Kiến Thức Căn Bản Phật Giáo

20/11/201105:00(Xem: 25986)
Kiến Thức Căn Bản Phật Giáo

LỜI GIỚI THIỆU

Phật Pháp rộng sâu hàm dưỡng muôn vạn pháp môn nhiệm mầu vi diệu. Người muốn thấu triệt pháp môn tu tập, xứng lý, hợp cơ, trước hết cần phải tạo cho mình có cái nhìn căn bản tổng quát về tôn giáo mình tin và lý tưởng mình tôn thờ. Để phát triển khả năng kiến thức trong chiều hướng thánh thiện hóa đức tin, không mê tín, không nản lòng, không giao động trước cảnh đời phù hoa biến hóa vạn thiên, cần phải đủ nghị lực trong tinh thần Bi-Trí-Dũng mới khắc phục được kẻ phàm tâm cuồng tín dùng chước ma thuật lung lạc lòng người.

Những ai muốn vững vàng thăng tiến trên đường thăng hoa cuộc sống dưới bóng từ-bi, trí-tuệ giác-ngộ của đức Phật, điều quan trọng trước tiên là phải hiểu rõ nhân cách, tư tưởng và tâm nguyện của Phật. Bởi lẽ hành trang căn bản của người tu học Phật là Từ-Bi và Trí-Tuệ. Thiếu nó là thiếu yếu kiện thiện duyên để gần Phật,
thiếu căn lành để phát triển khả năng Phật tánh giác ngộ của mình. Văn, Tư, Tu là điều kiện ắt có và đủ để hoàn thành nhân cách của người đệ tử Phật. Là Phật tử mà không biết về Phật, Pháp, Tăng là gì, không hiểu gì về đạo Phật là tự khinh rẽ khả

năng tri giác và lệch lạc với niềm tin của chính lương tâm tôn thờ.

Đối diện với nền văn minh vật chất tầng độ phát triển không ngừng, có sức mạnh cuốn hút người hưởng thụ đó. Đối diện trước thực trạng nước mất nhà tan, lòng người ly tán, đạo tâm suy vi, văn hóa, đạo đức truyền thống hầu như suy tàn, hoàn toàn bị phá sản. Trước thảm trạng đó, Thượng-Tọa Thích-Bảo-Lạc, người mang hoài bảo góp phần vào việc duy trì văn hóa, đạo đức truyền thống, thức tỉnh thế nhân, đã dày công nghiên cứu, sưu tầm viết thành quyển "KIẾN-THỨC CĂN-BẢN PHẬT-GIÁO" để trao đến những tâm hồn mếnđạo từ bi, yêu chân lý giác ngộ, hầu tạo thiện duyên giải thoát nổi phiền lụy, khổ đau của chính tâm thức mình.

Quyển sách nầy khá phong phú về đề tài, khá sáng gọn về phươngthức dẫn giải. Tuy không có lối văn trau chuốt khúc chiết, tư tưởng uyên thâm triết hệ, nhưng rất thích hợp với trình độ học Phật cơ bản của mọi người.

Tôi xin tùy hỉ tán thán công đức, đồng thời trân trọng giới thiệu đến thức giả Phật tử bốn phương.

Hoa-Kỳ, mùa Phật-Đản 2541-1998.

Thích-Đức-Niệm.

---o0o---

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo pháp của Phật rộng sâu như biển cả, viết một quyển sách chưa hẳn đã lột tả được hết mạch ý của ba tạng Thánh giáo.

Trong phạm vi nghiên cứu hữu hạn, tôi cố gắng trình bày những điều cần thiết trong Phật giáo để cống hiến cho độc giả món ăn tinh thần hữu ích. Vì ở trong nước, sách nghiên cứu về Phật giáo sau năm 1975 đã bị đốt sạch ; và ở ngoại quốc, chúng ta muốn có một tài liệu viết về Phật giáo bằng tiếng Việt không phải là việc dễ tìm. Do nhiều yếu tố thúc đẩy khiến tôi gia công làm việc ngày đêm viết nên cuốn sách nầy ngay từ khi còn học tại Tokyo, Nhật-Bản. Dự định cho ấn hành từ năm 1980, sau khi tôi hoàn thành bản thảo, nhưng nhân duyên chưa đủ, nên cứ chần chờ mãi cho tới
nay. Tôi tự nghĩ rằng ở đời chúng ta làm việc do ý chí quyết định một phần mà được thành công toại ý, nhưng không phải là không nhờ những trợ duyên bên ngoài đưa tới. Như khi nào ta muốn mua máy móc, tậu xe hơi, xây nhà, lập vườn ... đâu phải ngẫu nhiên mà được, nếu không do nhiều người góp ý, chung tài và hiệp lực lại

ta khó có thể thực hiện nổi những kế hoạch và dự tính đã sắp đặt trước nhiều năm tháng. Viết ra những điều tôi đã học được để báo ân Phật tổ, chư vị tiền bối, và đồng thời cũng để tạ ơn sanh thành dưỡng dục của thầy mẹ đã dày công săn sóc chỉ dạy.

