Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Một nén tâm hương, lạm bàn chuyện “Ngày xuân - đi chùa - lễ Phật - dâng hương“

01/02/201518:01(Xem: 3020)
Một nén tâm hương, lạm bàn chuyện “Ngày xuân - đi chùa - lễ Phật - dâng hương“

Thieu_Nu_Di_Chua 

Trầm hương đốt xông ngát mười phương…

Mùa hè tôi về thăm quê, nhân tiện ghé Viện Phật Học Vạn Hạnh để thăm và đảnh lễ Cố Đại Lão Hòa Thượng Minh Châu. Sau khi vào Tổ Đường Hòa Thượng Chơn Nguyên thắp hai cây hương và trao cho tôi. Hai cây hương rất lạ, dài gần gấp tư cở thường mua ở chợ bây giờ và tỏa mùi thơm ngào ngạt. Tôi vốn đã bị bệnh dị ứng nhiều năm nay, thường ngửi mùi hương là phải hách xì liên miên. Ở nhà, ngay cả những hộp hương thơm có người mang từ Nhật về biếu hay mua tại các cửa hàng bên Mỹ, loại hương cây ít khói, đựng trong hộp và không có que bên trong; thế mà khi thắp lên trong phòng lúc ngồi thiền, chỉ chừng hai phút sau khi khói hương tỏa quyện là tôi bắt đầu hắt hơi, nước mắt nước mũi chảy ra và phải đi ra ngoài. Dĩ nhiên không vì thế mà thôi bỏ thiền, thường tôi chỉ thắp một ngọn đèn cầy rất nhỏ, loại người Đức dùng để giữ nóng bình trà (Teelicht) đựng trong một chân đèn thủy tinh xinh xắn để cúng Phật. Đó là phương tiện để tôi „giao duyên“ với chư Phật chư Tổ khi ngồi thiền hay tụng kinh.

Quay lại chuyện hai cây hương ở Vạn Hạnh hôm ấy. Dù cầm trên tay hai cây hương to tướng, dễ chừng bằng gấp mười cây hương trong hộp ở nhà tôi, nhưng lạ thay tôi có cảm giác rất dễ chịu. Sau khi cắm một cây lên bát hương trên bàn thờ và cung kính lạy tôn tượng Ôn, Hòa Thượng Chơn Nguyên lại đưa tôi cây hương kia và hướng dẫn tôi đi đảnh lễ Tháp, cách đó chừng ba mươi mét. Cầm cây hương trên tay và thỉnh thoảng khói hương bay vào mặt vào mũi nhưng không thấy khó chịu. Sau đó hỏi lại tôi mới biết được đây là những cây hương trầm được làm tại Huế, không pha trộn bất cứ một loại hóa chất nào. Loại hương này ngày xưa lúc còn ở Việt Nam tôi thường quen thuộc lắm.

 

Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương,

Phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam bảo.

(hay chữ Hán-Việt: Nguyện thử diệu hương vân,

biến mãn thập phương giới, cúng dường nhất thế Phật …)

Những bài niêm hương tán Phật ấy ai đi Chùa mà chưa từng có lần đã nghe, chưa từng quỳ cung kính chắp tay dõng tai theo tiếng khấn nguyện trầm ấm của vị chủ lễ (có khi là một vị tu sĩ hay cũng có khi là một cư sĩ) mắt đang lim dim với ba nén hương cung kính trên tay. Nghi thức tụng niệm thiền môn quy ước một trật tự thật tuyệt vời: người chủ lễ niêm hương, duyệt chúng khỏ mõ, duy na đánh chuông, đại chúng chỉ chắp hai tay và tụng theo. Ấy là lễ, ấy là nhạc.

