Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Nơi thích hợp để tu thiền

22/12/201419:21(Xem: 5288)
Nơi thích hợp để tu thiền
thien that

Hôm nay chúng ta có một đề tài đột xuất, lý do là có một số thiền sinh muốn biết “trú xứ nào thích hợp để hành thiền”? Câu hỏi này rất hay. Đúng ra, đây phải là bài học đầu tiên cho tất cả những ai sơ cơ bước vào đời sống tu học nghiêm túc; nhưng do là tôi thường hay nói chuyện, giảng pháp, giảng thiền trước hội chúng đã từng tu tập - nên tôi quên bẵng là có những người đến tập thiền hôm nay còn rất mới mẻ.





“Trú xứ thích hợp”, thật ra cũng không phải đơn giản. Đã rất nhiều người hiểu lầm. Tôi nhớ thời gian sau những năm 1975 dường như chín mươi phần trăm tu sĩ đều hoàn tục do “hoàn cảnh tu học không còn thích hợp nữa”. Một số khác có chí tu, muốn tìm chỗ tu tập thuận tiện, tiện nghi  hơn, họ viện dẫn một đoạn kệ trong 38 pháp hạnh phúc: “Ở trú xứ thích hợp, công đức trước đã làm, chơn chánh hướng tự tâm, là phúc lành cao thượng”. Rồi họ nói: Chính đức Phật cũng đã từng dạy, muốn có hạnh phúc cũng cần phải đi tìm kiếm trú xứ thích hợp kia mà! 

Trú xứ thích hợp cái kiểu đó chính là đầy đủ phương tiện vật chất. Nhưng chúng ta đã hiểu rõ rằng, các nước văn minh tiên tiến, cơ bản họ không lo cái ăn, cái mặc nữa, nhưng những bất hạnh về gia đình, những mối bất hòa về cha con, vợ chồng, những căng thẳng quá tải do công việc đã đưa đến những khổ đau về tinh thần là thảm họa khôn lường do sự cạnh tranh lợi nhuận mà ra. Vậy, trú xứ thích hợp không phải là tìm chỗ dư dã vật chất. Nước Bhutan là nước theo Phật giáo, có thể họ còn rất nghèo nhưng chỉ số hạnh phúc đầu người của họ được xem là cao nhất thế giới. Xứ Kuru thời đức Phật - một bộ lạc nghèo - cũng thuộc loại có chỉ số hạnh phúc đầu người cao nhất Ấn Độ thời bây giờ, nhờ người dân ở đây đều tu tập Tứ Niệm Xứ. 

Myanmar là một trong những đất nước nghèo nhất thế giới nhưng lại là nơi xuất sinh những vị thiền sư có ảnh hưởng tầm thời đại; và ở tại đấy đã có nhiều trường thiền tu học nghiêm túc, lôi cuốn Tăng ni Phật tử khắp năm châu. Đến đây ta có thể loại trừ trú xứ thích hợp theo nghĩa vật chất ở trên... Nói cụ thể hơn tí nữa, trú xứ thích hợp không phải đi tìm chỗ ăn ngon, mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, mọi tiện nghi đều được cung phụng đầy đủ...

Có người hỏi.
- Vậy thì nghèo, khổ mới tu được hay sao, thưa thầy?
- Đấy, bạn lại rơi vào cực đoan khác. Ở Ấn Độ, ai đầy đủ quyền lực, giàu sang, danh vọng hơn đức vua Bimbisāra, đức vua Pāsenadi ? Ai có vàng bạc, của cải hơn ông Cấp Cô Độc, bà Visākha? Ai có gia sản lớn như ngài Sārīputta, Mahākassapa? Rồi các vị vua thời Lý, Trần của chúng ta nữa? Và gần đây nhất, hiện nay, các nước văn minh tiên tiến trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Úc, Canada... người ta nghiên cứu Phật học và hằng ngàn chùa chiền, tu viện, thiền viện để cho mọi người tu tập thì sao nhỉ? 

Vậy nghèo giàu không phải là vấn đề, nó không phải là cái quyết định. Lại nữa, trú xứ thích hợp cũng chưa phải là nhân tố quyết định. Nó chỉ là duyên. Chúng ta tu học, chúng ta thiền tập cũng phải biết tạo những duyên tốt cho sự tu học, cho sự thiền tập ấy được tốt hơn, có hiệu quả hơn, có phải thế không? Một hạt lúa mà gieo trên đất khô cằn, không có phân, không có nước... thì nó sẽ không thể thành cây lúa tốt tươi được. Cũng vậy, có tâm tu, muốn công phu thiền tập cho có hiệu quả, chúng ta phải có những bước chuẩn bị, lựa chọn, tìm kiếm môi trường thích hợp... tương tợ như thêm phân, thêm nước, chăm bón cho cái cây lúa kia vậy.