Đặc biệt sau khi viết xong tập bản thảo, tôi viết thư sang Hoa-Kỳ để nhờ giảo chính lại những chỗ thiếu sót, sai lầm và đã được Hòa-Thượng Thích-Đức-Niệm (hiện là Giám-Đốc Phật-Học-Viện Quốc-Tế) hoan hỉ nhận lời, mặc dầu thầy rất bận rộn nhiều công việc Phật sự khác. Nhưng theo Hòa-Thượng thì công việc hoằng pháp
đặt lên trên hết, do đó tôi cảm thấy thật hài lòng. Ngoài ra, Hòa-Thượng cũng đã sẵn sàng giúp đỡ cho tôi việc ấn hành tập sách nơi nhà in A-Nan-Đà do thầy điều hành hiện nay tại Los Angeles, Hoa-Kỳ. Nơi đây tôi không thể dùng lời cảm ơn để nói hết xin chư Phật từ bi chứng minh công đức tài pháp vô giá mà Hòa-Thượng Giám-Đốc Phật-Học-Viện Quốc-Tế đã dành cho.

Cuối cùng kính mong được chư tôn, thiền đức, chư pháp hữu ân nhân, những vị hằng lưu tâm tới giáo điển Phật Đà, vui lòng chỉ giáo cho những chỗ sai thiếu để trong lần tái bản tới, cuốn sách sẽ được hoàn chỉnh hầu thể hiện đúng tinh thần muốn học hỏi và tìm hiểu của chính tác giả và cho người muốn nghiên cứu giáo lý đạo Phật.

TÁC GIẢ CẨN KHẢI.

Đông-Kinh, mùa Phật-Đản

2525 - 1981



---o0o---

ĐÔI LỜI TRONG LẦN TÁI BẢN

Sách đã in tại nhà xuất bản A-Nan-Đà, Hoa-Kỳ vào mùa Phật-Đản 2526 (1982) và được phân phối đi khắp nơi. Chỉ trong vòng một năm sau, số lượng sách đã cạn cũng nhờ vào sự ủng hộ nhiệt tình của độc-giả. Đây là một sự khích lệ lớn lao khiến cho tác giả vững tin hơn vào khả năng sáng tác.

Như dự tính, lần nầy sẽ cho thêm vào phần đầu những thư của độc giả viết nhận xét khi đọc qua tác phẩm như là lời minh chứng. Nhưng sau khi suy đi nghĩ lại thấy không ổn, vì làm như vậy, vô tình chẳng khác nào ngăn độc giả đừng đọc sách chi cho mất thì giờ vô ích, vì việc nầy đã có người nhận xét cho rồi ! Một số các tác phẩm khác đã gặp phải trường hợp nầy, nên ở đây tác giả cố tránh không đi vào vết xe cũ đó nữa.

Lần tái bản nầy, chúng tôi muốn thưa cùng quý độc giả mấy điểm chính sau đây :

- Thứ nhất : Những thư góp ý xây dựng, bổ túc nhiều chỗ thiếu, sai trong sách của các học giả, giáo sư và nhất là của các thân hữu ... đã làm cho chúng tôi vô cùng cảm kích và rất biết ơn những lời nói thẳng. Lần tái bản nầy, chúng tôi đã cố gắng sửa chữa lại những thiếu sót và lỗi lầm và cho thêm nhiều hình ảnh khác.

- Thứ hai : Do sự sốt sắng giúp đỡ của các pháp hữu, thân hữu và nhất là của quý đạo hữu trong việc cổ động, giới thiệu độc giả mua sách, nhờ đó mà số phát hành lần trước đã được tiêu thụ nhanh chóng. Một điều hãnh diện cho chúng tôi hơn nữa là trong dịp công tác Phật sự tại Hoa-Kỳ vào tháng 9-1983, khi đến thăm các Hội
Phật giáo, chúng tôi đã được giới thiệu kèm theo với tên của cuốn sách.