Từ thời nào hương (hay nhang) vẫn là cái gạch nối giữa những lời khấn nguyện của chúng sanh với chư Phật, với chư Tổ, chư hiền Thánh Tăng, với thần linh và những đấng khuất mặt khuất mày, với những người thân đã qua đời. Người xưa cung kính gọi nó là nén tâm hương. Hương làm bằng một ít mạt cưa xay nhuyển, pha trộn với bột xay từ trầm và quế nên rất thơm, sau này người ta có sáng kiến xay những loại trái và vỏ cây khác hoàn tàn thiên nhiên để trộn thêm vào tạo thành những mùi khác nhau. Sau khi đã pha trộn với nước cho bột dẽo lại, người ta ngồi một tay cầm cây que hương bằng tre, tay kia cầm một miếng gỗ có tay cầm phía trên và lăn qua lăn lại nhuần nhuyễn để bột hương bám đều vào que tre. Lúc đó họ mới dựng đứng miếng gỗ và xắn đứt bột ở ngay đầu cây que, lại phủ một lớp bột khô bên ngoài rồi đem phơi khô. Một việc làm vô cùng tỉ mỉ và đòi hỏi khéo tay. Thông thường ở quê thì những cụ bà lớn tuổi hay có khi những cháu bé phụ vào, phải sạch sẽ và tinh khiết. Những phụ nữ đang có tháng không phụ được. Nhồi bột hương là việc rất nặng, nhưng phải dùng tay để nhồi chứ không dùng chân đạp, vì như thế thần linh sẽ quở. Thành ra, cây hương trong quá trình thành hình tự nó đã chuyên chở một nỗi niềm cung kính với thần linh, với kẻ khuất mặt khuất mày đang ở bên kia thế giới.

Bây giờ, thời hiện đại, mọi quy trình sản xuất đã khác, thì sản xuất hương cũng bị vạ lây theo. Dĩ nhiên vẫn còn một vài nơi vẫn còn „xe nhang“ theo lối thủ công nghệ quý hóa kia. Nhưng tiếc thay, số hương này quá hiếm, khó tìm mua được ở các của tiệm Á đông. Mua nhân sâm, tổ yến, hay cả vàng bạc kim cương còn dễ hơn. Hương bây giờ người ta sản xuất công nghiệp, khỏi phải làm tay chân. Bột cũng xay (có khi bằng cây nhưng rất thường là những gỗ tạp hay phế phẩm từ gỗ), pha trộn bằng máy. Ác hại thay, để có chút mùi (chứ không phải mùi thơm) người ta pha chế hóa chất vào. Mà hóa chất tạo mùi này là gì? Ai biết được? Trên bao hương không ghi gì để ta có thể truy tìm. Cũng có thể chính các nhà sản xuất cũng không biết được những kiện hóa chất mà họ đặt mua ấy làm bằng các nguyên liệu gì. Thông thường hiện nay, những mùi vị trong kỹ nghệ thực phẩm thường xử dụng chất Gelatine làm từ các bộ phận của động vật, ví dụ như để tạo mùi trái cây cho da-ua (Yoghurt) hay nước giải khát người ta dùng một phần da và mỡ heo, xương bò…. Tôi không rành về hóa học, chỉ có lần xem truyền hình thấy họ phân tích như thế. Ngoài ra cây chân hương cũng được tẩm màu và hóa chất để chống mốc hay con mọt nên rất độc hại nếu đem cắm vào thức ăn hay trái cây trên các mâm cúng.

Kỹ nghệ sản xuất đã thế, người khấn lễ cầu nguyện cũng hùa theo. Có thể do hương kỹ nghệ bây giờ quá rẻ tiền dễ mua nên khi cúng người ta không đốt ba „nén tâm hương“ mà đốt ba bó, mỗi bó chừng ba mươi cây! Họ làm như thần linh ở không ngồi đếm số gốc chân hương mà trả công khấn nguyện! Thêm vào đó, không phải chỉ một người chủ lễ mà mọi người, từ nam đến nữ, từ người già đến em bé, ai cũng hai, ba bó… Ấy là một tai họa, ấy là đại nạn!

 
di_chua_2

Tai họa gì, đại nạn gì?

Tạp Chí Khoa Học Châu Á (Asian Scientist) đăng tải vào ngày 20.08.2014 bản công bố về kết quả một công trình của đoàn nghiên cứu thuộc Đại Học Y Khoa Duke-NUS tại Singapore do Giáo sư  Koh Woon-Puay cầm đầu. Nhóm nghiên cứu đã theo dõi khảo sát 63.257 người Hoa sống tại Syngapore trong lứa tuổi từ 45 đến 74 thường xử dụng hương mỗi ngày và đã thu thập dữ kiện về những đối tượng này trong suốt 20 năm. Kết quả cho thấy là những bệnh nhân này dễ bị các chứng bệnh ung thư về đường hô hấp và tim mạch, dễ bị các biến chứng đột quỵ (Schlaganfall). Ngoại trừ một số trường hợp người chết mà không khai báo (việc ấy rất thường ở Á Châu), con số chính thức ghi nhận là  12% chết vì đột quỵ, 8% chết vì bệnh tim. (1)

Đó là chuyện bên châu Á. Còn Âu châu thì sao?