- Tức là lựa tìm cái chỗ ở hoặc nơi chốn thích hợp để hành thiền, phải không thầy?
- Ở trường hợp đang nói đây thì đúng như vậy! Cái nơi chốn, cái chỗ ở thích hợp để hành thiền, lý tưởng nhất - nói cái lý tưởng nhất trước đã - thuở đức Phật thì khác, bây giờ thì khác! Bây giờ thì có thể tìm kiếm 10 chỗ sau đây:

Một - rừng, cội cây, ngôi nhà trống...
Hai - không gần xóm cũng không xa xóm...
Ba - không gần đình, miếu, am, quán... thường có nhiều người vào ra và nhiều cuộc lễ hội, cúng kỵ...
Bốn - nơi không có thú dữ, nơi tụ họp của bọn xì-ke, ma túy, gần hang ổ bọn trộm cắp, tội phạm...
Năm - không gần chỗ nga ba, ngã tư, bến nước, nhà ga, siêu thị, chợ búa... 
Sáu - không gần chỗ khách du lịch, vui chơi giải trí, tắm giặt, vũ điệu hát ca phù phiếm...
Bảy - không gần chỗ hội họp, hội thảo, tiệm internet; nơi cờ bạc, quán cà phê, quán rượu, nơi chơi cổ phiếu - thị trường chứng khoán...
Tám - không gần nơi lò mổ, trại nuôi heo bò, gà vịt...
Chín - không gần trại phong cùi, trại tù binh trọng hình, trọng án...
Mười - tránh xa những cơ sở công nghiệp do động cơ, khí thải làm cho không gian, đất đai, nguồn nước ô nhiễm...

- Đúng là lý tưởng - một người thốt lên - nhưng ở đâu tìm ra được hoàn cảnh và môi trường tuyệt vời như thế?
- Tôi biết. Vì đấy là lý tưởng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người, ai cũng có thể thu xếp cho mình một góc phòng nào đó, khoảng thời gian nào đó để tập định. Nói ngắn gọn, là nên tránh xa chỗ ồn ào, bụi bặm, chỗ dễ bị lây nhiễm tập tính xấu, chỗ dễ làm cho ta phân tâm, nhiễu loạn... quý vị đã nắm rõ như thế chưa?
- Thưa vâng!
Yên lặng một lát rồi có người nói:
- Chỗ của tôi ở rất ồn ào, hai bên kẹp chặt một quán cà-phê và một quán ăn nhậu, đến chín mười giờ đêm vẫn không yên; trong trường hợp ấy, làm sao để tập thiền hở thầy?
- Quả là khó đấy! Vậy thì từ lâu, bạn đã đối trị ra làm sao?
- Dạ thưa vâng! 

Tôi sẽ kể hầu thầy nghe, đồng thời muốn san sẻ với các bạn kinh nghiệm mà tôi đã trải qua. Suốt mấy tháng trường, tôi đã không an trú vào hơi thở được, thế là tức giận, sân hận ồ ạt nổi lên. Hôm kia, tôi chợt hỏi: Tại sao, mình lại tức giận? Mình ngồi thiền là để mà sân hận như thế này hay sao? Hóa ra, do mình muốn sự yên lặng, ước muốn ấy do không được toại nguyện, không được hài lòng, thỏa ý nên mình đã bực tức. Vậy tại sao mình không từ bỏ đối tượng trở ngại bên ngoài rồi lắng nghe sự tức giận ấy nó nung đốt mình ra làm sao? Thế rồi, tôi chỉ ngồi và quan sát, lắng nghe cái tức giận. 

Tôi đã tỉnh giác, chú tâm liên tục. Lát sau, điều kỳ diệu xẩy ra, nghĩa là, tiếng nhạc loạn ồn ào bên ngoài đã trở nên mơ hồ, xa vắng; và cơn tức giận bên trong nó cũng đã dần dần lắng dịu xuống rồi tan loãng đi. Tôi nhủ thầm: Đúng vậy rồi, cái gì có sanh thì cái ấy có diệt! Tôi đã nhìn ngắm được cái sinh diệt của tâm sân! Đấy là cách đối trị của tôi để vượt qua chướng duyên bên ngoài. Thế có tốt không thưa thầy?

