, nhập diệt vào niết bàn thượng lạc ngã tịnh.

Như vậy, chính nghiệp là sự nghiệp của con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát. Là do được hưởng thụ thỏa mãn, có được sự sở hữu về năm dục sáu trần, hưởng phước báo hủ lậu nhân thiên trong sáu cõi ba đường ác, còn chính nghiệp của người giác ngộ, có chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Là người không còn những mong cầu về hưởng thụ thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi, không bị chi phối bởi những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về những thứ thuộc về năm dục sáu trần, những thứ thuộc về vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, không quan tâm đến những thứ do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Mà trong quá trình tiếp xúc giữa sáu căn tám thức, với sáu trần đều tạo ra những cảm thọ thanh tịnh, ba nghiệp, thân, khẩu, ý thanh tịnh, có tình thương, đối nhân sử thế tiếp người, tiếp vật, tiếp việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là những lời nói, việc làm suy nghĩ chân thành, thật thà, thanh tịnh, bình đẳng giác ngộ chính giác, tùy duyên đúng pháp, không cần điều kiện, không cần đền đáp trả ơn, không cần bất cứ thứ gì trong thế giới con người, trong sáu cõi luân hồi ba đường ác.

Tất cả những thứ đó đều không liên quan, không ràng buộc, không chi phối đến thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh của người giác ngộ chân lý giải thoát, có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Là người đã đoạn trừ được hết sự vướng mắc của năm dục sáu trần, phá tan tâm vô minh, cắt đứt những nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế, đoạn diệt những nguyên nhân, dẫn tâm thức đi trong sinh tử luân hồi sáu cõi, ba đường ác, bằng chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, bằng ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Là phương tiện hữu hiệu để đoạn trừ hết những lậu hoặc, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, nhập được vào cảnh giới thiền định thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2.5. Chính mạng trong chân đế

Chính mạng được hình thành, được sinh ra trong chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp. Chính mạng, là chính tâm mạng, tuệ mạng của người giác ngộ chân lý giải thoát, đã có được chính tri kiến, chính tu duy, chính ngữ trong chân đế, đạo đế. Bằng sự học Phật tu pháp, với sự nhận thức hiểu thấu những giáo lý trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đã đoạn trừ được hết những lậu hoặc, đã nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về vô minh, đoạn trừ được hết những ràng buộc, vướng mắc, thoát khỏi sự lôi kéo dụ dỗ của năm dục sáu trần. Không còn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, do sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần tạo ra sáu thức.

Khi tâm thức có được chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính mạng, phá tan tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Tất cả mọi thứ, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều là các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý được hoàn toàn thanh tịnh. Thân tâm không bị cột chói vào những định kiến, tri kiến của con người, tâm vô minh của con người, tâm thức được thoát khỏi tri kiến của chúng sinh trong sáu cõi luân hồi, ba đường ác. Tâm thức giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, được giải thoát, giải thoát tri kiến, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chính mạng, là tuệ mạng, tâm mạng, là pháp thân, chân tâm, của người giác ngộ chân lý giải thoát, là người có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Là người hiểu thấu có được tri thức, hiểu biết, tri kiến trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Là người đã buông bỏ, đoạn trừ hết tất cả những lậu hoặc, những sự ràng buộc, vướng mắc, ràng buộc của năm dục sáu trần. Là người có được cuộc sống chính mạng, tùy duyên, tự do, tự tại, thanh tịnh, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, không còn bám chấp vào cái ta, cái của ta, không còn có những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần, không còn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, vào tri kiến, định kiến của con người, không còn tham đắm vào thân mạng. Thân thể là do tứ đại hợp thành, thân thể nương nhờ vào tứ đại đất, nước, gió, lửa, thức ăn, nước uống, ô xi, thân nhiệt, mà được sinh ra, hiện hữu, có mặt trên cuộc đời này, và được các nhân duyên này nuôi dưỡng, duy trì, phát triển thân tâm con người. Do đó thân thể con người cũng bị chi phối bởi quy luật duyên sinh. Thân thể là do nhân duyên tứ đại, đất, nước, gió, lửa hòa hợp, nương tựa vào nhau mà được sinh ra, hiện hữu, tồn tại, có mặt trên cuộc đời này. Rồi lại do nhân duyên tàn hoại, ly tán, tan dã, mà thân thể con người bị phân hủy, biến mất, diệt vong. Thân thể con người là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thân thể là do tứ đại hợp thành, nó cũng tuân theo quy luật, sinh lão bệnh tử, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không.

Người giác ngộ, không còn vướng mắc ràng buộc vào những cảm thọ gì, về thân mạng, thân mạng còn hay mất, tốt hay xấu, sinh lão bệnh tử hay không, thì cũng không có liên quan gì, đến tuệ mạng. Tâm mạng giác ngộ, pháp thân, chân tâm thanh tịnh của người giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Vì người giác ngộ đã hiểu thấu thân mạng là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thân mạng là sinh lão bệnh tử, vật chất, khoáng vật, thực vật, là thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt. Bản chất của nó là thế. Chúng ta và mọi chúng sinh, dù là người giác ngộ chân lý giải thoát, hoặc là chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, khi trụ ở thân người, thì cũng không thể thay đổi được quy luật này.

Chúng ta có thể kéo dài được tuổi thọ con người nhờ vào các phương pháp tu hành, giới, định, tuệ trong Phật pháp, nhưng không thể làm chủ được nó, không thể chỉ đạo, sai bảo nó, bắt buộc nó theo chính kiến của chúng ta được. Vì nó là do nhân duyên hòa hợp mà được sinh và cũng do nhân duyên tan dã mà diệt vong, chúng ta cũng không làm chủ được nó, cũng như những thứ xung quanh chúng ta vậy, mọi người, mọi chúng sinh muôn loài, vật chất, khoáng chất, thực vật. Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này đều như thế, chúng đều do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, không ai làm chủ được chúng, chúng đều được sinh ra, tồn tại và diệt vong theo các quy luật, đối với thân mạng là sinh lão bệnh tử. Còn vật chất, khoáng chất, thực vật, là thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, tức là những thứ đó chúng ta không thể làm chủ được nó, vì nó đều là những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không.

Do đó tất cả những thứ xung quanh chúng ta, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tất cả mọi thứ đều không phải là ta, là cái của ta, cũng như không của bất kỳ ai. Bản chất chân tướng sự thật của các pháp là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, và do nhân duyên tan dã mà diệt vong, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, nó chỉ tuân theo những quy luật, sinh lão bệnh tử đối với con người và chúng sinh hữu tình. Còn đối với vật chất, khoáng chất, thực vật, chúng sinh vô tình, thì là thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, tức là các pháp nương tựa vào nhau mà có mặt, có hiện hữu tạm thời trong khoảng thời gian nhất định rồi chúng lại bị tan dã, tàn hoại, diệt vong, biết mất. Cái này có do cái kia có, cái này diệt do cái kia diệt, chúng chỉ liên kết hợp thể với nhau, chứ không hòa tan vào nhau, trong thân thể con người là do tứ đại hợp thể mà hình thành lên thân mạng con người, từ việc ăn, uống, hít thở ô xi, thân nhiệt, để tồn tại duy trì phát triển cho đến khi lão bệnh tử. Khi thân thể con người chết đi, bị phân hủy, thì nó lại trở về với bốn đại lượng nguyên thủy là đất, nước, gió, lửa.