Tờ báo Khoa Học Thời Sự (Wissenschaft Aktuell) viết là: khói hương có thể gây nên bệnh ung thư. Báo Sueddeutsche, ngày 22.05.2010 trích dẫn nhiều tài liệu và xác quyết rằng, trong hương có chất Benzol gây nên ung thư và chất Formaldehyd làm hại mắt và đường hô hấp. Như đã thưa ở trên, tôi không rành lắm về những công trình nghiên cứu y khoa hay sinh hóa. Tôi chỉ đọc thấy thế và ghi ra đây, may có vị nào chuyên môn trong lãnh vực này thì bổ sung giúp thêm.

Đề tài Hạt bụi vi tế (hay hạt bụi mịn - Đức: Feinstaub - Anh: fine particles) là một đề tài thảo luận rất nhiều ở Đức trong gần suốt mười lăm năm qua. Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (Umwelt Bundesamt) của Chính quyền Liên bang Đức đã quy định giới hạn cho hạt bụi vi tế, chủ yếu cho ngành giao thông như sau: Giới hạn là 50 µg/m3 trong một ngày và không được vượt quá 35 ngày trong một năm. Số bình quân cho suốt năm là 40 µg/m3. Từ tháng 1/2015 đến 2020 phải cố gắng đạt đến 20 µg/m3. Thông thường bụi này tạo ra từ động cơ xe hơi (nhất là xe chạy Diesel) và bộ phận thắng xe cũng như bánh xe là nhiều nhất. Sau đó mới kể đến các hệ thống lò sưởi cũng như một số máy móc trong nông nghiệp. Nhiều nghiên cứu trong năm 2003 cũng đã xác định rằng, những hạt bụi vi tế nhỏ dưới 10 µm (Mikrometer)  gây ra nhiều căn bệnh. Ở đây ta cần lưu ý và so sánh thêm: Chính quyền Đức quy định giới hạn cho phép của bụi vi tế ở theo quy định ở Âu Châu là 50 µg/m3, đó là những bụi vi tế nói chung trong một mét khối không khí. Trong phòng thí nghiệm người ta đo được số lượng bụi khi thắp hương lên đến gấp ba lần giới hạn được cho phép ấy, và đây là những hạt bụi có chứa mùi hóa chất. Hạt bụi vi tế có thể gây ra các căn bệnh suyển, bệnh đường phổi và khí quản, bệnh dị ứng cũng như bệnh tim.

Không những chính quyền và giới truyền thông cảnh báo mà chính các Tổ chức Bác sĩ Y khoa ở Đức cũng đã lên tiếng. Xin trích dịch sau đây bài đăng trên tạp chí  „Bác Sĩ Nội Khoa Trên Mạng“ của Hiệp Hội Bác Sĩ Nội Khoa Đức Quốc (BDI - Bundesverband Deutscher Internisten e.V.).

Hương có thể gây ung thư.

Hương có thể gây hại đường hô hấp và có thể gây ra ung thư. Đặc biệt khói hương có thể tạo nên những thoái hóa cho các tế bào biểu mô (Epithelzellen) ở vào phần bên trên của đường hô hấp (tức khí quản). Hiệp Hội các Bác Sĩ  Nội khoa yêu cầu phải cảnh báo điều này cho những người đốt hương.

Dựa theo một công bố mới của một công trình nghiên cứu thì các khói hương, khói đèn… có thể tạo nguy cơ ung thư cho phần bên trên đường hô hấp (trích dẫn từ Cancer 2008, doi:10.1002/cncr.23788). Ngoài ra còn có nguy cơ về ung thư phổi nữa.  Theo các khám nghiệm thì nguy cơ xuất phát từ việc hít thở các khói và khói ấy bám vào các vách của bộ phận hô hấp. Hậu quả này tìm thấy ở những người thường xuyên và ở lâu trong những căn phòng có đốt hương, thường được gọi là ung thư tế bào biểu mô (Plattenepithelkarzinome). Khói hương có chứa chất gây ra bệnh ung thư.

Giáo sư Reiner Hartenstein của BDI cảnh báo: „Những công trình nghiên cứu này xác nhận rằng, những sản phẩm tạo khói từ Á đông có tác dụng tạo ra bệnh ung thư. Tương tự như người hút thuốc gián tiếp phải hít những khói thuốc trong vùng không khí chung quanh mình“. Khói có chứa nhiều chất gây ung thư, tuy nhiên tới thời điểm bây giờ người ta vẫn chưa liệt kê chính xác sản phẩm gây khói nào là sản phẩm gây hại sức khỏe.