- Đúng, vậy là tốt! Do nhờ ông bạn đã tập thiền nhiều năm nên đã thấy rõ mình luôn bị chi phối bởi hai năng lực tham và sân. Muốn yên lặng, muốn dứt tiếng ồn - đấy là tham; ước muốn ấy không được toại nguyện - nên sinh ra bực tức - đấy là sân. Bạn đã nghiêm túc lắng nghe, và biết rõ ước muốn yên lặng ban đầu là do tham, sau đó, do ước muốn ấy không toại nguyện nên phát sanh sân! Sự lắng nghe, quan sát tham và sân này - chính lúc ấy, bạn đã bước qua giai đoạn niệm tâm rồi đấy!

- Ông bạn làm được việc ấy, còn tôi vì mới sơ cơ nên không thể - một người góp ý - Chắc tôi sẽ nổi sùng lên, nóng nảy làm một việc sai lầm gì đấy thì nguy to! Vậy, tôi sẽ cố gắng tìm kiếm trú xứ thích hợp để hành thiền, để tu tập như 10 điều kiện thầy nêu ở trên - vừa lợi lạc cho mình vừa giúp cho con cái được sống trong môi trường trong lành, cách ly được một phần nào sự thác loạn, ồn ào, đủ mọi thứ ô nhiễm do con người và xã hội gây ra. Tôi sẽ cố gắng tìm chỗ tốt nhất.

- Đúng vậy! Mỗi người có thể tìm kiếm trú xứ thích hợp tùy hoàn cảnh của mình, khả năng của mình; tuy nhiên, không ở đâu có điều kiện tốt tuyệt đối. Sau khi có điều kiện về không gian tương đối rồi, chúng ta còn cần sự lựa chọn thời gian nữa. Buổi khuya, trước khi đi ngủ; và buổi sáng khi vừa thức dậy, thời gian ấy là tốt nhất. Tại sao vậy? Vì trước khi ngủ, mình tập thiền, năng lực của thiền có thể duy trì cho mình một giấc ngủ an lành, không có những giấc mộng dữ. Buổi sớm, mình tập thiền, năng lực của thiền giúp mình ổn định thân tâm suốt một ngày làm việc. Các bạn phải thấy sự rõ lợi ích ấy.

Có một người hỏi.
- Có người bảo nên tập thiền vào lúc nửa đêm, giờ tý, lúc ấy dương khí  mới sinh - có đúng không thầy?
- Điều ấy đúng, đúng với cách luyện khí công của đạo gia. Họ luyện tinh thành khí, khí hóa thần, thần hoàn hư  theo quan niệm bí thuật của các đạo sĩ tu tiên. Theo đó, họ thở dài và sâu, ép hơi thở xuống đan điền, giữ hơi thở càng lâu càng tốt, bế hậu môn, dùng tưởng hâm nóng, đốt cháy tinh, chuyển tinh thành khí, dẫn khí  lên cột tủy sống để nuôi dưỡng thân xác với ước mong trẻ mãi không già, thanh xuân, trường thọ... Chúng ta tu Phật, tu thiền cốt để giải quyết phiền não nội tâm, có nên cưng chiều cái thân, tu luyện cho cái thân để phát triển dục vọng như thế không - thì các bạn đã hiểu rồi.

Có người phát biểu.
- Đúng vậy! Thầy đã nói đúng, đấy là cách nuôi lớn, phát triển dục vọng. Nhưng nếu cũng ngồi vào giờ tý, quay mặt về hướng Bắc, vì lúc ấy mặt trời - dương khí ở hướng Bắc - thì có tốt không thầy?
- Tốt! 24 giờ đêm, mặt trời ở hướng Bắc; 6 giờ sáng, mặt trời ở hướng Đông; 12 giờ trưa, mặt trời ở hướng

Nam; 18 giờ chiều, mặt trời ở hướng Tây. Đúng những giờ khắc ấy, quay mặt về hướng dương khí ấy, nó trợ lực tốt cho dương khí ở trong chúng ta - nhưng cũng rất tương đối; quan trọng nhất ở đây là đừng có phản lạicác lực, các khí các từ của vũ trụ... quý vị có hiểu không?

- Dạ chưa hiểu! Dường như thầy cố ý nói đến phong thủy khi đề cập đến các khí, các từ, các lực của vũ trụ?

