Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Khái Quát về chữ "Không" trong Tâm Kinh Bát Nhã

18/06/201519:54(Xem: 7176)
Khái Quát về chữ "Không" trong Tâm Kinh Bát Nhã
Buddha_2

Khái Quát v
ề chữ "Không"  trong Tâm Kinh Bát Nhã
 

Lời nói đầu:

Bài viết này chỉ là ghi nhận khái quát nhằm tri ân và phần nào báo đáp thâm ân giáo hóa của chư tôn đức, chư thiện tri thức. Nó còn nặng về tính cách tổng hợp và cảm nhận chủ quan nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, sai lạc.  Kính mong các bậc cao minh bổ chính và chỉ giáo giúp. Thành kính tri ân và trân trọng cảm tạ.

 

 

 Bài Tâm Kinh Bát Nhã có tất cả 7 chữ 'Không" trong đó chữ "Không Tướng"  đã được  đề cập, ngay ở câu văn thứ ba: "Xá Lợi Tử! Thị chư pháp Không Tướng..."(Xá Lợi Tử ! Tướng Không của các pháp...). Nếu hiểu 'chư pháp' (các pháp) ở đây chính là các pháp đã vừa được nêu ra ở câu văn thứ nhì ("Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị") thì các pháp này chính là Ngũ Uẩn pháp và chính câu văn kinh thứ nhì này đã khai thị về Không Tướng (và cả Không Thể) của Ngũ Uẩn.

Ngũ Uẩn  bao hàm 5 yếu tố cấu thành con người cùng tất cả sinh hoạt nơi sự sống con người là Sắc (thân thể thất đại với địa thủy hỏa phong không kiến thức), Thọ (cảm giác, cảm thọ khi căn và cảnh tiếp xúc nhau, nghĩa là khi  sắc thân  thất đại tiếp xúc với hoàn cảnh bên ngoài là lục trần bao gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), Tưởng (ấn tượng đầu tiên được hình thành do sự tiếp nối theo Thọ, đây chính là suy tư vừa chớm khởi sự), Hành (suy tư được trưởng dưỡng với tính toán, so đo, phân biệt kết thành dòng chảy liên tục của Tưởng), và Thức(sản phẩm cuối của Hành, kết thành chủng tử đặc sắc nơi tâm thức của mỗi người). Năm pháp Ngũ Uẩn này cũng được xem như tượng trưng cho 100 pháp Đại Thừa (Đại Thừa Bách Pháp) và do đó, Ngũ Uần cũng tượng trưng cho vạn pháp trong vũ trụ nhân sinh.

Chữ "Không" được nêu trong đoạn văn kinh trên không có nghĩa là cái rỗng không, ngoan không (như lông rùa, sừng thỏ), mà chính là Chơn Không với ý nghĩa 'Chơn Không Diệu Hữu'. Chơn Không đây còn được gọi tên là Chơn Tâm (kinh Thủ Lăng Nghiêm : "Chơn Tâm Thường Trú"),Phật Tri Kiến (kinh Pháp Hoa), Phật Tánh (kinh Đại Bát Niết Bàn), Như Lai Viên Giác Diệu Tâm (kinh Viên Giác), Như Lai Tàng Bản Thể hoặc Như Lai Tàng Tâm (kinh Thủ Lăng Nghiêm), "Nhứt Pháp Giới Đại Tổng Tướng Pháp Môn Thể" (Đại Thừa Khởi Tín Luận), Chơn Như (Đại Thừa Khởi Tín Luận), Chơn Như Vô Vi (một trong sáu pháp Vô Vi trong Duy Thức Học), Đệ Bát thức hay A Lại Da Thức hay A Đà Na thức... (Duy Thức Học)...

  Tổ Mã Minh nơi Đại Thừa Khởi Tín Luận, đã khai thị về Như Lai Tàng như sau: "Do Như Lai Tàng (chơn) mà có "Tâm Sanh Diệt"; nghĩa là Chơn (không sanh diệt)và Vọng (sanh diệt) hòa hiệp, không phải một, không phải khác gọi là thức A Lại Da (tâm sanh diệt). Thức này tóm thu tất cả các pháp và xuất sanh tất cả các pháp. Thức này có hai nghĩa Giác và Bất Giác (mê)"... "Như Lai Tàng được giải thích là chỉ cho cái "Tổng Tướng" của tâm, đây là tướng của nhứt tâm nên tuy nó cũng chơn tịnh, nhưng vì có phiền não che khuất, nên làm nhơn cho động".

Do vậy, Như Lai Tàng  có hai nghĩa là (1) Như Lai Xuất Triền có nghĩa là Phật Tánh thanh tịnh và (2) Như Lai Tại Triền có nghĩa Phật Tánh còn bị vướng mắc nhiễm ô phiền não. Chơn Như được giải thích là chỉ cho cái 'Tổng Thể" của tâm, đây là thể của 'nhứt tâm" nên thanh tịnh, không động.  A Lại Da thức được giải thích là chỉ cho cái "Thể, Tướng, và Dụng" về  nhiễm và tịnh hòa hiệp của tâm.