Hương đốt từ Á Châu dần dần đã trở nên rất phổ biến ở Đức. Giáo sư Hartenstein còn nhấn mạnh thêm rằng: “Nếu bạn thỉnh thoảng chỉ đốt một nén hương thì điều này không đáng lo ngại lắm. Những người đốt hương liên tục ở nhà hay những người dùng những sản phẩm châu Á tạo khói trong khi làm việc, thì phải xem đây là nguồn  tạo ra nguy cơ bệnh ung thư. Cho đến nay trên bao bì những sản phẩm này vẫn chưa hề thấy ghi một lời cảnh báo là có thể tạo nên bệnh ung thư. Những nhà sản xuất phải có nghĩa vụ ghi ra đó cho người tiêu dùng biết, giống như trường hợp bao thuốc lá vậy.

 

Vậy bây giờ phải làm sao?

Bài học ta rút ra được về vấn nạn giao thông ở Đức là gì? Do phương tiện sinh sống, vận chuyển, người ta vẫn phải cứ xử dụng lò sưởi, vẫn phải lái xe hơi đi lại (xe diesel phải đặt bộ phận lọc bụi vi tế  gọi là partikelfilter) dù biết rằng những phương tiện này tạo ra bụi vi tế, nhưng phải biết những hạn chế, không vượt quá những giới hạn cho phép. Phật Tử chúng ta đi Chùa cũng nên như thế. Khi cúng lễ ta cũng có nhu cầu đốt hương để khấn vái cầu nguyện nhưng cũng nên biết đủ. Trong lãnh vực giao thông công cộng, nếu ta không tuân thủ theo những quy định thì bị phạt tiền hay truy tố ra tòa nên ai cũng sợ. Cửa Phật từ bi, Phật chỉ cười và Thầy cũng không dám nói, chỉ chịu đựng hít thở những khí độc hại ấy rồi yên lặng đi thu nhặt những bó hương khổng lồ để nhúng vào các xô nước tắt đi sau khi người cúng lễ rời khỏi chánh điện. Hết xô này lại đến xô khác. Khổ lắm!

Cho đến bây giờ các cơ quan trách nhiệm chưa nói gì đến các hoạt động tâm linh tôn giáo. Nhưng khi trao đổi với một vài vị có trách nhiệm ở nhà thờ Thiên Chúa Giáo, các vị ấy cũng nói rằng, đã có vài tổ chức bảo vệ môi trường và sức khỏe khuyên nhà thờ nên hạn chế việc xông hương (Weihrauch) trong các Thánh lễ. Trong thực tế thì chỉ có Thánh lễ lớn, gọi là lễ kínhlễ trọng họ mới xông hương. Tuy nhiên, số lượng khói tỏa ra trong một dung tích to lớn của các Thánh đường nếu đem so sánh tỉ lệ này với các Chánh điện Chùa của chúng ta vào các dịp Tết thì thật là không đáng kể. Ta thử tưởng tượng,  nếu tự chúng ta không biết hạn chế để bảo vệ môi trường, ngày nào đó chính quyền bắt chúng ta phải đặt các hệ thống lọc bụi vi tế (partikelfilter) tại các lư hương trong Chánh điện Chùa – giống như trong các cơ xưởng – thì còn gì là nét đẹp truyền thống của mình. Việc đáng để ta suy ngẫm lắm thay!

Trong những năm qua vào dịp Tết nguyên đán tôi hay cùng người thân hay lái xe đi một vòng lễ Phật bốn năm Chùa. Ở Việt Nam hay cả tại Mỹ, Úc bà con mình thường đi lễ thập tự. Ở Đức chúng tôi chỉ mong được phân nửa là mừng, là phải lái xe chạy vài ngàn cây số trong hai, ba ngày liền. Đến Chùa nào cũng nghe quý Thầy, Cô than phiền là khói hương nhiều quá, ai cũng bệnh phải thay phiên nhau mỗi người vài giờ lên Chánh điện  để phát lộc Xuân cho Phật tử. Gặp những Chùa ít tu sĩ thì những vị ấy phải chịu trận suốt, rồi sau Tết phải bệnh dài dài. Là Phật Tử, là khách viếng Chùa ta thử nghĩ lại xem. Viếng Chùa lễ Phật là để mong cầu thái bình cho thiên hạ, cầu phước đức cho mình và gia đình. Thái bình đâu không thấy chỉ thấy khói hương mịt mù như khói súng giữa trận mạc, phước đức đâu chưa thấy chỉ thấy mang bệnh tật cho chư tăng ni và mấy Phật Tử phải nhiều ngày công quả ở Chùa. Tội nghiệp lắm! Ấy là chưa nói: ta còn gây bệnh cho chính ta và gia đình ta, ta làm tường chùa ố, tượng Phật nám nữa chứ. Chỉ khi tôi ghé đến Chùa Tây Tạng thì thấy dễ thở hơn, họ chỉ thắp vài ngọn đèn cầy và cúng Phật bằng nhiều chén đựng nước trong thanh khiết là đủ.