- Thứ ba : Cũng trong lần họp mặt hữu duyên ấy tại Hoa-Kỳ, chúng tôi có dịp gặp lại các pháp hữu mà nhiều năm qua xa cách vì mỗi người phiêu bạt một ngã. Trong số nầy, có các thầy mà trước đây 5, 10 năm đã có học tại Nhật-Bản. Thật là một cuộc hội ngộ nhiều ý nghĩa và quý giá vô cùng ! Và ý nghĩ tái bản cuốn sách nầy cũng
phát khởi từ đó. Hòa-Thượng Thích-Minh-Tâm (tọa chủ chùa Khánh-Anh - Pháp) đã sốt sắng lãnh trách nhiệm hoàn thành việc ấn loát trong lần tái bản nầy. Chúng tôi cảm thấy vô cùng vui sướng vì một nhân duyên tốt nữa lại đến vừa đúng lúc.

Chúng tôi chân thành cảm ơn chư độc giả đã mua ủng hộ sách, bổ túc những chỗ thiếu sót và sai lầm, giúp cho tập tài liệu nầy được thêm hoàn hảo. Dĩ nhiên, dù đã hết sức cố gắng, chắc chắn vẫn còn có những chỗ chưa được toàn vẹn, ước mong được sự lượng thứ của chư vị và xin giúp đỡ bổ túc những thiếu sót còn sót lại.

Xin hồi hướng công đức pháp thí nầy về giác linh cố Thượng-Tọa Bổn-Sư ; Thượng-Tọa thượng Trí hạ Hữu và hương linh thân mẫu là Hồ-Thị-Quyên được cao thăng Phật quốc và cầu cho khắp pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Tác-giả cẩn chí.
Sydney, mùa Xuân năm 1983.
(Phật-lịch - 2527)

---o0o---

Cùng Độc Giả Trong Lần Tái Bản Thứ Ba

Cuốn sách đầy đủ nhân duyên hạnh ngộ cùng độc giả bốn phương qua bốn điểm sau đây :

- Thứ nhất : Sách được cho đánh máy lại đàng hoàng và in ấn mỹ thuật.

- Thứ hai : Đã điều chỉnh những phần không vừa ý, cũng như bổ túc những chỗ thiếu sót cho được hoàn chỉnh hơn.

- Thứ ba : Sách do Phật-Học-Viện Quốc-Tế - Hoa-Kỳ đảm trách việc ấn hành.

- Thứ tư : Chư độc giả đã dành nhiều thiện cảm nên sách nầy mới đủ lý do tái bản.

Dù vậy, các chương mục vẫn được giữ nguyên như trước. Không có phần nào mới được thêm vào, vì nhận thấy sách vẫn đang cập nhất hóa. Hai lần in trước (82,83) dù đã cố gắng, nhưng vẫn chưa đạt tiêu chuẩn mong muốn. Lần nầy với kỹ thuật computer tân kỳ, hy vọng sách đáp ứng được nhu cầu mong mỏi của chư thiện hữu tri
thức xa gần. Song bút giả tin chắc một điều, dù đã cố gắng tối đa vẫn không thể tránh khỏi lỗi lầm, sai sót. Mong chư độc giả, các bậc cao minh chỉ giáo những khuyết điểm ngoài ý muốn để tác phẩm được hoàn mỹ hơn khi cơ duyên tái bản hội đủ.

Ngưỡng nguyện Tam-Bảo luôn được xương minh để mọi người cùng vào biển tuệ giác chư Phật, thoát ba đường khổ.

Cẩn Khải,

Sydney ngày 15/6/97

Tỳ-kheo Thích-Bảo-Lạc

--- o0o ---

Tựa tái bản lần thứ tư

Trong số tác, dịch phẩm trong gần 30 năm nay của tôi, cuốn “Kiến thức căn bản Phật Giáo” được tái bản nhiều lần, mặc dù cuốn sách này dày đến trên 500 trang. Chắc hẳn nó phải có một số lý do chính đáng mà tác giả tạm giải thích hầu độc giả trong lần tái bản này.

-Sách in lần đầu tiên vào năm 1983 . nxb Ananda Hoa Kỳ.

-Tái bản lần thứ nhì vào năm 1988 – nxb. Khánh Anh – Pháp

-Tái bản lần thứ ba vào năm 1998 – nxb . PHV Quốc Tế – Hoa Kỳ

-Tát bản lần thứ tư vào năm 2003 – xb. Tổ chức GĐPT – Hoa Kỳ.