Nếu xác định các phạm trù ý nghĩa như trên, ta có thể thấy ra thể của "Không ("Không Thể") và tướng của "Không" ("Không Tướng") của các pháp đã được Tâm Kinh trực tiếp diễn bày  qua 24 chữ ở câu kinh văn:" Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ Tưởng Hành Thức diệc phục như thị" hoặc đầy đủ hơn với 80 chữ: "Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc; Thọ bất dị Không, Không bất dị Thọ, Thọ tức thị Không, Không tức thị Thọ; Tưởng bất dị Không, Không bất dị Tưởng, Tưởng tức thị Không, Không tức thị Tưởng; Hành bất dị Không, Không bất dị Hành, Hành tức thị Không, Không tức thị Hành; Thức bất dị Không, Không bất dị Thức, Thức tức thị Không, Không tức thị Thức". Như thế, "Không Thể" chính là thể của Như Lai Tàng bao gồm có "Sắc" (tượng trưng và bao gồm tất cả hiện tượng từ Thất Đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, và cả từ  'Tứ Khoa ': 5 ấm, 6 nhập, 12 xứ, 18 giới) và "Không" (Như Lai Tàng bản thể thanh tịnh) tương ưng hòa hiệp, vận động qua lại với nhau một cách huyền nhiệm, bất khả tư nghì. Sự vận động qua lại bất tư nghì, tương ưng  hòa hiệp nhiệm mầu giữa "Sắc" và "Không" này tạo ra "Không Tướng".

Sự vận động qua lại bất tư nghì này đã được khai thị rõ nét qua kinh Thủ Lăng Nghiêm như sau: "Tánh Sắc chơn Không, Tánh Không chơn Sắc, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện".

Như thế "Không Tướng"  không phải là 'không có tướng' qua cách nhìn của Tục Đế (phàm phu với nhục nhãn thông thường) mà chính là tướng của Như  Lai Tàng bản thể qua cái thấy của Đạo Đế (thánh nhân với huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn). Qua cái thấy của Đạo Đế,các sự vật có tướng tưởng như là "tướng nhất định" (tướng có thể xác định qua dạng thể, kích thước, màu sắc) đều chỉ là các pháp tạm có rồi không, pháp sanh diệt, pháp như huyễn, pháp hữu vi . Kinh Kim Cang đã khẳng định "Phàm cái gì có tướng đều là hư dối, nếu thấy rõ các tướng chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai" và về các bản chất vô thường, khổ, không, vô ngã của chúng : "Nhứt thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bọt bóng, Như sương và như chớp, Nên quán sát như thế".  Do đây kinh Kim Cang đã có cách hành văn : "Thuyết... tức phi... thị danh..." (tạm dịch nôm na là : "Nói vậy... mà không phải vậy...chỉ tạm gọi tên là vậy") vô cùng đặc sắc và kỳ thú để khai thị về phương cách hàng phục và an trụ tâm thức.

  "Không Tướng" là tướng của pháp Vô Vi Như Lai Tàng bản thể nên ‘Không Tướng’ không có tướng nhất định (như như chẳng động) như ở nơi các pháp Hữu Vi. Và dù Như Lai Tàng không có tướng nhất định mà nó lại có đầy đủ tất cả các tướng qua sự vận động, chuyển hóa qua lại linh diệu cùng khắp và không dừng nghỉ của chính nó. Như Lai Tàng chính là bản thể thâm diệu nhất, là sanh khí, là mạch sống bản nguyên, là sức sống hồn nhiên vô thỉ vô chung, vô tác nhậm vận của vũ trụ vạn hữu, pháp giới chúng sinh. Từ Như Lai Tàng bản thể, tất cả hiện tượng vạn hữu được duyên sanh (Y tha duyên nhi sanh khởi tánh theo Duy Thức học) theo qui luật "Tùy Duyên Bất Biến, Bất Biến Tùy Duyên". Đây cũng được gọi là "Thực Tướng"  của các pháp. Thực Tướng này thường được minh giải qua câu " Thực Tướng chính là Vô Tướng". Chính vì thế, Như Lai Tàng rời tất cả tướng mà lại hiện ra tất cả pháp, nơi Như Lai Tàng không có vấn đề "Là " hay "Không Là", theo qui luật "bất tức bất ly"  giống như sự liên hệ giữa sóng và nước, giữa bản thể (Như Lai Tàng "Không") và hiện tượng("Sắc" của 4 khoa và 7 đại nơi kinh Thủ Lăng Nghiêm). Nói cách khác, Như Lai Tàng có sự tương dung, tương nhiếp, tương ưng, tương hợp với Ngũ Uẩn mà nó lại không là Ngũ Uẩn.  Bản thể Như Lai Tàng luôn thanh tịnh mà lại thường chiếu soi (tịch mà chiếu) đầy đủ tất cả sự vật mà nói theo ngôn ngữ nhà Thiền là "Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán". Đây là sự biến đổi qua lại một cách tự nhiên và nhiệm mầu,kỳ ảo giữa Bản Thể (tịch tịnh, rỗng lặng) và Hiện Tượng (tỉnh sáng, chiếu soi liên tục,thường trực đầy đủ muôn cảnh, muôn vật không bỏ sót một thứ gì). Như mặt gương trong sáng tự nhiên hiện ra nơi nó đầy đủ mọi thứ sắc tướng mà nó tiếp xúc. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đã khai thị cho ngài Phú Lâu Na về tánh sáng tỏ này khi ngài hỏi tại sao Như Lai Tàng thanh tịnh mà bỗng nhiên sanh khởi ra các tướng hữu vi : "Nếu ngươi phát minh cái hư không thì hư không hiện ra. Địa thủy hỏa phong mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra. Nếu cùng phát minh thì cùng hiện ra".