Nhưng nói như thế không có nghĩa là ta không đốt hương, không có nghĩa là ta gạt bỏ một truyền thống lâu đời của ta, nhưng …  chỉ nên vừa phải thôi.

 

Thế nào là vừa phải?

Cuối năm 2011 tôi có dịp về quê và thăm Chùa Linh Ứng Bải Bụt nằm ngay trên bờ biển Đà Nẵng. Tình cờ thấy trong sân Chùa có một lư cắm hương bằng xi măng lớn, đường kính khoảng hai mét và đặt  trước các bậc cấp lên chánh điện (chứ chưa phải vào trong chánh điện). Ấy vậy mà dưới đất ngay trước lư hương có một tấm bảng cạc tông khoảng gần hai mét vuông viết sơ sài mấy câu thơ vè độc đáo nên tôi vội lấy máy ảnh ra chụp ngay:


Một nén hương thơm

thấu Cửu trùng

Đâu cần đốt nạm

cắm tứ tung

Tâm thành nhất nguyện

Trên chứng giám

Nên cắm vào Lư chỉ một cây ./.

(Xin cảm ơn)

NemTamHuong_Dez2011

Tôi tâm đắc mấy câu ấy lắm.

Xét về mặt văn chương, câu thơ không có gì đặc sắc. Đó là bốn câu thể thất ngôn. Câu thứ nhất nghe rất bác học, câu thứ hai nghe ra có phần dân giả. Câu ba cố gắng nối kết hai câu trên lại, câu thứ tư hơi lạc vận nhưng nói thẳng thừng ngay việc muốn nói! Cuối cùng còn lich sự mở ngoặc ghi thêm: Xin cám ơn. Ấy vậy mà khi tôi chỉ tấm hình này cho một số thân hữu xem thì ai cũng gật gù đắc ý. Cấu trúc bốn câu thơ không văn hoa mà chính là cấu trúc thành thật của một câu ca dao, nghĩ sao nói vậy. Có thể một vị cư sĩ công quả nào đó ở chùa lo việc quét dọn, hằng ngày cứ phải thu dọn hoài những que nhang cắm lung tung nên tức cảnh sanh tình viết ra như vậy chăng? Tôi chắc như thế, ngôn phong ấy là của một người có chất tu, chất từ bi. Ngoài đường phố Việt Nam bây giờ có ai ghi là „nên“ đâu mà chỉ ghi là „cấm“, nghe rất chướng tai. Ca dao tục ngữ là những câu nói xuất phát từ bình dân, từ những triết lý sống thông thường nhất, chỉ khuyên chứ không ép buộc. Văn chương ca dao không cần văn cú chương mục gì cả, không cần lý luận cao siêu, không cần xếp loại là thơ hay là vè. Người bình dân nghĩ như thế và nói ra như thế, miễn sao suông miệng thì thôi, chỉ mong hợp đạo lý. Tiếng nói của ca dao là tiếng nói của đa số, của những con người mong muốn xã hội, muốn cộng đồng tốt đẹp hơn. Biết đâu được vài mươi năm nữa bốn câu thơ trên không trở thành câu ca dao dạy về cách đốt hương khi đi lễ chùa, được ghi vào sưu tập ca dao Việt Nam. Nếu vậy thì bốn câu thơ ấy mang ý nghĩa gì? Thưa, đó là thông điệp xác định rằng: đa số Phật Tử đi chùa đều thích dâng cúng „một nén hương“ lên chư Phật, còn số người „thắp nạm cắm tứ tung“ chỉ là thiểu số chưa rành những phép tắc trong nhà chùa, và chưa hiểu nhiều về chuyện bảo vệ môi trường. Giờ biết rồi thì xin không nên tiếp tục nữa, làm phiền nhà chùa và khách hành hương khác lắm !