Mọi thứ có hình tướng, có hiện hữu trên thế gian này đều là hư vong, đều là những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Chúng không phải là cái tôi, cái của tôi và chúng cũng không phải là anh hay là cái của anh, không ai làm chủ nó, tất cả mọi thứ đều do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Người giác ngộ chân lý giải thoát có được chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, là tuệ mạng, pháp thân, tâm mạng, sáu căn tám thức, ba nghiệp được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giác ngộ được chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Năm xưa khi thân mạng của Đức Thế Tôn còn trụ lại ở thế gian, cách đây khoảng 2550 năm, khi Ngài chưa giác ngộ chân lý giải thoát, thì Ngài là một con người bình thường như bao nhiêu con người khác, là thái tử Sĩ đạt đa, là con của đức vua Thịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia. Ngài cũng có vợ và một người con trai, sống trong hoàng cung, được hưởng thụ thỏa mãn mọi thứ về năm dục sáu trần. Thân tâm được hưởng nhiều những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, Ngài cũng được học tập với nhiều tri thức, kiến thức nhiều lãnh vực, nhiều học thuyết triết học tôn giáo ở thời bấy giờ, cũng như những kiến thức nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội, kinh tế trính trị, khoa học, trị quốc an dân, vì Ngài là thái tử tương lai sẽ kế vị ngai vàng, làm vua của một nước, trị vì thiên hạ. Nhưng tất cả những kiến thức đó, đều không giúp cho Ngài giác ngộ được chân lý giải thoát, tức là không giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thoát khỏi những sự ràng buộc, cảm thọ về năm dục sáu trần. Những tri thức hiểu biết trí tuệ đó, không thể nào đoạn trừ được hết những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, phiền não. Tri kiến đó không thể giúp cho tâm thức thoát khỏi quy luật sinh lão bệnh tử, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Chính vì thế mà Ngài đã quyết tâm từ bỏ kinh thành, từ bỏ gia đình vợ con, vua cha, anh em người thân hoàng tộc, từ bỏ sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, từ bỏ tri kiến, định kiến của con người, để ra đi cầu đạo giải thoát, giải thoát tri kiến của con người. Ngài đã gặp nhiều bậc thiện tri thức, các bậc đang tu hành, để cầu đạo giải thoát, nhưng tất cả những đạo giáo, mà Ngài đã tiếp xúc đều không mang lại sự giác ngộ chân lý giải thoát. Do đó, Ngài đã tự đi tìm con đường giải thoát giác ngộ chân lý, bằng cách tu hành khổ hạnh ép xác trong sáu năm. Và Ngài đã chọn đúng cho mình con đường trung đạo, trong suốt bốn chín ngày đêm dưới gốc bồ đề. Ngài đã đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát, giải thoát tri kiến, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai. Tức là Ngài đã phải buông bỏ, đoạn trừ hết những thứ ràng buộc của năm dục sáu trần, bởi những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, tác động đến thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp. Ngài đã buông bỏ được tri kiến, định kiến, những phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào năm dục sáu trần, vào những tri kiến giáo lý của nhiều học thuyết, triết học, tôn giáo, khoa học nhiều lĩnh vực, những nguồn giáo lý đó đều không thể đoạn trừ được hết phiền não, lậu hoặc, những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, khổ đế do tập đế sinh ra, những nguyên nhân dẫn đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Chính vì thế mà Ngài đã tự mình tìm đến khu rừng tu hành khổ hạnh ép xác, trong suốt sáu năm, và cuối cùng Ngài đã có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, đã nhận rõ về con đường giải thoát giác ngộ chân lý. Đó là con đường trung đạo của thân tâm, xa rời tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần bởi những cảm thọ, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, không bị vướng mắc vào bất cứ thứ gì trong năm dục sáu trần, giải thoát khỏi tri kiến của con người. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, tâm thức không bị vướng mắc vào các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, giác ngộ được chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh.

Con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, con người bị tâm vô minh làm chủ, có chính kiến, kiến thức, nhận thức, tri thức là hiểu biết của con người bình thường, là đại chúng trong xã hội. Do thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp khi tiếp xúc với sáu trần, tạo ra nhiều ấn tượng cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần, mặt khác do tri kiến tham chấp vào thân mạng, thân thể của mình là có, những thứ thuộc về bản thân mình, hòa hợp với mình, như người thân, anh em, gia đình, các tổ chức xã hội, quốc gia dân tộc, nhân loại trên toàn thế giới. Tất cả những sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều không phải là cái ta, cái của ta. Các pháp đều là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, chúng đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, không có ai làm chủ nó. Khi tâm thức bám chấp vào nó thì bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, còn khi tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, thì không vướng mắc vào nó, vào những pháp vô thường sinh diệt, thì được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

7.2.6. Chính tinh tấn trong chân đế

Chính tinh tấn, được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng. Chính tinh tấn là thể hiện bằng ba nghiệp, thân, khẩu, ý, những ý nghĩ, tư duy, suy ngẫm về chính pháp Phật pháp, về những phương pháp hành trì, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Tức là tinh tấn tư duy về những giáo lý chân lý được mô tả trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, để có được thân tâm thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, không bị năm dục sáu trần ràng buộc, không bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt, cắt đứt được những dụ dỗ, lôi kéo của những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét trong năm dục sáu trần, cắt đứt được những tri kiến là tà tri, tà kiến. Là những ham muốn phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm hưởng thụ thỏa mãn về cái tôi, cái của tôi, để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, thân, khẩu, ý thanh tịnh. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, để có được chính mạng, là tuệ mạng, pháp thân, tâm mạng, giác ngộ chân lý giải thoát, thì chính tinh tấn là sự dũng mãnh vượt qua tất cả những sự ràng buộc vướng mắc của tâm thức vào năm dục sáu trần, vào các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Nó ngăn cản tất cả những cảm thọ dụ dỗ, xâm nhập bất tịnh, bất thiện tác động lên thân tâm thanh tịnh của chúng ta, và thanh lọc thân tâm đến mức độ hoàn toàn thanh tịnh, có được chứng đắc cảnh giới thiền định, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh quang Phật.

Chính tinh tấn, là sự tăng tiến của tất cả chính tri kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, lên tầm cao mới, cảnh giới thanh tịnh mới, tầng cao mới của sự thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, tầng cao của  chính tri kiến. Là trí tuệ bát nhã của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là sự bất thoái chuyển của tâm thức, là sự tăng tiến liên tục thường tịnh, tiến thẳng đến quả vị bất sinh, bất diệt, chứng đắc quả vị tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh. Còn chính tinh tấn của người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, người bị tâm vô minh làm chủ, người bị năm dục sáu trần ràng buộc, chi phối. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, định kiến, tri kiến bám chấp vào những ham muốn hưởng thụ thỏa mãn năm dục sáu trần, do có những cảm thọ về vui sướng, yêu thích, buồn khổ, chán ghét về năm dục sáu trần gây ra, dẫn đến bị vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không.

Do đó khi tâm thức, tri kiến của con người bị vướng mắc, ràng buộc, bị kẹt vào trong những cảm thọ về năm dục sáu trần. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, có tạo tác của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, dẫn đến làm cho thân tâm không tịnh, không thiện. Do ba nghiệp tạo tác nhiều nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả khổ đế, mà chưa có chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính mạng, chính tinh tấn của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Đó là quang minh trí tuệ bát nhã của chư Phật soi sáng vào tâm thức của con người, mọi chúng sinh, giúp cho tâm thức của con người và mọi chúng sinh được thắp sáng ngọn đèn trí tuệ bát nhã, chính tri kiến, phá tan tâm vô minh tăm tối, cắt đứt mọi nguyên nhân dẫn đến đau khổ, khổ đế, cắt đứt sự ràng buộc của năm dục sáu trần vào tâm thức, cắt đứt sự vướng mắc của tâm thức vào các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, giúp cho thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

7.2.7. Chính niệm trong chân đế

Chính niệm, được sinh ra bắt nguồn, hình thành từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn. Chính niệm, là sự tạo tác hành động tiếp xúc của ba nghiệp thân, khẩu, ý, của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, sinh ra những cảm thọ. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng về năm dục sáu trần, sinh ra những chính kiến hiểu biết của con người, trong đó có sự tham ái, thủ giữ, sở hữu những thứ thuộc về cái ta, cái của ta, mặc dù những cái đó, đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Những cái đó do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, do tâm vô minh ngăn che sự thật về các pháp.

Như vậy, chính niệm trong chân đế, là những tâm niệm, thân niệm, ý niệm, khẩu niệm, là tạo tác, tiếp xúc của sáu căn với sáu trần sinh ra sáu thức, mà sáu trần ở đây là Phật pháp, là chân lý giác ngộ giải thoát, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi. Là tiếp xúc với đạo đế, là tâm niệm luôn luôn ghi nhớ, gìn giữ những chân lý, đạo lý. Những phương pháp, những chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, về những giáo lý mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ, trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Tức là luôn giữ cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, không bị vướng mắc ràng buộc vào những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần tạo ra, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật của tâm vô minh. Nhận chân được các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tức là luôn luôn tiếp xúc thường xuyên tịnh niệm nối tiếp, vô niệm thanh tịnh, không có một ý niệm nào, về ham muốn hưởng thụ thỏa mãn về những cảm thọ trong năm dục sáu trần, tâm thức nương nhờ vào chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, để đoạn trừ buông bỏ tất cả những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, khổ đế, và đoạn trừ được hết sự tham đắm của tâm thức vào các pháp sinh diệt vô thường, vô ngã, tính không. Loại bỏ hết những nguyên nhân tập đế, dẫn thân tâm đến sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Đó còn là việc giữ gìn các giới luật trong sạch thanh tịnh, từ đó tâm niệm, ba nghiệp, sáu căn tám thức đều niệm những đạo lý, chân lý giác ngộ giải thoát, niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, hay niệm giác, niệm chính, niệm tịnh, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, đạt đến được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tịnh niệm liên tục nhiếp hết sáu căn, đạt đến sự lý nhất tâm bất loạn, vô niệm, vô trụ. Tức là tâm thức không còn bất cứ niệm nào, không còn trụ vào bất cứ thứ gì trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, không còn sự có mặt của năm dục sáu trần trong tâm thức thanh tịnh, không còn những cảm thọ, không còn có mặt của tâm vô minh. Tất cả mọi thứ đều được sáng tỏ, tỏa ánh sáng quang minh thường tịnh chiếu của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, tất cả đều là một thể thanh tịnh vẵng lặng tịch diệt, tịnh viên cảnh trí. Nhập thân tâm thanh tịnh vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Như vậy, lúc đầu chúng ta tâm niệm, ý niệm, khẩu niệm, thân niệm, tập trung tất cả sáu căn, tám thức vào việc tu hành, tư duy nhận thức về chính pháp Phật pháp, hiểu thấu được những đạo lý, giáo lý, chân lý giác ngộ giải thoát trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Để có được chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, nhằm mục đích nhận thức rõ về năm dục sáu trần, về những cảm thọ, ái, thủ, hữu, nhận thức hiểu thấu về vô minh, hiểu thấu chân tướng về các pháp, để từ đó loại bỏ được những tạp niệm, những niệm xấu tà ác, những niệm về sự hưởng thụ, thỏa mãn năm dục sáu trần. Do những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét tạo ra, ràng buộc thân tâm trong những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, nguyên nhân vô thường sinh diệt, luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Tức là khi chúng ta có chính niệm, tịnh niệm liên tục thường xuyên không gián đoạn, thì các niệm khác, các niệm xấu tà ác, các niệm vướng mắc ràng buộc dụ dỗ bởi những cảm thọ về năm dục sáu trần. Do vô minh chi phối, sai khiến tâm thức của chúng ta không có chỗ để bám vứu vào thân tâm thanh tịnh tịnh niệm thường xuyên liên tục của chúng ta.