- Đúng vậy, nhưng, lãnh vực phong thủy cũng khá lớn rộng, cái đúng, cái sai của nó - các trường phái Đông Tây có nhiều kiến giải khác nhau; nó chưa hắn là thước đo trung chính; thứ nữa nó cũng không quan trọng lắm trong sự thiền tập. Chúng ta chỉ cần biết rằng, từ trường của quả đất đi từ Bắc xuống Nam. 

Khi đức Phật nhập diệt, ngài nằm thuận với từ trường của quả đất: Đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mặt về hướng Tây - tim không bị ép - lưng hướng Đông, chân co chân duỗi xuôi Nam! Quả là kỳ diệu thay trí tuệ của một bậc Toàn Giác - vì thuở ấy khoa thiên văn, địa lý đang còn quá sơ khai!

- Vậy trú xứ thích hợp còn cả yếu tố phong thủy trong đó nữa sao?
- Không cần thiết! Chỉ cần biết chút ít. Chỉ cần biết chút ít để chúng ta không nên nghịch lại với các lực, các khí,các từ  ấy - có hại cho sức khỏe - mà phải biết vận dụng chúng để trợ lực thêm cho mình, thêm duyên lành cho mình không tốt hơn sao? Ví dụ, nhà ở nên quay mặt về các hướng Đông Nam, Tây Nam để hưởng ánh nắng mặt trời buổi sớm - chắc hẳn là tốt hơn khi chúng ta quay lưng lại với nó? 

Và gió cũng vậy, có gió lành, có gió độc. Nước cũng vậy, thuận thế nước tốt hơn là nghịch lại với nó. Nói tóm lại, với phong thủy, chúng ta cũng nên nắm bắt cái nguyên lý của nó để sống, để ở, để tập thiền - vì ngoại duyên thuận hợp bao giờ cũng tốt hơn là nghịch duyên vậy.

Một người hỏi.
- Vậy thì khi mà chúng ta lựa chọn trú xứ thích hợp rồi - nghĩa là không gian thích hợp, thời gian thích hợp - thì sự tập thiền của chúng ta sẽ dễ dàng thành tựu?
- Chưa đâu! Đấy mới chỉ là ngoại cảnh, chúng ta còn cần phải chuẩn bị thân tâm nữa.
- Xin thầy hãy cho nghe một cách rộng rãi.
- Vâng. Các bạn hãy nghe đây. 

Đức Phật dạy: Giới năng sinh định, định năng sinh tuệ; hoặc giới là nền tảng của định, định là nền tảng của tuệ. Vậy, chuẩn bị thân tâm có nghĩa là thân tâm ấy phải có giới, thân tâm ấy phải mát mẻ, trong lành cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ít ra là thân tâm ấy không có một đời sống buông lung, phóng dật, rượu chè, cờ bạc, tham lam, bạo tàn, hung dữ, độc ác... 

Nếu trước đây đã từng lỡ dại khờ, mê muội mà sống như vậy thì nay phải hồi đầu, hướng thiện, phải biết thọ trì tam quy và ngũ giới. Không có nền tảng tối thiểu của giới như vậy mà mong định, mong thiền, mong tuệ thì chỉ là ảo tưởng mê vọng. Gia dĩ trong năm giới mà bạn cảm thấy đôi lúc có sai phạm - cũng không sao, biết có sai phạm là tốt; nhưng trước khi hành thiền, bạn nên tắm rửa sạch sẽ, đốt nhang, xông trầm, đối trước tượng Phật, tự sám hối, tự xin giới rồi tụng đọc một bài kinh Tam Bảo... thì thật là một sự chuẩn bị thân tâm một cách chu đáo và trọn lành. Làm được như thế thì thân bạn an ổn, mát mẻ, tâm bạn an ổn, mát mẻ... và nó chính là cơ sở tiền đề, nền tảng cho chúng ta đi vào tập thiền, dù định hay tuệ một cách rất dễ dàng.

- Chúng tôi hoàn toàn hiểu! Nhưng nếu như lúc ấy - một không thời gian nào đó - chúng tôi muốn tập thiền nhưng không có một chỗ thờ tự trang nghiêm thì sao ạ?
- Cũng không sao cả! Tôi chỉ muốn nhấn mạnh trường hợp một vài người có đời sống buông lung, phóng dật; do đời sống buông lung, phóng dật nên thân tâm không yên; vì thân tâm không yên nên phải chuẩn bị cho thân tâm ấy một cách chu đáo như thế. Đấy là cá biệt. Còn đa phần, những người đã tập thiền lâu năm thì có thề ngồi đâu cũng được, không thời gian nào cũng được - và chỉ cần chấp tay, thầm niệm Phật ba lần cho thân tâm được thu thúc trang nghiêm lại - là đủ rồi! 