Đến giữa năm 2014 tôi quay lại viếng Chùa lần nữa. Tôi vội cố ý tìm ngay đến lư hương kia để xem có còn câu thơ vè trên không. Tôi ngạc nhiên thấy bản viết bây giờ được viết cẩn thận và nghiêm túc hơn bản phác thảo trước kia. Chắc bây giờ Thầy Trụ trì thấy hay và có hiệu quả nên cho viết thành bảng đàng hoàng hơn. Tôi cũng lại chụp ngay để giữ làm tài liệu:

 

NemTamHuong_Sep2014

NemTamHuong2_Sep2014


 Ngay phía bên phải cạnh lư hương và tấm bảng trên còn có một câu giảng giải thêm

 

Ngay phía bên phải của bảng vẽ bằng sơn, có chân đứng hẵn hòi còn có một bảng trang trọng khác ghi bốn câu thơ:

Lên Chùa đốt một nén hương

Thành tâm lễ Phật mười phương hộ trì

Thắp nhiều vô ích làm chi

Khói đen ám tượng vậy thì phước đâu!


Tôi chợt thấm ý câu thơ. Ngoài sân chùa thoáng khí, chỗ lư hương này đâu thấy có tượng Phật nào đâu mà lại lo khói đen ám (hay nám?) tượng. Vậy thì tượng đó chính là tượng Phật trong tâm của ta. Ta thắp nhiều hương làm khói ra nhiều quá, Phật trong tâm ta cũng bị ám, bị mờ đi. Mình dâng hương cầu nguyện để cho tâm sáng ra chứ ai muốn mờ đi đâu, phải vậy không?

 

Lời kết

Truyền thống đốt hương cúng Phật, cúng vái thần linh hay ông bà cha mẹ đã có từ bao nhiêu đời, đã thấm vào tận xương tủy người Việt mình. Nhưng sự việc cầm cả hai ba bó hương mà lâm râm van vái xin trúng áp phe thì hơi xa với truyền thống, không thấy ghi trong nghi thức kinh kệ nào cả, xem ra giống như đang mặc cả gì đó với Phật, Tổ và Thần linh.

Ta lại cũng không thể chỉ cầm ngọn đèn trong tay như người Phật tử Tây Tạng mà xướng rằng: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương … trong khi tay ta chẳng cầm cây hương nào cả. Nếu muốn thế thì phải xin Giáo Hội đổi lời câu kệ là: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo ngọn tâm đăng (nghe sao lạ tai quá!). Hoặc là ở nhà lúc niêm hương ta chỉ cung kính chắp tay và xướng: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo nén tâm hương thay vì mây hương - nhưng chuyện này là chuyện ngoài thẩm quyền cá nhân.

Nhưng suy nghĩ cho cùng, đây chỉ là câu hỏi vụng về của chúng ta, những Phật tử người chưa hiểu đạo rốt ráo. Các bậc cao tăng tu chứng có khi chỉ cần một ly nước lạnh, hay một ngọn đèn, hoặc có khi một cành hoa, một ngọn cỏ, cành tre… họ cũng có thể dâng cúng chư Phật chư Bồ Tát với cả lòng thành, họ vẫn có thể có những cách cảm ứng với những bậc linh thiêng mà không đòi hỏi nhiều phương tiện vật chất như người phàm phu chúng ta.

Thật thiên nan vạn nan, vậy biết làm sao đây?

May quá, tôi có cách - tôi có túi gấm mang theo, gặp khi cùng đường thì mở túi gấm ra.

Tôi gặp ngay bốn câu thơ tuyệt vời này của tác giả Sông Thu trong tập thơ Hạt Cát Mịn (chứ không phải hạt bụi mịn). Nhà thơ Sông Thu làm thơ dễ dàng như giảng Pháp, viết Pháp đơn giản đọc như kể chuyện(3), tu hành  ở trình độ bậc Thầy, bước đi tự tại trong giáo lý nhiệm mầu nhẹ ngàng như ta đi dạo mát. Vị ấy gần 60 năm tu tập hành đạo trong chốn thiền môn, công phu vào hàng đại tăng, chính là Hòa thượng Thích Bảo Lạc ở Úc. Bốn câu thơ ấy như sau:

 

 […]

Chư Bồ Tát rộng độ sanh chứng đạt

Pháp không môn ngào ngạt khắp mười phương

Không cõi nào chẳng quyện tỏa ngát hương

Nguyện dẫn dắt soi đường cho vạn loại.