Chúng ta tịnh niệm liên tục thường xuyên lâu ngày, thời gian tịnh niệm giữ được chính niệm càng lâu, càng trong sạch, thì công phu thành tựu thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp càng sớm được thanh tịnh hoàn toàn, tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác càng sớm. Tâm thức nhập vào được cảnh giới thiền định, thiền tuệ sinh ra trí tuệ bất nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh niệm, vô niệm. Khi chúng ta có được chính niệm, thì các tà ác niệm tự nhiên tiêu tan biến mất, những cảm thọ tham đắm về năm dục sáu trần chấm rứt, thì thân tâm, sáu căn tám thức ba nghiệp liền được thanh tịnh, đạt đến tịnh niệm, vô niệm, không còn bất cứ niệm nào trong tâm thức, tư duy cũng không còn, ba nghiệp thanh tịnh vô niệm. Đó chính là bước vào cửa thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn, tâm thức vô niệm, vô trụ, trụ vào thể thanh tịnh, trụ vào tính không, chân không.

Chính niệm, của người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, bị tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, bị ràng buộc trong năm dục sáu trần bởi những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét của thân tâm. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, là những nhận thức, tâm thức, tri thức bị giới hạn, bị kẹt trong những nguyên nhân tập đế, dẫn đến quả báo khổ đế. Do không biết chân tướng sự thật về các pháp, cho lên thân tâm, tri kiến có nhiều sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, vào những định kiến, tà tri tà kiến, những hiểu biết sai lầm về những sự vật, sự việc, hiện tượng, trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này.

Cho nên bị chúng ràng buộc tâm thức trong những pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, để rồi bị nó lôi kéo trầm luân trong sinh tử luân hồi sáu cõi ba đường ác, người bị tâm vô minh làm chủ, thường có tâm niệm, ba nghiệp thân, khẩu, ý, tư duy niệm đều vì cái tôi, cái của tôi. Chúng đều vì những tham đắm được hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần, bám chấp hưởng thụ phước báo nhân thiên, do nhân duyên thiện căn, phước đức, chưa đủ để tiếp nhận Phật pháp, chưa đủ để nhận thức giác ngộ chân lý giải thoát. Mà do những cám dỗ, của những cảm thọ mà tạo tác ba nghiệp, sáu căn tám thức, tạo tác các hành vi như vi phạm pháp luật, vi phạm giới luật, trái với nhân cách, đạo đức con người. Chúng tạo ra những nguyên nhân tập đế, dẫn đến chịu quả báo khổ đế, tạo ra những nguyên nhân ràng buộc tâm thức trong năm dục sáu trần, sáu căn tám thức, ba nghiệp không tịnh, không thiện, loạn động, đều bị nghiệp lực thiện ác lôi kéo trầm luân trong sáu cõi luân hồi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Tức là con người chưa giác ngộ, thì tâm thức đều niệm những sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, luôn nhớ nghĩ đến năm dục sáu trần, luôn vì cái thân tâm ta, cảm thọ của ta, luôn tưởng nhớ ý niệm đến vợ chồng, con cái, cha mẹ, thầy bạn, những người thân quen trong gia đình và ngoài xã hội, tưởng nghĩ đến nhiều học thuyết, triết học, tôn giáo, khoa học trên toàn thế giới. Nhớ nghĩ đến những thứ đó, là nhớ nghĩ tâm niệm đến những điều vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, rồi buồn vui, sướng khổ, yêu thích, chán ghét với những thứ đó, sinh ra duyên ái, thủ, hữu, những cảm thọ chi phối lưu luyến khó phai, để rồi thân tâm bị lôi cuốn theo những thứ đó, trong sinh tử luân hồi, bị vô thường sinh diệt theo những thứ đó, trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Khi chúng ta nhận thức ra được chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, có được chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm, thì tâm thức, sáu căn tám thức, ba nghiệp được hoàn toàn thanh tịnh, được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.

Chính niệm, là thường niệm giác mà không niệm mê, luôn luôn giữ thân tâm sống trong tỉnh thức, không làm các việc ác, luôn làm các việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh, luôn giữ chính niệm trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, luôn niệm tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, niệm Tam bảo, niệm Phật, pháp, tăng, niệm giác, niệm chính, niệm tịnh. Chính niệm tốt nhất là chúng ta thường xuyên liên tục nhiếp hết sáu căn, để niệm danh hiệu A di đà Phật, nhớ Phật niệm Phật, công đức vô lượng vô biên, niệm Phật là niệm mười phương ba đời chư Phật, và cũng được mười phương ba đời chư Phật hộ niệm tự tính A di đà Phật, trong mỗi con người chúng ta đều có. Vì đức Phật nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, Phật là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, chúng ta niệm Phật để được thành Phật, còn Phật hộ niệm chúng ta, để chúng ta sớm được giác ngộ chân lý giải thoát thành Phật. Chư Phật hộ niệm và trợ niệm tự tính A di đà Phật trong mỗi con người chúng ta, giúp chúng ta sớm niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, minh tâm kiến tính thành Phật.         

7.2.8. Chính định trong chân đế

Chính định, được sinh ra từ chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm. Chính định, là sự định tâm thanh tịnh, do đã đạt được chính niệm thanh tịnh thường xuyên liên tục không gián đoạn, có được thường chính kiến, có được thanh tịnh ba nghiệp, thân, khẩu, ý, sáu căn tám thức thanh tịnh. Do ghi nhận cảm thọ thanh tịnh, hạnh phúc vui sướng khi có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, hạnh phúc vui sướng khi tâm thức, sáu căn tám thức được tự do, tự tại, an lạc, được giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của năm dục sáu trần bởi những cảm thọ vui buồn sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Do được hưởng thụ thỏa mãn về cái ta, cái của ta, hạnh phúc, vui sướng của người có chính định là do nhận thức, hiểu thấu được chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, phá tan được tâm vô minh tăm tối, đoạn trừ được hết những lậu hoặc, tà tri, tà kiến, những sự bất tịnh, bất thiện của thân tâm không còn, xa rời đoạn trừ được hết những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Người có chính định, là người hoàn toàn giác ngộ chân lý giải thoát, là người có đời sống, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý, chân thành, thật thà, thanh tịnh, chính giác, từ bi, giác ngộ, tùy duyên, chính định, tự giác, giác tha, hành giác. Là người có tình thương bình đẳng, vô điều kiện đối với mọi người, mọi chúng sinh, đều được tôn trọng bình đẳng lễ kính, thương yêu những người lớn tuổi hơn giống như yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị của mình. Còn yêu thương những người ít tuổi hơn mình giống như yêu thương người em, người con, người cháu trong gia đình, không phân biệt, người đó là ai, thuộc trường phái học thuyết, triết học, tôn giáo, khoa học, già trẻ, nam nữ, tốt xấu, thiện ác, vùng miền, quốc gia dân tộc, nhân loạn trên toàn thế giới. Tất cả đều được thương yêu, giúp đỡ, bình đẳng chân thành, thật thà, thanh tịnh, chính giác, từ bi, tùy duyên, đúng chính pháp trong Phật pháp.

Còn đối với người có chính định, được sinh ra từ chính kiến của con người, hoặc là tà ác định được sinh ra từ tà ác kiến, ác tri thức thì tình thương thường có điều kiện, có cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghet, tình thương yêu đó chưa bình đẳng, chưa thanh tịnh, chưa chân thành, thật thà, chưa chính giác, chưa từ bi. Tình thương đó có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng vào năm dục sáu trần, vào cái ta, cái của ta, vào duyên ái, thủ, hữu để rồi bị những điều kiện ràng buộc tâm thức, lôi kéo tâm thức đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Như vậy, chính định là cảnh giới thanh tịnh của thân tâm, của sáu căn tám thức thanh tịnh tự do, tự tại, an lạc, giải thoát giác ngộ chân lý. Là cảnh giới thường tịnh, thường lạc, của thân tâm đối với năm dục sáu trần, đối với các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, thế sự đều không liên quan đến tâm thức thanh tịnh tịch diệt của chúng ta, chỉ còn sự thanh tịnh của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, đối với năm dục sáu trần. Chỉ còn những cảm thọ về sự thanh tịnh, thân tâm luôn định tịnh, chính định không màng đến sự hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, không quan tâm, không vướng mắc vào những cảm thọ do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức. Chính định là sự chứng đắc tất cả những pháp đạo đế, chân đế, đã đạt đến sự diệt đế, thân tâm sáu căn tám thức, ba nghiệp đã đạt được sự thanh tịnh vắng lặng, thường xuyên liên tục, bất biến, thường hằng định tịch, vĩnh viễn có được sự tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, nhập vào cảnh giới thiền định thiền tuệ sinh ra trí tuệ bát nhã, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh.