* Sách chứa dung nhiều từ chuyên môn Phật học, nếu không phải nhà Phật học chuyên ngành không thể nào giải thích được.

* Những danh từ về pháp số cũng được đưa vào sách và giải thích khá đầy đủ.

* Một số những câu ca dao Việt Nam được lồng vào và giải theo khía cạnh Phật học, làm phong phú thêm phần tài liệu nghiên cứu.

* Sách được nhiều người xem là cuốn từ điển Phật học cần thiết dùng vào việc tra cứu, viết lách.

*Với những bài ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu giúp cho độc giả ít thì giờ, muốn tham khảo Phật Giáo, lại là điều thật vô cùng thuận tiện.

Tác giả ngoài lục tuần, thấy tác phẩm của mình được nhiều người ham thích đọc, trong lòng cảm nhận một niềm vui rằng, thời buổi văn minh vật chất, cơ khí như thế kỷ hăm mốt ngày nay vẫn có những tâm hồn hướng thượng tìm về Phật Giáo, cao quí vậy thay !

Nguyện cầu Phật pháp được trường tồn, và tất cả chúng sanh trong khắp các quốc độ được an lạc, hạnh phúc, biết tu sửa tự tâm để trang nghiêm quốc giới, là nhân cao thượng đáng trân trọng.