(Sông Thu - Trầm Hương / Hạt Cát Mịn, tr.92, Úc, Pháp Bảo, 2014)

 

Bạn nghe ra đấy chứ! Sao vẫn cứ còn thắc mắc loanh quanh chuyện một nén (hay một bó) hương? Pháp không môn ngào ngạt khắp mười phương, Không cõi nào chẳng quyện tỏa ngát hương…

Trí tuệ lớn mới nhìn thấy được như thế.

Nếu chẳng may mình còn vô minh, vẫn không hay chưa thấy được vậy, thì chỉ nên dâng một nén hương thôi (hay nhiều nhất là ba), bạn nhé!

 

Nghinh Xuân Ất Mùi

Nguyên Đạo Văn Công Tuấn

www.vancong.com

 

---

Chú thích:

(1)       Bản tiếng Anh: http://www.asianscientist.com/2014/08/health/incense-linked-cardiovascular-disease-2014/).

(2)       Trích dịch từ: http://www.internisten-im-netz.de/de_news_6_0_424_r-ucherst-bchen-k-nnen-krebs-ausl-sen.html)

(3)       Tác phẩm: Kiến thức Căn Bản Phật Giáo của Hòa Thượng Thích Bảo Lạc viết năm 1981 là cuốn sách tra khảo về giáo lý căn bản Phật Giáo tôi vẫn xử dụng thường xuyên mấy chục năm nay. Có thể xem online ở đây: http://quangduc.com/a34053/kien-thuc-can-ban-phat-giao