 

 

 

 

PHẦN II. ĐOẠN DIỆT VÔ MINH VÀ GIẢI THOÁT TRI KIẾN

 

1. Phần kinh văn bát nhã ba la mật đa tâm kinh

Khi thể nhập sâu xa, trí bát nhã ba la mật đa, bồ tát quán tự tại soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua hết thẩy khổ ách. Này ông xá lợi tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như thế. Này ông xá lợi tử, tướng không của các pháp, đều không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm, cho nên trong chân không, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn thức giới, cho đến ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, bồ tát y theo trí bát nhã ba la mật đa, nên tâm không bị ngăn ngại, vì tâm không bị ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa rời được mộng, tưởng, điện đảo, đạt đến cứu cánh niết bàn. Chư Phật ba đời, đều y theo trí bát nhã ba la mật đa, đều được đạo quả vô thượng chính đẳng, chính giác, nên biết bài chú bát nhã ba la mật ba, là chú đại thần, là chú đại minh, là chú vô đẳng đẳng, nên trừ được hết thẩy khổ, trân thật không hư. Vì vậy nói ra bài chú bát nhã ba la mật đa, liền nói bài chú ấy rằng, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tác bà ha.

2. Nội dung bài kinh văn bát nhã ba la mật đa tâm kinh

Bài kinh văn bát nhã ba la mật đa tâm kinh thể hiện nội dung mô tả chân lý giác ngộ giải thoát, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tức là bát nhã ba la mật là cảnh giới chính tri kiến cao nhất, nằm ngoài chính tri kiến của con người, chúng sinh trong sáu cõi ba đường ác. Là trí tuệ bát nhã của người giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức hoàn toàn trong sạch vắng lặng, thường tịnh quang Phật, sáu căn tám thức thanh tịnh tịch diệt. Đây là bài kinh văn trong đại tạng kinh, viết về sự chứng đắc cảnh giới giác ngộ chân lý giải thoát của tâm thức người giác ngộ chân lý. Và đây cũng là cảnh giới chứng đắc giác ngộ của các bậc thanh văn, duyên giác, bồ tát, đạt đến cứu cánh niết bàn, thành bậc chính đẳng, chính giác, chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, cảnh giới thường lạc ngã tịnh.

Như vậy, bài chú bát nhã ba la mật đa tâm kinh này, là bài kinh văn mô tả về cảnh giới chứng đắc của tâm thức con người được giác ngộ chân lý giải thoát, đạt được chính định thường tịnh, viết về thể tính chân tâm, viết về Phật tính, tri kiến Phật, bản thể, pháp thân Phật. Đó là cảnh giới cao nhất của bậc giác ngộ chân lý giải thoát, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh, cảnh giới minh tâm kiến tính thành Phật, cảnh giới nhất tâm bất loạn, cảnh giới thiền định, thiền tuệ sinh ra trí tuệ bát nhã, có được năng lực, thần lực, trí lực, có được tâm đại bi, trí, dũng. Có được khả năng diệu dụng về tam minh, lục thông, có được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, và lục thông là túc mạng thông, thiên nhãn thông, biến hóa thông, thần túc thông, thiên nhĩ thông, lậu tận thông. Khi chúng ta có được khả năng này, là có được sự giác ngộ chân lý giải thoát, đạt được tâm thức chính đẳng chính giác. Có được đức năng, lòng đại từ, đại bi vì chúng sinh, vì con người và bằng những  giáo lý, đạo lý, pháp phương tiện trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, bằng những phương pháp giáo lý trong ba thừa, năm thừa, là nhân thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa, Phật thừa, để giáo hóa chúng sinh, giúp đỡ mọi người phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, được giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập vào thể tính chân tâm, ngộ nhập vào tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh, thường tuệ an lạc, thường tịnh quang Phật.

Do đó, bài chú bát nhã ba la mật đa tâm kinh, là phần kinh văn viết về cảnh giới chứng đắc của tâm thức người giác ngộ chân lý giải thoát, cảnh giới của chư bồ tát, tu hành bồ tát đạo, bồ tát thừa. Hoặc bất kỳ chúng sinh nào trong sáu cõi ba đường ác, có được sự giác ngộ chân lý giải thoát, thì đều được bình đẳng bước vào cảnh giới chứng đắc quả vị Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chính đẳng, chính giác. Đây cũng là phần kinh văn cao nhất, đỉnh điểm của cảnh giới giác ngộ chân lý giải thoát của tâm thức, là tâm thức của bậc đại bồ tát, là tâm thức của bậc bồ tát, chính đẳng, chính giác, đạt đến cảnh giới cao nhất thường tịnh quang Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, là một tâm điểm phương tiện bậc nhất, là trung tâm, là điểm quy tụ, là điểm cuối cùng thường tịnh tịch diệt của các pháp trong ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, quay về hội tụ tại cao điểm giác ngộ chân lý giải thoát. Là điểm cuối của các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, đều được hội tụ, quy nạp, tại bài kinh này. Bát nhã ba la mật đa tâm kinh là chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là cảnh giới bước vào nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh. Là điểm đến của tâm thức mọi người, mọi chúng sinh giác ngộ chân lý giải thoát, do đó người giác ngộ chân lý giải thoát, có được cảnh giới chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì cần phải tu hành hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Nhờ đó mà nhận thức được tất cả các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, đoạn trừ được hết những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, do những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, sinh ra những phiền não khổ đau. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, mà có những cảm thọ, phá tan sự ngăn che chân tướng sự thật về các pháp. Từ đó đoạn trừ hết tâm vô minh, lậu hoặc, đoạn trừ hết sự vướng mắc của tâm thức vào năm dục sáu trần, vượt qua những định kiến, tri kiến, tà tri, tà kiến của con người, của chúng sinh muôn loài, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp được thanh tịnh tịch diệt, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, đạt được sự nhất tâm bất loạn, được minh tâm kiến tính, giác ngộ chân lý giải thoát, thì mới có được trí tuệ bát nhã ba la mật đa tâm kinh, ngộ nhập được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Tâm thức được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, được sự giải thoát, giải thoát tri kiến của con người, đến ngộ nhập lấy tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thê Tôn, thể nhập sâu xa trí bát nhã ba la mật đa tâm kinh, đạt được cảnh giới giác ngộ cao nhất nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Ngũ uẩn

Ngũ uẩn hay gọi là năm uẩn. Năm uẩn, bao gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, tâm thức con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, thì đều bị vướng mắc ràng buộc vào năm uẩn. Trong quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, để lại những ấn tưởng, những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Do tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Cho nên trong quá trình tiếp xúc với ba nghiệp thân, khẩu, ý, sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sinh ra sáu thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, sáu nhận thức ghi nhận những cảm xúc, cảm thọ vào ký ức, bộ não, a lại gia thức, tiềm thức, tàng thức. Thông qua tống truyền thức, mạc gia thức, để lưu ngữ vào tàng thức kho lưu trữ thông tin, giữ liệu trong quá trình tiếp xúc của thân tâm đối với mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong đối nhân sử thế, tiếp người, tiếp vật, tiếp việc, tiếp hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này. Do nhận thức, sáu căn tám thức về sáu trần, về những cảm thọ mà sinh ra nhân duyên ái, thủ, hữu, là sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những sự yêu thích hưởng thụ, thỏa mãn cái tôi, cái của tôi, về phước báo nhân thiên, phúc, lộc, thọ, và chán ghét những cảnh khổ, khổ đế. Đó là ba khổ, gồm có khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, tám khổ là sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt lý, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạch, do ba nghiệp tạo tác các nguyên nhân tập đế mà sinh ra.