Và, có điều các bạn đừng quên, sau khi xả thiền - nên hồi hướng công đức đến cho chư thiên, thọ thần, phi nhân bao giờ họ cũng cư trú xung quanh chúng ta. Hồi hướng phước báu đến cho họ, họ sẽ hoan hỷ; và khi mà họ hoan hỷ thì cả không gian xung quanh đều được mát mẻ, yên ổn, an vui... Đừng nghĩ đấy là duy tâm, đừng nghĩ đấy là nương tựa tha lực! Nó là sự thật đấy! Sự thực trong đời sống toàn diện với mọi tương quan giữa ta và vạn hữu!

- Vâng! Phải vậy mới chí lý! Và cả chí tình nữa! Chúng tôi hoàn toàn hiểu trú xứ thích hợp rồi, thích hợp cho cả thiền định và thiền tuệ lúc tọa thiền. Còn trong sinh hoạt thường nhật nữa, thiền tập minh sát vipassanā nó như thế nào hả thầy?

- Từ từ đã! Dĩ nhiên, thiền tập minh sát vipassanā, ngoài tọa thiền ra, còn chú trọng nơi mọi oai nghi đi, đứng, ăn nói... của tất cả quý vị. Và dường như cái này quan trọng nhất: Thiền quán trong sinh hoạt thường nhật! Cái này thì còn nói dài dài, nhưng phải từng bước, từng bước một. 