Không Thể, Không Tướng vừa được đề cập trên là sự biểu hiện của cái tiềm ẩn hơn, gốc rễ ở nơi thâm sâu hơn trong tâm thức được gọi là Không Tánh. Tướng, Thể  và Tánh chỉ là các khía cạnh (phương diện) của cùng bất cứ sự vật gì được xem xét. Nên bất cứ sự vật gì, nếu đã nói đến Thể,Tướng thì cũng cần nói đến Tánh để trọn nghĩa.

Do vậy, ngay sau đoạn kinh văn đề cập đến Không Thể và Không Tướng nêu trên, bài Tâm Kinh Bát Nhã đề cập ngay đến Không Tánh đươc diễn tả  qua 6 cái "Bất" về sanh diệt, nhơ sạch, thêm bớt : "Xá Lợi Tử, thị chư pháp Không tướng,bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm". Lục Tổ khi ngộ đạo nơi Ngũ Tổ đã thốt lên 5 cái đâu ngờ về Tự Tánh Không và về các cái'bất'  này: "Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh. Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt. Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ. Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động. Đâu ngờ tự tánh hay sinh muôn pháp ". Ý nghĩa về 'bất sanh, bất diệt" gắn bó khắn khít với ý nghĩa "thường trú" của Chơn Tâm nơi kinh Thủ Lăng Nghiêm. Ý nghĩa về 'thường trú' này được kinh chỉ rõ là tính cách sẵn có của Chơn Tâm, được tự thể hiện sau khi các ngoại duyên hữu vi sanh diệt bên ngoài Chơn Tâm  được gạn lọc ra. Đây chính là "vật không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không sau lưng, không trước măt..." mà Lục Tổ nhắc đến.  Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn khai thị chi tiết hơn về Chơn Tánh của tứ khoa (bao gồm ngũ uẩn, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới)và thất đại (bao gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức) đều vốn từ  Như Lai Tàng bản thể lưu xuất, hiện khởi ra chứ chúng thật không có tự tánh, tự ngã hay thực thể cố định nào. Như khai thị về Tánh của Sắc (Địa Đại), kinh Thủ Lăng Nghiêm có đoạn như sau: "Tánh Sắc chơn Không, Tánh Không chơn Sắc, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện". Đây là lý Vô Sanh (không tự sanh, không tha sanh, không cọng sanh, không vô nhân sanh) của hiện tượng vật chất. Tánh của các đại còn lại, kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng khai thị tương tợ. Do vậy, vạn pháp hiện tượng đã được khai thị là "Phi nhân duyên, phi tự nhiên, phi hòa, phi hợp";  vạn pháp là "Như Thị" với 10 món Như Thị là: Như thị(-) Tướng,- Tánh,- Thể, -Lực,-Tác,-Nhơn,-Duyên,-Quả, Báo,- Bổn Mạt Cứu Cánh.

Các vị Bồ Tát có năng lực quán chiếu thấu suốt được Ngũ Uẩn, đưa Ngũ Uẩn về vị trí bản nguyên 'Tự Tại". Đây là vị trí của "Không Thể", "Không Tướng" và "Không Tánh" nhiệm mầu của Như Lai Tàng Bản Thể, và đây là các vị đã vượt thoát được mọi sự khổ ách. Như câu kinh văn đầu tiên của bài tâm kinh đã nêu: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Chổ bản nguyên này không có ngôn ngữ, văn tự thế gian nào có thể diễn đạt đúng mức và đầy đủ được. Như qua bài kệ của Tổ Mã Minh: "Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly danh tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng,tất cánh bình đẳng, duy thị nhất tâm, bất khả phá hoại, cố danh Chân Như". Chổ không thể diễn bày này cũng được kinh Giải Thâm Mật nhắc đến qua bài kệ:

"A Đà Na thức thậm thâm tế

Tập khí chủng tử như bộc lưu

Ngã ư phàm phu bất khả diễn

Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã"

(Tạm dịch: Thức A Dà Na quá sâu xa vi tế, Tập khí chủng tử như dòng thác, Ta không đành nói ra với phàm phu, Lo là họ phân biệt chấp làm ngã).