Như vậy, con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, chưa có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, chưa hiểu thấu được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, chưa đoạn trừ hết những phiền não, chưa đoạn trừ được hết sự vướng mắc của thân tâm vào những cảm thọ do năm dục sáu trần dụ dỗ mê hoặc, ràng buộc. Tâm thức chưa phá tan được tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp, do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, chưa tịnh hóa được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp, chưa có được cảm thọ thanh tịnh khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức. Tất cả đều bị năm uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chi phối, ràng buộc làm chủ thân tâm, sai khiến chỉ đạo ba nghiệp, thân, khẩu, ý chạy theo những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, đeo bám thân tâm. Sáu căn tám thức đều là bất tịnh, bất thiện, tùy thuận phiền não, tùy thuận năm uẩn sai khiến chỉ đạo, lôi kéo thân tâm đi trong sinh tử luân hồi, trong vô thường sinh diệt, trầm luân lên xuống trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Tức là thân tâm của con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, là thân tâm của năm uẩn, là nghiệp thức tái sinh sinh diệt, sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Do quá trình sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, và do tâm vô minh, do tâm thức vướng mắc vào những cảm thọ, ràng buộc vào sắc trần, là sáu trần cảnh là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Từ những sắc trần này và do tâm thức có sự phân biệt tốt xấu, yêu thích, chán ghét, thật giả, đúng sai, và do tâm thức có chấp trước vào những định kiến, kiến thức. Là tri kiến hiểu biết trí tuệ của con người, là những quan điểm, khái niệm, phong tục tập quán, văn hóa, nhận thức của con người. Là những quy định, luật lệ mà có sự lựa trọn đánh giá tốt xấu, yêu thích hoặc chán ghét, tâm thức lại luôn bị tham đắm vào những thứ mình yêu thích, chán ghét đó, như hình với bóng, yêu thích thì cũng bị bám theo ba nghiệp tạo tác đều hướng tới sự hưởng thụ, thỏa mãn, chinh phục, ái nhiễm, thủ giữ, sở hữu, còn chán ghét thì cũng bám chấp dẫn đến ba nghiệp tạo tác hướng tới sự loại bỏ, xa lìa, đoạn trừ nó. Vì nó mà thân tâm sinh ra những cảm thọ vui sướng, khi đạt được sự hưởng thụ thỏa mãn, và buồn khổ khi không đạt được sự hưởng thụ, thỏa mãn những điều mong cầu, đây là những nguyên nhân tập đế, sinh ra những sự buồn khổ của thân tâm, ba khổ, tám khổ trong khổ đế. Do chính những cảm thọ này tạo ra những sự vọng tưởng, tưởng tượng, hình dung, tham đắm, luôn giữ những ấn tượng, khoảng khắc về sự vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, là những cảm tưởng, tưởng nhớ về những ấn tượng về sáu sắc trần.

Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mà sinh ra những cảm thọ đó. Từ những sự tưởng tượng, liên tưởng, suy tưởng về những cảnh sắc trần, trong quá trình tiếp xúc của thân tâm, sáu căn tám thức từ quá khứ đến hiện tại và đến tương lai, hình thành lên những ý tưởng, tưởng tượng, hình dung, mô phỏng, là những phát minh, phát hiện mới, sáng kiến mới, giúp ích hữu hiệu cho đời sống sinh hoạt của con người. Đó cũng là những tri kiến hiểu biết của con người, là trí tuệ nhận thức của con người trong qua trình tiếp xúc tạo tác của ba nghiệp đối với thế giới bên ngoài. Hoặc do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu nhận thức, sáu tri kiến của con người. Từ những sự tưởng tượng, vọng tưởng, ý tưởng mới sinh ra hành uẩn. Đó là những hành vi tạo tác của thân hành và tâm hành, của ba nghiệp, thân, khẩu, ý, của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhằm đạt được những sự hưởng thụ, thỏa mãn  những cảm thọ về yêu thích, vui sướng đối với sáu sắc trần, đối với năm dục sáu trần. Là tạo tác hành động của sáu căn, nhằm đạt được những hiệu quả mong muốn, của ý tưởng, tưởng tượng, nhằm đạt được những cảm thọ hưởng thụ thỏa mãn năm dục sáu trần.

Như vậy, hành uẩn là thân hành và tâm hành, tâm thức là tâm thức tái sinh, là thức vướng mắc trong những cảm thọ, vướng mắc ràng buộc trong năm dục sáu trần, bị tâm vô minh làm chủ, hành uẩn là hành động tạo tác của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý. Do bị vướng mắc vào năm dục sáu trần, ràng buộc vào những thứ vô thường sinh diệt, do bị ràng buộc vào những cảm thọ vô thường sinh diệt, bị sự chỉ đạo sai khiến của tâm vô minh, của tưởng uẩn, tưởng tượng, vọng tưởng, của phân biệt, chấp trước, vào những tri kiến, định kiến, tà tri, tà kiến của con người về chân tướng sự thật về các pháp, dẫn đến những hành động, tạo tác của thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp đều vì cái ta, cái của ta. Vì những cảm thọ ham muốn hưởng thụ thỏa mãn năm dục sáu trần, do đó tâm thức bị bất tịnh, bất thiện, loạn động, phiền não, khổ đau, tạo ra những nguyên nhân tập đế, dẫn đến khổ đế, tạo ra những nguyên nhân dẫn tâm thức đến sự sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chịu nhiều buồn khổ.

Từ những hành động tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, của thân tâm, của sáu căn tám thức, trong quá trình tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, thì tạo ra thức uẩn, thức uẩn là thức tái sinh do tâm thức bị vướng mắc, bám vứu vào những cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét đối với năm dục sáu trần. Nó sinh ra những nhân duyên ái, thủ, hữu, những cái đó thuộc về cái ta, cái của ta. Nó là nguyên nhân dẫn tâm thức tái sinh trong sáu cõi luân hồi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ, thức uẩn là thức tái sinh do tâm vô minh làm chủ, thức uẩn là nhận thức, ý thức, tri kiến, kiến thức hiểu biết của con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, thức uẩn này là nghiệp thức tái sinh, do tâm vô minh làm chủ, chi phối, lôi kéo tâm thức chúng ta vào trong sinh tử luân hồi, sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, là người có được sự ngộ nhập chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là người hiểu thấu biết rõ về ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo. Là người nhận thức rõ về năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh, nhận thức hiểu thấu được chân tướng sự thật về các pháp đều là pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Là người đã đoạn trừ được hết những sự ràng buộc vướng mắc của thân tâm vào năm dục sáu trần, do những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét sinh ra. Là người đoạn trừ được hết những lậu hoặc, đoạn trừ hết những nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế, dẫn tâm thức đến sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Là người đã đoạn trừ được tất cả những nguyên nhân làm cho sáu căn tám thức, thân tâm, ba nghiệp bất tịnh, bất thiện, loạn động, tham đắm trong hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, hưởng thụ phước báo nhân thiên, phúc, lộc, thọ, trầm luân trong sinh tử luân hồi sáu cõi ba đường ác.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, phá tan được tâm vô minh, có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được sự tịnh viên cảnh trí, có được cảnh giới thường tịnh quang Phật. Đối với sáu sắc trần, trong quá trình tiếp xúc của sáu căn, của ba nghiệp thân, khẩu, ý, không để lại ấn tượng, cảm thọ vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét, mà chỉ là cảm thọ thanh tịnh, do có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Có được ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, hiểu thấu được các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, đối với thân người là sinh lão bệnh tử, đối với vật chất, khoáng chất, thực vật, là sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không. Thân xác của chúng ta bản chất là do nhân duyên hòa hợp của bốn đại lượng đất, nước, gió, lửa, hình thành, nuôi dưỡng, tồn tại, phát triển đến sự lão, bệnh, tử, thì lại trở lại với bốn đại lượng đất, nước, gió, lửa, sáu sắc trần cũng thế. Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, do hòa hợp, hiện hữu, có hình tướng, tồn tại và rồi tan biến, diệt vong trở về với nguyên thủy của nó. Hoặc biến đổi hòa hợp với các nhân duyên khác, để tạo thành những sự vật, sự việc, hiện tượng mới, con người mới, chúng sinh mới, nối tiếp có hiệu hữu, rồi lại bị những quy luật sinh diệt nối tiếp tương tục trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, vật chất, thực vật, khoáng vật cũng thế, bản chất của chúng là tính không, không chủ thể, chúng là những nhân duyên do nương tựa vào nhau, do hòa hợp với nhau mà tạm thời hiện hữu có hình tướng có mặt. Tất cả chúng đều do những nhân duyên khác hoặc bản thân chúng tan rã, tàn hoại, diệt vong mà biến mất, chuyển hóa sinh diệt tiếp nối luân hồi từ dạng này sang dạnh khác, từ trạng thái này sang trạng thái khác, không có chủ thể riêng biệt độc lập. Cho nên gọi nó là sắc tính không, tướng không, tức là nó chưa bao giờ tồn tại mãi mãi thường còn, từ nguyên thủy đến nay vẫn là nguyên thủy, tức là sáu sắc trần đều là tính không. Chúng có hiện hữu hình tướng tạm thời rồi lại tan biến, tàn hoại, diệt vong, chúng do nhân duyên hòa hợp nương tựa vào nhau mà có mặt, còn bản chất thật sự của nó là không có. Thân xác của chúng ta cũng vậy, nó đều là tính không, do bốn đại lượng đất, nước, gió, lửa, nương tựa vào nhau mà có mặt, hiện hữu rồi chúng cũng tan biến.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, có được sự giác ngộ chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì thấy được sắc tức là không, không tức là sắc, không chính là sắc, sắc chính là không, thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều là tính không. Do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra thọ, tưởng, hành, thức uẩn, đều là tính không, sắc tính không thì có được cảm thọ thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, không vướng mắc vào sắc do hiểu thấu được tính không, cho nên không bám vào năm dục sáu trần, không sinh ra những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Mà chỉ sinh ra những cảm thọ thanh tịnh, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, dẫn đến những ý tưởng, tưởng tượng tham đắm vào những cảm thọ do ham muốn hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần không còn, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh tính không, do đó tưởng uẩn cũng không còn, cũng là tính không, do tưởng uẩn thanh tịnh tính không, dẫn đến những hành vi tạo tác của ba nghiệp thân, khẩu, ý, sáu căn cũng đều thanh tịnh, tính không. Không bị năm dục sáu trần mê hoặc, chi phối dẫn đến thức uẩn cũng được thanh tịnh, tính không, vô niệm, vô trụ, giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, năm uẩn hoàn toàn được thanh tịnh, tính không, nhập vào được thể tính chân tâm, chứng đắc được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, tính không.