Phật lịch 2547, Sydney, Úc châu ngày 30 tháng 11 năm 2003

Sa môn Thích Bảo Lạc

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2025(Xem: 1714)
Vào ngày 9/11/2025, tại Tu Viện Huyền Không, San Jose, tôi đã tham dự buổi ra mắt rất đồ sộ của Dự Án Phật Học Tinh Hoa Thế Giới do thầy Thích Pháp Cẩn trụ trì Chùa Phổ Giác (Marina, California) giới thiệu. Nhân dịp này thầy đã ký tặng tôi cuốn Thiền Trong Kinh Điển Pali do một nhóm dịch thuật. Đây là cuốn sách do Ni Sư Tiến Sĩ Sarah Shaw hiện đang giảng dạy tại Đại Học Oxford (Anh Quốc) trước tác từ nghiên cứu kinh tạng Pali và được giới thiệu như là, “Đây là cuốn sách tổng hợp đầu tiên giới thiệu cho người đọc về sự đa dạng của giáo huấn về Thiền trong kinh điển Pali. Điều đó chứng tỏ rằng truyền thống Thiền của Đức Phật vẫn mở ra một con đường hành Thiền bí ẩn, nhưng đầy cảm hứng nhưng vẫn dễ tiếp cận như bản chất Thiền vốn có từ nhiều thế kỷ trước đây và thu hút sự quan tâm từ các thiền sinh, học giả, và cả những người tu hành theo đạo Phật.”
22/10/2025(Xem: 3738)
Các học thuyết xã hội và giáo lý tôn giáo đã tranh luận rất nhiều về sự giải phóng con người, và tất cả đều hướng tới một thế giới tự do lý tưởng vì tự do là khát vọng muôn đời của loài người. Thế giới lý tưởng đó là thiên đường đầy hoa trái, chỉ có hạnh phúc, tình yêu và không có hận thù theo Cơ đốc giáo1 và cả Hồi giáo2. Nho giáo, Đạo của sĩ phu của quân tử, thì cho rằng xã hội lý tưởng là một thế giới lý tưởng của kẻ sĩ, của bậc quân tử (Trần Trọng Kim, 1996, tr. 106)3.
25/08/2025(Xem: 2099)
Kinh Kim Cang có tên gọi đầy đủ là “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật” (Vajracchedika Prajna Paramita Sutra, tiếng Phạn) tương truyền được đức Phật thuyết giảng vào thời Bát Nhã, khoảng 20 năm sau ngày Phật Thành Đạo, và là 1 trong 600 quyển kinh thuộc hệ Đại Bát Nhã. Sau đó, kinh được đưa từ Ấn Độ sang qua Trung Quốc vào khoảng hậu bán thế kỷ thứ hai và được dịch từ Phạn văn sang Hán văn bởi nhiều vị dịch giả, trong đó bản dịch vào năm 401 của ngài Cưu Ma La Thập (344-413) được xem là phổ dụng nhất. Tổng số chữ (Hán tự) trong kinh này chỉ có 4,720 chữ, bao gồm 8 chữ tựa đề kinh. Điểm đặc biệt là bố cục kinh không có phân đoạn ra các chương, các phẩm
25/04/2025(Xem: 3456)
Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.
15/01/2025(Xem: 1456)
Thiền Tông dạy rằng người nào sống với Vô tâm là giải thoát. Trần Nhân Tông, vị Thiền sư nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 13, từng viết rằng khi gặp cảnh, giữ được vô tâm, thì không cần hỏi tới Thiền nữa. Đức Phật trước đó đã dạy pháp Vô tâm trong Kinh Phật Tự Thuyết Ud 1.10. Bài này sẽ viết theo nhiều bản Anh dịch trên Sutta Central. Một đạo sĩ tên là Bahiya cư trú ở thị trấn Supparaka. Bahiya được cư dân tôn kính, cúng dường y phụ, nhà ở và nhiều thứ. Bahiya tự tin rằng đã chứng quả A la hán, hoặc sắp thành A la hán. Một vị cõi trời, kiếp trước từng là người thân của Bahiya, muốn điều tốt lành cho Bahiya, nên hiện ra, nói với Bahiya rằng Bahiya chưa phải là A la hán, và cũng chưa tu đúng con đường để trở thành A la hán.
15/01/2025(Xem: 1462)
Trong rất nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam, cũng như truyện cổ của nhiều quốc gia khác trên thế giới, có một niềm tin vững chắc rằng mỗi người chúng ta đều có một kiếp sau ở tương lai. Không chỉ riêng với Phật giáo dân gian, hầu hết (và có thể là tất cả) các tôn giáo khác, đều tin rằng có một kiếp sau, hay một đời sau. Chuyện kiếp sau này cần được phân tích minh bạch, để không rơi vào một niềm tin nhầm lẫn.
15/01/2025(Xem: 1493)
Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi. Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.
15/01/2025(Xem: 1216)
Bài này sẽ nói về vai trò của người cư sĩ với nhiệm vụ nên học nhiều về Kinh điển, nên hiểu Phật pháp cho thâm sâu, nên tu tinh tấn để làm gương cho người đời thường, và nên sống đơn giản nhằm thích nghi với mọi hoàn cảnh cần để hoằng pháp. Không phải ai cũng có cơ duyên để học nhiều về Kinh điển. May mắn, thời nay chúng ta đã có kinh điển dịch ra tiếng Việt rất nhiều. Các Kinh điển, Bộ Nikaya và Bộ A Hàm đều đã dịch ra tiếng Việt. Trong khi đó, các buổi giảng Kinh do nhiều vị tăng ni thực hiện đã phổ biến nhiều trên YouTube và các trang web về Phật học. Những gì thắc mắc, có thể hỏi trên mạng Google hay các mạng trí tuệ nhân tạo, như ChatGPT hay Gemini, đều có thể được giải thích ở mức độ tổng quát. Tuy nhiên các giải thích này đều khả vấn, có khi là trích dẫn theo sự giải thích của các học giả Ky Tô Giáo hay không phải Phật tử, cần kiểm chứng.
15/01/2025(Xem: 1365)
Trong khi học Phật, chúng ta thường đọc thấy ba pháp ấn là vô thường, khổ, và vô ngã. Đôi khi, chúng ta đọc thấy trong kinh nói về bốn pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết Bàn. Tùy theo dị biệt bộ phái, mỗi vị thầy ưa nói cách này hay cách kia. Thực tế, nói cách nào cũng đúng, cũng phù hợp kinh điển. Trong khi đó, theo cách nhìn của Thiền tông Việt Nam, tất cả các pháp tự thân đã là tịch diệt, bời vì lìa phiền não thì không có bồ đề, lìa sanh tử thì không có Niết bàn. Cũng như sóng không lìa nước, và ảnh không lìa gương. Do vậy, Thiền tông nêu lên ý chỉ là phải nhìn thấy để sống với pháp tánh, với Niết bàn tự tâm.
15/01/2025(Xem: 1386)
Trong nhiều kinh, Đức Phật khi giải thích về vô thường đã hỏi rằng có phải mắt và cái được thấy là vô thường hay không, rồi hỏi có phải tai và cái được nghe là vô thường hay không, và rồi vân vân. Như thế, đối với nhiều người tu, quán sát nơi con mắt sẽ là bước đầu để học đạo giải thoát. Tuy nhiên, đối với Thiền Tông Việt Nam, có một số vị thầy dạy rằng hãy nhìn như một người mù nhìn, và hãy nghe như một người điếc nghe. Lời dạy về con đường giải thoát này là như thế nào?