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/10/201807:14(Xem: 4275)
Commencing at 10:00 am on Saturday, 6th October 2018 Then every Saturday from 10:00 am to 11:30am Why do we practice meditation? Modern life is stressful and impermanent. Meditation is a way of calming the mind and help us to attain more awareness, compassion, happiness, and inner peace. Discover for yourself the inner peace and happiness that arise when your mind becomes still.
20/05/201912:41(Xem: 12)
Đến tận giây phút này, giờ phút ngồi trước máy tính gõ bàn phím, khi tóc đã bạc sương vào tuổi sáu mươi của đời người ngắn ngủi, tôi vẫn còn nhớ như in buổi học môn Văn của lớp 9/5. Thầy, tôi nhớ không lầm là thầy dạy thế, tạm thời đứng lớp thay cho thầy Xuân mới chuyển công tác, nên cái duyên kết dính với lớp của tôi rất mỏng manh. Buổi học đó thầy giảng đến bài “Các thể loại Thơ”, cứ mỗi thể thơ nhắc đến đều được thầy đưa ví dụ một bài thơ tiêu biểu, và đến thể thơ “Ngũ ngôn” thì thầy đọc ngâm: “Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua…”
17/05/201906:40(Xem: 289)
Theo Yahoo News ngày 19/11/2018, nữ dân biểu Hồi Giáo ILhan Omar vừa đắc cử ở Minnesota (nơi đông đảo sắc dân Somalia) nói rằng bà sẽ tranh đấu để hủy bỏ lệnh cấm mang khăn trùm đầu tại phòng họp của Hạ Viện kéo dài đã 181 năm. Các dân biểu của Đảng Dân Chủ tuần rồi loan báo (vào Tháng Giêng 2019) họ sẽ thay đổi luật cấm choàng khăn tại đây mà điều luật này cũng có nghĩa là cấm đội khăn trùm đầu mà Bà Omar đang đội. Bà Omar còn nói rằng, không ai trùm chiếc khăn này lên đầu tôi. Đó là lựa chọn của tôi và nó được Tu Chính Án Số Một bảo vệ. (No one puts a scarf on my head but me, Omar wrote. “It’s my choice - one protected by the First Amendment.)
16/05/201919:23(Xem: 266)
Từ Bi là căn bản của đạo, căn bản của tất cả pháp lành, như đã được Đức Phật thuyết trong kinh Đại Bát Niết Bàn: “Nếu có người hỏi gì là căn bổn của tất cả pháp lành? Nên đáp: Chính là tâm từ… Này thiện nam tử (Ca Diếp Bồ Tát)! Tâm từ chính là Phật tánh của chúng sanh, Phật tánh như vậy từ lâu bị phiền não che đậy nên làm cho chúng sanh chẳng đặng nhìn thấy. Phật tánh chính là tâm từ, tâm từ chính là Như Lai (Đại Bát Niết Bàn, Tập I, Phẩm Phạm Hạnh (1999, PL2543), tr.520, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh). Vì thế, người con Phật không thể không thực hành hạnh từ bi.
12/05/201908:23(Xem: 312)
Trong một kinh về tuệ trí hoàn thiện (bát nhã), Đức Phật đã đưa ra tuyên bố thậm thâm như sau: Trong tâm, tâm không tìm thấy được, bản chất của tâm là linh quang.
12/05/201908:16(Xem: 269)
Kinh luận của Phật giáo nói với chúng ta rằng trên việc thực chứng tánh không, vọng tưởng về sự tồn tại cố hữu yếu đi, nhưng điều này không phải như sau một sự thực chứng đơn lẻ, ngắn gọn.
10/05/201916:01(Xem: 368)
Y vàng thanh thoát chốn chùa chiền, Tỏa sáng niềm tin tỏa ánh thiêng Pháp lữ huân tu nền định tuệ Tăng thân trưởng dưỡng giới hương thiền An Cư thúc liễm ngời hoa giác Kiết Hạ tu trì rạng sắc liên K Nhưng tại sao lại khó như vậy ?có phải chăng, vì muốn được thân người, phải cả đời giữ gìn ngũ giới nghiêm ngặt:(1/ không sát sanh, 2/ không trộm cướp, 3/ không tà dâm. 4/ không nói dối, 5/ không uống ruợu). Nhưng vì sự hấp dẫn của “ngũ dục”(tài, sắc, danh, thực, thuỳ) để rồi thuận theo dòng vô minh, xem những tiện nghi vật chất trên thế gian này là trường tồn vĩnh viễn, là hạnh phúc muôn đời, xem những thành công về hình tướng là sự thành tựu chí nguyện, nên mặc sức để cho dòng đời lôi cuốn vào đường “thị phi”, “danh lợi” xem việc hưởng thụ “ngũ dục” là lẽ đương nhiên, là vinh dự và hạnh phúc. Từ đó lơ đểnhnăm điều cấm giới.Một khi sức giữ năm giới cấm, một cáchlơ là,mãi “lang thang làm kiếp phong trần, quê nhà ngày một muôn lần dặm xa”thì cơ hội kiếp sau làm lại được thân người,
09/05/201906:08(Xem: 334)
Bà La Môn Giáo là Đạo giáo có xuất xứ từ Ấn Độ và Đạo nầy đã tồn tại ở đó cho đến ngày nay cũng đã trên dưới 5.000 năm lịch sử. Họ phân chia giai cấp để trị vì thiên hạ, mà giai cấp đầu tiên là giai cấp Bà La Môn, gồm các Giáo Sĩ, rồi Sát Đế Lợi gồm những Vua, Chúa quý Tộc. Kế đó là Phệ Xá gồm những thương nhơn, Thủ Đà La và cuối cùng là hạng cùng đinh . Những người có quyền bính trong tay như Bà La Môn hay Giáo Sĩ, họ dựa theo Thánh Kinh Vệ Đà để hành xử trong cuộc sống hằng ngày; nghĩa là từ khi sinh ra cho đến khi lớn khôn, học hành, thi cử, ra làm việc nước và giai đoạn sau đó là thời kỳ họ lánh tục, độ tuổi từ 40 trở lên và họ trở thành những vị Sa Môn sống không gia đình, chuyên tu khổ hạnh để tìm ra chân lý.
08/05/201907:44(Xem: 820)
Tùy duyên là hoan hỷ chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại, ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi nhân duyên thích hợp hội tụ. Nhiều khi chính thái độ ngưng đối kháng và bình thản chờ đợi ấy lại là nhân duyên quan trọng để kết nối với những nhân duyên tốt đẹp khác.
06/05/201915:47(Xem: 298)
Được đăng trong Advice from Lama Zopa Rinpoche, Lama Zopa Rinpoche News and Advice. Trong khóa thiền lamrim dài tháng tại Tu Viện Kopan năm 2017, Lama Zopa Rinpoche đã dạy về nghiệp, giảng giải một vần kệ từ Bodhicharyavatara (Hướng Dẫn Về Bồ Tát Hạnh) của ngài Tịch Thiên (Shantideva), đạo sư Phật giáo vĩ đại vào thế ký thứ 8 của Ấn Độ. Đây là những điều Rinpoche đã dạy: Tác phẩm Bodhicharyavatara có đề cập rằng “Trong quá khứ, tôi đã hãm hại những chúng sanh khác như thế, vì vậy nên việc chúng sanh hại tôi là xứng đáng. Đối với tôi thì việc nhận lãnh sự hãm hại này là xứng đáng.”.