Như vậy, con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, chưa ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì là con người của năm uẩn hòa hợp mà tạo thành thân tâm, sáu căn tám thức, đều bị năm uẩn chi phối, ràng buộc, sai khiến, bị năm dục sáu trần ràng buộc thân tâm, sáu căn tám thức trong những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Do tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp, mà ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo tác các hành vi là nguyên nhân tập đế, là nguyên nhân dẫn đến luân hồi sinh diệt, là nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Do bám chấp vào những thứ vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, những thứ do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Tức là con người chưa giác ngộ, chứa đựng trong tâm thức, sáu căn tám thức là năm uẩn, tâm thức bám chấp vào năm uẩn, thức uẩn là thức tái sinh, là nghiệp thức thiện, ác, do ba nghiệp tạo tác sinh ra trong đời sống. Tùy vào nghiệp thiện ác, mà nghiệp lực tái sinh lôi kéo tâm thức đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ, được hưởng phước báo nhân thiên, hay bị đọa lạc vào ba đường ác, là tùy thuộc vào nghiệp thức, phụ thuộc vào ba nghiệp tạo tác. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, mà thức tái sinh sẽ tìm đến cảnh giới tương ứng để bám trụ, để hiện hữu và rồi sẽ tàn hoại, tan biến tiếp nối tương tục không ngừng rứt trong sáu cõi luân hồi ba đường ác.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, có được thân tâm, sáu căn tám thức, thanh tịnh, do hiểu thấu chân tướng sự thật về các pháp đều là do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, các pháp đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, hiểu rõ về bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo, chứng đắc tứ thánh quả, cho nên đã thấy được năm uẩn tính không, năm uẩn là không, không là năm uẩn. Do đó mà tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh giác ngộ chân lý, giải thoát, tâm thức được thoát khỏi mọi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, thoát khỏi những cảm thọ, tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ, đạt đến trạng thái thân tâm sáu căn tám thức tịnh viên cảnh trí, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh tính không, tướng không, chân không.  

Tướng không của các pháp đều không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm. Con người chưa giác ngộ thì nhìn thấy, quan sát thấy các pháp đều thay đổi theo thời gian. Do có sự tác động qua lại mà các pháp có hiện hữu, có hình tướng và rồi bị tan biến diệt vong, có sinh, có diệt, vô thường sinh diệt. Đối với con người thân thể là sinh lão bệnh tử, đối với vật chất, khoáng chất, thực vật, là thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, còn đối với tâm thức do bám vào năm dục sáu trần, bám chấp vào các pháp vô thường sinh diệt, lên cũng bị nghiệp lực lôi kéo tâm thức theo vô thường sinh diệt, sinh lão bệnh tử, luân hồi trong sáu cõi ba đường ác.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, thì tâm thức, sáu căn tám thức đều hoàn toàn thanh tịnh, không bị vướng mắc, không bám trụ vào những thứ thuộc năm dục sáu trần, những thứ bị vô thường sinh diệt, những thứ luân hồi sinh diệt tiếp nối trong sáu cõi ba đường ác. Cho nên tâm thức của người giác ngộ chân lý giải thoát hoàn toàn thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Nhưng thân xác người giác ngộ thì là thân thể vật chất, sinh học, vật lý, do tứ đại hợp thành, tứ đại nương tựa, hòa hợp, mà không hòa tan vào nhau, chúng hoàn toàn vẫn là chúng, cho dù đất, nước, gió, lửa, do nhân duyên hòa hợp nương tựa vào nhau để có hiện hữu, có hình tướng, có mặt trên cuộc đời là hình thái gì, tính chất gì, vật thể gì, thì chúng vẫn là chúng. Khi hết nhân duyên, những nhân duyên để duy trì sự sống, sự tồn tại, sự liên kết hòa hợp nương tựa vào nhau đó không còn. Hoặc do có sự tác động của những nguyên nhân khác, để tạo thành sự hiện hữu mới tiếp nối. Cho dù tiếp nối sinh diệt như thế nào, thì chúng vẫn là chúng, vẫn là nguyên thủy đất, nước, gió, lửa. Khi thân tứ đại tan dã, tàn hoại, diệt vong thì thân xác bị phân hủy trở về với nguyên thủy ban đầu đất, nước, gió, lửa, và cứ tương tục sinh diệt tiếp nối trong vòng sinh tử luân hồi sáu cõi ba đường ác, của tâm thức khi bám trụ vào thân xác vào cái ta, cái của ta, do nhân duyên thọ, ái, thủ, hữu tạo ra.

Người giác ngộ chân lý giải thoát thì tâm thức hoàn toàn thanh tịnh, không sinh, không diệt, không nhơ không sạch, không tăng, không giảm, tính không của các pháp cũng thế, bản chất vạn pháp nó vẫn là nó. Tâm thức của người giác ngộ hoàn toàn thanh tịnh, từ vô thủy đến nay nó vẫn là thanh tịnh, nó vẫn là nó, cho dù tâm thức bị năm dục sáu trần ràng buộc, tâm vô minh che lấp chân tướng sự thật về các pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt, thân tâm bị mắc kẹt trong những cảm thọ, về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét về năm dục sáu trần. Do có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm hưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, về cái ta, cái của ta, dẫn đến tạo ra những nghiệp thức tái sinh, sinh tử luân hồi, hành động của ba nghiệp sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tạo ra những nguyên nhân tập đế dẫn đến quả khổ đế. Đó là những nguyên nhân, vi phạm pháp luật, giới luật hoặc tu hành năm giới mười thiện, thì được hưởng phước báo nhân thiên, phúc, lộc, thọ, tức là tâm thức hòa hợp, bám trụ vào năm dục sáu trần, bám trụ vào cảnh giới của con người.

Cảnh giới là tri kiến, định kiến, tà tri, tà kiến của con người và chư thiên, cũng như bám trụ vào cảnh giới của chúng sinh trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Cho nên mới có sự sinh diệt, nhơ sạch, có sự tăng giảm, có hiện hữu hình tướng và có tàn hoại biến mất theo các quy luật vô thường sinh diệt, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không. Còn khi thân tâm, sáu căn tám thức ba nghiệp hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, không trụ, không bám vào những cảnh giới tri kiến, những cảm thọ về năm dục sáu trần, không bám vào cái ta, cái của ta, thì hoàn toàn tâm thức được tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý giải thoát. Tâm thức được thoát khỏi sinh tử luân hồi, ngộ nhập tri kiến Phật, tâm thức không còn sinh, không còn diệt, không còn nhơ, không còn sạch, không còn tăng, không còn giảm, không còn hiện hữu hình tướng trong sáu cõi luân hồi ba đường ác, không bị mất đi. Tâm thức thanh tịnh thường tịnh vẫn là tâm thức thanh tịnh thường tịnh từ vô thủy kiếp đến giờ, nó vẫn là nó, cho dù đã trải qua hàng nghìn năm, muôn ức kiếp và vị lai vô cùng, thì nó vẫn là nó, không hề thay đổi, không hề sinh diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm. Đây là cảnh giới chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là cảnh giới trạng thái tâm thức của người giác ngộ chân lý giải thoát, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.

Chân không

Trong chân không, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, không có già chết cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, bồ tác y theo trí bát nhã ba la mật đa, nên tâm không bị ngăn ngại, vì tâm không bị ngăn ngại, nên không sợ hái, xa rời được mộng tưởng điện đảo, đạt đến cứu cách niết bàn.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, cảm thọ về năm dục sáu trần thanh tịnh, do ngộ nhập được tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, đã phá tan được tâm vô minh, đoạn trừ được hết những lậu hoặc, phiền não, khổ đau, đoạn trừ hết nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế. Đoạn trừ được hết những sự ràng buộc vướng mắc của năm dục sáu trần vào tâm thức, không còn vướng mắc vào bất cứ thứ gì. Sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, chúng đều là những thứ do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Chúng đều là pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, không có tự ngã riêng biệt độc lập, không ai làm chủ chúng, chúng tồn tại sinh diệt theo những quy luật sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt.