Vượt thoát ra mọi ràng buộc, khổ đau, sinh tử, luân hồi chính là cái Dụng của tâm thể Như Lai Tàng thanh tịnh. Chính cái Dụng quá nhiệm mầu này là cái vượt lên trên mọi sự vật, cảnh giới của thế gian và của cả xuất thế gian. Nghĩa là vượt qua các địa vị phàm thánh, vượt qua tất cả các "thừa", từ Thanh Văn thừa đến Duyên Giác thừa và cả Bồ Tát thừa. Do vậy, tâm kinh đã khai triển tiếp tục là ở nơi cái "Không" (Như Lai Tàng thanh tịnh) này một loạt cái "Không Có" ("Vô") về ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, pháp Thập Nhị Nhân Duyên ( Vô Minh- Hành- Thức- Danh Sắc- Lục Nhập- Xúc- Thọ- Ái _ Thủ- Hữu- Sanh _ Lão Tử của Duyên Giác thừa), pháp Tứ Đế ( Khổ- Tập- Diệt- Đạo của Thanh Văn thừa), và cả pháp Lục Độ (Bố thí- Trì Giới- Nhẫn nhục- Tinh Tấn- Thiền Định- Trí Huệ của Bồ Tát thừa) : "Thị cố Không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô Vô Minh diệc vô Vô Minh tận, nãi chí vô Lão Tử diệc vô Lão Tử tận; vô Trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố". Đây là cảnh giới mà tên gọi Đại Bát Nhã Đáo Bỉ Ngạn (Ma ha Bát Nhã Ba La Mật) đã được Lục Tổ khai thị hiển bày nghĩa lý trong Pháp Bảo Đàn kinh. Câu hỏi của tổ Động Sơn Lương Giới về Tâm Kinh (khi ngài còn là sa di đã thưa với thầy của ngài : "Con có mắt...mà tại sao Tâm Kinh lại nói là không có?") như vậy cũng đã được Tâm Kinh trả lời trong ý nghĩa này.

Sau cùng, cái Dụng thù thắng rốt ráo của Như Lai Tàng thanh tịnh được Tâm Kinh đề cập qua cảnh giới của Bồ Tát và của chư Phật đã sống thành tựu trọn vẹn nơi Bát Nhã Ba La Mật của Như Lai Tàng thanh tịnh: "Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề". Nơi đây không còn bóng dáng của ngữ ngôn, văn tự, tình thức phân biệt chấp ngã, chấp pháp nữa. Nếu có muốn biết về nó và muốn diễn đạt nó, chỉ tạm dùng phương tiện qua dạng "ngữ ngôn phi ngữ ngôn" là câu thần chú: "Cố tri Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thực bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú tức thuyết chú viết : Yết đế Yết đế Ba La Yết đế Ba La Tăng Yết đế Bồ Đề Tát Bà Ha".  

Với vỏn vẹn 265 chữ kể cả tựa đề, bài Tâm Kinh Bát Nhã là một kết tinh trọn vẹn cô đọng những tinh yếu, thắng nghĩa của Phật đạo với  chữ "Không" được dùng với ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vi tế, huyền nhiệm  qua đầy đủ bốn phương diện của "Không" là Thể, Tướng, Tánh, và Dụng của Như Lai Tàng bản thể. Phân biện về Tướng- Thể- Tánh- Dụng của Như Lai Tàng chỉ là phương tiện tạm nói, không thể chính xác rốt ráo được. Vì đây thuộc về cảnh giới "Bất Nhị" dứt tuyệt mọi phân biệt, tư duy, chấp trước. Tựu trung, bài Tâm Kinh ngắn ngủi đã hé mở ra  phương cách chấm dứt mọi ràng buộc,luân hồi sanh tử, ưu bi khổ não , chiếu ngời lên ánh sáng của cứu cánh giải thoát trên con đường tu học Phật đạo vậy .

 

                                         Quảng Minh LKH

                                         Plano _ May 25, 2015
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 497)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 827)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 590)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1083)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4154)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4120)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
01/02/2022(Xem: 22029)
48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà (loạt bài giảng của TT Thích Nguyên Tạng trong mùa dịch cúm Covid-19)
17/11/2021(Xem: 11316)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 9416)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 6503)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,275,096