Do đó, con người giác ngộ chân lý giải thoát có được thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới niết bàn thường tịnh chân không, thì không còn có mặt của sáu căn, sáu trần, sáu thức, vì chúng đều bị nhận chân, đều bị tịnh hóa. Bản chất của chúng là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, và do nhân duyên tàn hoài mà diệt vong, chúng đều là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Cho nên trong chân không, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới, không có vô minh cũng không có cái hết vô minh, không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chứng đắc, bồ tát y theo trí bát nhã ba la mật đa, lên tâm không bị ngăn ngại, vì tâm không bị ngăn ngại, lên không sợ hãi, xa rời được mộng tưởng điện đảo, đạt đến cứu cách niết bàn.

Trong chân không, không có mười hai nhân duyên là không có nhân duyên vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh lão bệnh, tử. Con người chưa giác ngộ chân lý giải thoát, ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, thì tâm thức bị chu trình mười hai nhân duyên này chi phối. Tâm thức, sáu căn tám thức vướng mắc vào mười hai nhân duyên, mười hai nhân duyên là tiến trình, là quy luật thuộc về người có tâm vô minh, người bị vướng mắc trong năm dục sáu trần, thân tâm bị những cảm thọ chi phối, làm cho tâm thức bất tịnh, bất thiện.

Tâm thức có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những sự hưởng thụ về năm dục sáu trần, vì cái ta, cái của ta, thì tâm thức đó đều bị quy trình mười hai nhân duyên chi phối, làm chủ, lôi kéo tâm thức tái sinh đi trong sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Tức là từ nhân duyên vô minh, là những tạo tác, nhận thức trí tuệ của con người, hoặc là tà tri, tà kiến, những hiểu biết sai lầm không đúng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không, cho nên thân tâm bị vướng mắc vào năm dục sáu trần, do những cảm thọ, duyên thọ chi phối sai khiến tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý, thì hình thành lên tâm vô minh, khi thọ mạng hết thì tâm vô minh lôi kéo dẫn dắt tâm thức, nhận thức trí kiến đi tìm thân mới. Môi trường cảnh giới tái sinh mới, nhân duyên hành thể hiện, là những hành vi tạo tác ba nghiệp thiện ác của chính tri kiến, hoặc tà tri, tà kiến, mà dẫn đến cảnh giới tái sinh tương ứng với tâm vô minh, hành nghiệp trong đời trước và đời quá khứ. Từ đó nghiệp thức tái sinh đến cảnh giới mới của nhân duyên danh sắc, là sáu sắc trần trong lục đạo luân hồi, để hòa hợp nương tựa vào nhau, để hình thành bào thai trong bụng mẹ. Do tứ đại đất, nước, gió, lửa hợp thành, tương ứng là thức ăn, nước uống, không khí ô xi, thân nhiệt độ ấm phù hợp, để hình thành lên lục nhập, là sáu căn theo tri kiến, nhận thức, theo nghiệp thức tái sinh thiện ác, mà hình thành lên lục nhập, sáu căn, khi đã có sáu căn đầy đủ, được mẹ sinh ra đời, được tiếp xúc sáu căn với sáu trần, tạo ra sáu thức.

Do có những định kiến, tri kiến, nghiệp thức tái sinh do tri thức của con người tác động chi phối, hình thành lên những sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tham đắm vào những cảm thọ về vui buồn, sướng khổ, yêu thích, chán ghét. Nhân duyên thọ xuất hiện sinh ra nhân duyên ái, là tình cảm, tình thương, tình yêu, những mối quan hệ thân thiết, thân cận, những mong cầu dẫn đến nhân duyên thủ, gìn giữ ghi nhớ, dẫn đến nhân duyên hữu là sự mong muốn sở hữu, tham đắm vào những thứ dục lạc, hưởng thụ thỏa mãn phước báo nhân thiên. Hoặc vì nó mà tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý, sinh ra nghiệp lực thiện ác, dẫn tâm thức đến sự tái sinh mới trong sáu cõi ba đường ác, vòng đời mới ra đời, nhân duyên sinh lão bệnh tử.

Người giác ngộ chân lý giải thoát, có được chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, đoạn trừ được hết những sự ràng buộc của sáu căn tám thức, phá tan tâm vô minh, thì thân tâm sáu căn tám thức ba nghiệp thanh tịnh, thì nhân duyên thọ không còn, thì mười một nhân duyên còn lại không còn, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Tâm thức hoàn toàn được tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh, giải thoát giác ngộ chân lý, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường tịnh, tính không, chân không, tướng không. Do đó, chu trình mười hai nhân duyên không còn có mặt trong chân không, trong trạng thái tâm thức niết bàn. Và tương tự như thế thì khổ, tập, diệt, đạo cũng không còn có mặt trong chân không, trong niết bàn thường tịnh. Do không còn có mặt của sáu căn tám thức, ba nghiệp, cho nên chấm rứt tất cả những nguyên nhân tập đế dẫn đến khổ đế, chấm dứt tất cả những pháp đạo đế, dẫn đến diệt đế. Vì trong chân không niết bàn, thì không có mặt của các pháp, ba đại tạng kinh, người hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo đều không có mặt trong chân không, niết bàn thanh tịnh tịch diệt, chính tri kiến của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, là một thể thanh tịnh thường tịnh quang Phật, là cảnh giới có được khi chúng ta nhập vào thiền định, thiền tuệ, sinh ra trí tuệ bát nhã, nhập diệt niết bàn mới có được trạng thái chân không, thanh tịnh tịch diệt.

Như vậy, nếu không còn pháp, vạn pháp đều không có mặt, thì không có đắc pháp, không có chứng đắc, không có các quả, không có tứ thánh quả, không có tam thừa, ngũ thừa, trong chân không, trong niết bàn thường tịnh tịch diệt. Do không có chứng đắc, không có sự bám trụ của tâm thức vào một cảnh giới nào, cho dù là cảnh giới đó, là sáu cõi luân hồi ba đường ác, cho dù là cảnh giới tứ thánh quả, thanh văn, duyên giác, bồ tát, Phật quả. Do đó cũng không có trí tuệ, không có nhận thức, vì tất cả đều là một thể thanh tịnh tịch diệt. Vì không có chỗ chứng đắc, lên tâm thức không bị ngăn ngại, vì không bị ngăn ngại, lên không sợ hãi, xa rời được mộng tưởng điện đảo, đạt đến cứu cánh niết bàn. Chư Phật ba đời đều y theo trí bát nhã ba la mật đa, đều được đạo quả vô thượng chính đẳng chính giác, nên biết bài chú bát nhã ba la mật ba là chú đại thần, là chú đại minh, là chú vô đẳng đẳng, lên trừ được hết thẩy khổ, chân thật không hư.

Vì vậy, nói ra bài chú bát nhã ba la mật đa, liền nói bài chú ấy rằng, yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tác bà ha. Tức là nói bài chú bát nhã ba la mật đa tâm kinh là chú đại thần, là nói đến thần lực, nói đến sức mạnh thần kỳ, vi diệu không một phương tiện nào so sánh được để diệt trừ hết tâm vô minh, đoạn trừ hết sự ràng buộc của năm dục sáu tràn, thần kỳ mầu nhiệm giúp cho mọi người, mọi chúng sinh nương tựa vào đó để giúp cho thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thanh tịnh. Được giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức không sinh không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng không giảm, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh quang Phật.

Lại nói chú đại minh, là quang minh ánh phát của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn. Là chính tri kiến của chư Phật mười phương, có tác dụng mạnh mẽ phá tan đi màn đêm tăm tối tâm vô minh, mang lại ánh sáng quang minh trí tuệ bát nhã của chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, bình đẳng cho mọi người, mọi chúng sinh trong sáu cõi luân hồi ba đường ác. Là ánh sáng trí tuệ bát nhã lớn nhất của chân lý giải thoát giác ngộ, là tri kiến của chư Phật Như Lai.

Lại nói chú vô đẳng đẳng, là sự bình đẳng cao nhất không có bất cứ thứ gì có thể so sánh, là sự bình đẳng tuyệt đối hoàn hảo nhất. Đó là bình đẳng về tâm thức thanh tịnh, bình đẳng về sự giác ngộ chân lý giải thoát, tình thương yêu bình đẳng, lòng từ bi bình đẳng, bình đẳng về thể tính chân tâm, bản thể, pháp thân, Phật tính, tri kiến Phật. Do mọi người, mọi chúng sinh đều có, Phật tính, đều có tri kiến của chư Phật Như Lai. Từ vô thủy kiếp đến nay, nó vẫn là như thế, nhưng do nó tác dụng hòa hợp với các pháp, với năm dục sáu trần, do tâm vô minh che lấp, nó không hòa tan mà chỉ nương tựa bám trụ vào những nhân duyên, mà được hình thành hiện hữu hình tướng danh sắc, theo mười hai nhân duyên, trong cảnh giới sinh tử luân hồi trầm luân lên xuống sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ. Do đó, vô đẳng đẳng là sự bình đẳng chúng sinh, mọi người với chư Phật Như Lai, Đức Thế Tôn về Phật tính, chân tâm, thanh tịnh tịch diệt. Khi chúng ta có được, thể nhập được vào bát nhã ba la mật đa tâm kinh, thì vượt qua tất cả mọi sự ngăn ngại đạt đến cứu cánh nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, tính không, tướng không, chân không.

 

Mặc dù Tác giả đã nỗ lực hết khả năng, nhưng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong quý đọc giả hoan hỷ chỉ bày.

 

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu  Ni Phật !

 

 

 

 Tran Minh Hung

 

 

 

 

 

ĐÔI DÒNG TỰ BẠCH

Tác giả tên Trần Minh Hùng, sinh năm 1976, pháp danh là Phúc Thiện, họ gốc theo gia phả là Đỗ Huy Hùng, Tổ tiên dòng họ Đỗ Huy, sinh sống tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Tác giả được sinh ra trên mảnh đất Hà Bắc cũ, nay là Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Cha là Trần Minh Duệ, Mẹ là Nguyễn Thị Nậm. Tác giả tốt nghiệp Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội, khoa Kinh tế, năm 2001.

 

Tác giả phát tâm viết sách, in sách, tặng sách cho tất cả mọi người có nhân duyên, thiện căn, phước đức với Phật pháp. Quý vị đọc giả nào, có từ tâm muốn thỉnh sách, in sách phát hành thêm, chúng tôi xin được trợ giúp tùy hỷ công đức của quý vị. Liên hệ với Phật tử pháp danh: Phúc Thiện, SĐT 0978.678.988 ; Email: atranminhhung@gmail.com

Xin trân thành cảm ơn và tán thán công đức của quý vị!

 

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo. 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU ………………………………1

PHẦN I. NHẬN THỨC VÔ MINH ………….…4

I. TỨ THÁNH ĐẾ ………………………...........4

1. Thị chuyển tứ thánh đế ……………………....5

2. Khuyến chuyển tứ thánh đế …………………11

3. Chứng chuyển pháp tứ thánh đế ………........11

II. BA BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO………………...28

1. Tứ niệm xứ …………………………………..29

1.1. Niệm thân …………………………………29

1.2. Niệm thọ …………………………………..32

1.3. Niệm tâm ………………………………….35

1.4. Niệm pháp ………………………………...36

2. Tứ chính cần…………………………..…….39

2.1. Tứ chính cần thuộc về tục đế………...……40

2.2. Tứ chính cần thuộc về pháp chân đế ….….45

3. Tứ như ý túc ………………………………...48

3.1. Tứ như ý túc trong tục đế ………………...48

3.2. Tứ như ý túc trong chân đế …………........59

4. Ngũ căn …………………………………..…65

4.1. Ngũ căn trong tục đế……………………....65

4.2. Ngũ căn trong phần chân đế……………...122

5. Ngũ lực ……………………………………..125

6. Bảy bồ đề phần ……………………………..131

 

 

6.1. Bảy bồ đề phần trong phần tục đế ...…135

           6.2. Bảy bồ đề phần trong phần chân đế….178

7. Bát chính đạo………………………….. 181

7.1. Bát chính đạo trong tục đế …………...181

7.2. Bát chính đạo trong chân đế …………252

PHẦN II. ĐOẠN DIỆT VÔ MINH VÀ GIẢI THOÁT TRI KIẾN ………………………………287

1. Phần kinh văn bát nhã ba la mật đa tâm kinh ...287

2. Nội dung bài kinh văn bát nhã ba la mật đa tâm kinh ……………………………………………….287

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/11/201919:19(Xem: 321)
Ấn độ là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới vì đất rộng, người đông, có dãi Hy mã lạp sơn cao nhất thế giới, có một nền văn minh khá cao và lâu đời, con số 0, số Pi (3,1416...) do người Ấn sử dụng đầu tiên trong toán học, Kinh Vệ Đà đã được người Ấn sáng tạo từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên, Ấn Độ là quê hương của đức Phật, hay nói khác hơn đó là nơi đạo Phật phát sinh, ngày nay đã lan tràn khắp thế giới vì sự hành trì và triết thuyết của đạo Phật thích ứng với thời đại. Do đó việcTime New Roman tìm hiểu về Ấn Độ là một điều cần thiết.
17/04/201917:10(Xem: 882)
Những pháp thoại của Lama Yeshe là độc nhất vô nhị. Không ai thuyết giảng được như đức Lama. Tự nhiên lưu xuất trong tâm, trực tiếp ngay bây giờ; mỗi lời nói của ngài là một cẩm nang hướng dẫn để thực tập. Tiếng anh của đức Lama rất tốt. Khó có người sử dụng nhuần nhuyễn như ngài. Với tính sáng tạo cao, đức Lama đã biểu hiện chính mình không chỉ qua lời nói, mà còn thể hiện tự thân và trên khuôn mặt. Làm sao để chuyển tải hết sự truyền trao huyền diệu này trên trang giấy? Như đã đề cập ở chỗ khác, chúng tôi trình bày với yêu cầu này cách tốt nhất có thể.
14/02/201918:04(Xem: 1465)
Thuở xưa có một ông vua hiền đức, cai trị công bằng, dân chúng trong nước sống thanh bình. Một hôm, dưới sự đề nghị của cận thần tả hữu, vua triệu tập tất cả trưởng lão tôn túc của các tôn giáo trong nước. Khi tất cả có mặt đầy đủ, vua nói:
14/08/201811:43(Xem: 1601)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
03/02/201820:02(Xem: 2685)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 3528)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
22/05/201709:58(Xem: 26563)
Trong bước đầu học Phật, chúng tôi thường gặp nhiều trở ngại lớn về vấn đề danh từ. Vì trong kinh sách tiếng Việt thường dùng lẫn lộn các chữ Việt, chữ Hán Việt, chữ Pali, chữ Sanscrit, khi thì phiên âm, khi thì dịch nghĩa. Các nhân danh và địa danh không được đồng nhứt. Về thời gian, nơi chốn và nhiều câu chuyện trong sự tích đức Phật cũng có nhiều thuyết khác nhau làm cho người học Phật khó ghi nhận được diễn tiến cuộc đời đức Phật. Do đó chúng tôi có phát nguyện sẽ cố gắng đóng góp phần nào để giúp người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần.
19/03/201701:18(Xem: 2146)
Là người mới bắt đầu học Phật hoặc đã học Phật nhưng chưa thấm nhuần Phật pháp chân chính, chúng tôi biên soạn quyển sách nhỏ này, nhằm hướng dẫn cho người cư sĩ tại gia tập sống cuộc đời thánh thiện, theo lời Phật dạy. Chúng tôi cố gắng trình bày các nguyên tắc này theo sự hiểu biết có giới hạn của mình, sau một thời gian ứng dụng tu học cảm thấy có chút an lạc. Để giúp cho người cư sĩ tại gia thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình đối với gia đình người thân và cộng đồng xã hội. Trước tiên, chúng ta cần phải có một niềm tin vững chắc sau khi học hỏi, có tư duy sâu sắc, có quán chiếu chiêm nghiệm như lời Phật dạy sau đây: Này các thiện nam, tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quan sát, suy tư và thể nghiệm. Chỉ khi nào, sau khi thể nghiệm, quý vị thực sự thấy lời dạy này là tốt, lành mạnh, đạo đức, có khả năng hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán; nếu sống và thực hiện theo lời dạy này sẽ đem đến hạnh phúc, an lạc thực sự ngay hiện tại và về lâu về dài,
19/03/201700:34(Xem: 2319)
Nói đến đạo Phật là nói đến tinh thần nhân quả, nói đến sự giác ngộ của một con người. Con người sinh ra đủ phước báo hay bất hạnh là do tích lũy nghiệp từ nhiều đời mà hiện tại cho ra kết quả khác nhau. Mọi việc đều có thể thay đổi và cải thiện tốt hơn nếu chúng ta có ý chí và quyết tâm cao độ. Tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này là một dòng chuyển biến liên tục từng phút giây, không có gì là cố định cả. Một gia đình nọ, hai cha con cùng dạo chơi trong khu vườn nhà của họ. Bổng nhiên đứa con hỏi bố: “Bố ơi bố, nhà chúng ta có giàu không ạ?” Ông bố nghe xong liền mỉm cười, xoa đầu cậu con trai, rồi nói: “Bố có tiền, nhưng con không có. Tiền của bố là do bố tự mình siêng năng tích cực làm ra bằng đôi bàn tay và khối óc, được tích lũy trong nhiều năm tháng. Sau này con muốn giàu có như bố, trước tiên con phải học và chọn cho mình một nghề nghiệp chân chính, con cũng có thể thông qua nghề nghiệp của mình mà kiếm được tiền.”
17/03/201719:18(Xem: 2133)
1-Người Phật tử, phải thắng sự lười biếng bởi thái độ ỷ lại hay dựa dẫm vào người khác mà cầu khẩn van xin để đánh mất chính mình. 2-Bất mãn là thái độ thiếu khôn ngoan và sáng suốt, người trí càng nổ lực tu học và dấn thân đóng góp nhiều hơn nữa khi mọi việc chưa được tốt đẹp để không bị rơi vào trạng thái tiêu cực. 3-Người Phật tử chân chính, cương quyết phải thắng sự thiếu quyết tâm khi muốn làm việc thiện vì đó là trách nhiệm và bổn phận của người có lòng từ bi hỷ xả.