Hôm nay ta có thể chấm dứt ngang đây là vừa phải lẽ! Buổi nói chuyện này chỉ để dành cho một số cư sĩ tập định sơ cơ, phải cần trú xứ thích hợp như vậy. Còn người tu minh sát tuệ lâu năm, đã thuần thục thì đối với họ, cái chợ đời ồn ào, huyên náo lại thuận hợp cho họ lắng nghe, chiêm nghiệm bài học giác ngộ.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/09/2022(Xem: 267)
Duyên khởi cho bài viết này là từ một bản tin BBC News có nhan đề “Thiền định chánh niệm có thể khiến con người xấu tính đi?”--- và từ một số cuộc nghiên cứu khác đã giúp chúng ta có cái nhìn đa diện hơn về Thiền chánh niệm, một pháp môn nhà Phật đang thịnh hành khắp thế giới. Trong khi Thiền chánh niệm (Mindfulness meditation) lợi ích nhiều vô tận, vẫn có một số bất lợi sinh khởi. Có phải là vì thế gian chưa làm cho phù hợp? Do vậy, người viết đã tìm đọc nhiều hơn, để nhìn lại vấn đề theo nhiều khía cạnh. Và rồi dò theo con đường xưa, Đức Phật đã dạy thiền như thế nào? Kinh điển rất mực mênh mông, bài viết này chỉ là tổng hợp một phần nhỏ, chủ yếu là trích dẫn những lời dạy thực dụng của Đức Phật. Đối với các sai sót có thể có, người viết xin được sám hối.
26/08/2022(Xem: 296)
Sai lầm lớn nhất của con người là cố chấp cái nhìn cục bộ của mình. Thực ra chân lý là pháp phổ biến, không dành riêng cho bất cứ ai. Mỗi người giác ngộ chân lý qua tầm nhìn của mình về chính mình và vạn pháp. Người có tầm nhìn lớn nhất là người thông suốt được tất cả tầm nhìn của nhân loại. Như đức Phật thấy được 62 tà kiến của thế gian. Đừng hiểu tà kiến là thấy sai, cái sai không phải ở thấy mà ở cố chấp cục bộ. Ví dụ như những người mù sờ voi, cho con voi là cái chân, cái bụng, cái lưng, cái ngà, cái đuôi, cái vòi, cái tai, con mắt
25/08/2022(Xem: 351)
Thiền tập CHÁNH NIỆM sẽ giúp cho chúng ta cảm nhận được sự an lạc trong từng giây phút của cuộc sống. Thiền cũng tăng sự tập trung, tăng kỹ năng nhớ, vượt qua áp lực căng thẳng trong đời sống hằng ngày… Thể theo nhiều yêu cầu của các bạn trong và ngoài nước, buổi họp ra mắt lớp Thiền Tập Chánh Niệm và Yoga sẽ được họp qua hệ thống ZOOM. Vào: * Ngày 24 tháng 09, 2022 lúc 6:30pm-8:00pm (Central time/Hoa Kỳ-Tối Thứ 7 tại Hoa Kỳ) *Nhằm ngày 25 tháng 09, 2022 lúc 6:30am-8:00am (sáng Chủ Nhật tại Việt Nam)
07/01/2022(Xem: 1812)
Chứng ngộ không phải là một kết luận mà người ta đạt được bằng suy luận; nó coi thường mọi xác định của trí năng. Những ai đã từng kinh nghiệm điều nầy đều không thể giải thích nó một cách mạch lạc và hợp lý. Một khi người ta cố tình giải thích nó bằng ngôn từ hay cử chỉ, thì nội dung của nó đã bị thương tổn ít nhiều. Vì thế, kẻ sơ cơ không thể vói tới nó bằng những cái hiển hiện bên ngoài, mà những ai đã kinh nghiệm qua một lần chứng ngộ thì thấy rõ ngay những gì thực sự không phải là nó. Kinh nghiệm chứng ngộ do đó luôn luôn mang đặc tính ‘bội lý,’ khó giải, khó truyền. Theo Thiền sư Đại Huệ thì Thiền như là một đống lửa cháy lớn; khi đến gần nhất định sém mặt. Lại nữa, nó như một lưỡi kiếm sắp rút ra khỏi vỏ; một khi rút ra thì nhất định có kẻ mất mạng. Nhưng nếu không rút ra khỏi vỏ, không đến gần lửa thì chẳng hơn gì một cục đá hay một khúc gỗ. Muốn đến nơi thì phải có một cá tính quả quyết và một tinh thần sung mãn. Ở đây chẳng có gợi lên một chút suy luận lạnh lùng hay phân biệt
12/12/2021(Xem: 1825)
Thế Tôn là bậc tuệ tri mọi pháp, bậc y vương, thầy của trời người trong tam giới. Vì thế, Đấng Thiện Thệ trong 45 năm thuyết pháp đã để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo, là những diệu dược tùy theo bệnh (tham sân si) của chúng sanh mà kê toa thích ứng nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, niết bàn. Riêng trong tạng Pali, ngoài tứ niệm xứ, minh sát tuệ, Thế Tôn từ mẫn với trí tuệ toàn giác (tuệ tri mọi pháp) đã 'có nhiều phác đồ điều trị khác nhau trên nền tảng của đạo đế: Bát Chánh Đạo' diệu dụng mà theo đó tùy theo căn cơ (tùy pháp, hành pháp), sẽ đến bờ giải thoát, hoặc bậc hữu học vv.
16/11/2021(Xem: 3763)
01. Niết-bàn 02. Vô minh 03. Giáo lý Vô thường 04. Không có ngã hay Không phải ngã 05. Pháp môn Không phải ngã 06. Định nghĩa của Niệm 07. Giáo dục lòng Từ Bi 08. Tin vào Trái Tim: Giáo lý về Saṁvega & Pasāda 09. Làm sao để hiểu tâm mình? 10. Hoà Giải, Phải & Trái 11. Gốc rễ của chủ nghĩa Lãng mạn Phật giáo * AFFIRMING THE TRUTHS OF THE HEART - BUDDHIST ESSAYS by Thanissaro Bhikkhu CONTENTS 01. The Image of Nirvāṇa 02. Ignorance 03. All About Change 04. No-self or Not-self? 05. The Not-self Strategy 06. Mindfulness Defined 07. Educating Compassion 08. Affirming the Truths of the Heart: The Buddhist Teachings on Saṁvega & Pasāda 09. How to Read Your Own Mind 10. Reconciliation, Right & Wrong 11. The Roots of Buddhist Romanticism
06/11/2021(Xem: 4342)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.
18/06/2021(Xem: 5045)
Tác phẩm này là tuyển tập 7 bài pháp thoại của tôi trong các khóa tu thiền Vipassanā tại chùa Giác Ngộ và một số nơi khác. Kinh văn chính yếu của tác phẩm này dựa vào kinh Tứ niệm xứ thuộc kinh Trung bộ và kinh Đại niệm xứ thuộc kinh Trường bộ vốn là 2 bản văn quan trọng nhất giới thiệu về thiền của đức Phật. Thiền quán hay thiền minh sát (Vipassanā bhāvanā) còn được gọi là thiền tuệ (vipassanāñāṇa). Giá trị của thiền quán là mang lại trí tuệ cho người thực tập thiền. Minh sát (vipassanā) là nhìn thẩm thấu bằng tâm, nhìn mọi sự vật một cách sâu sắc “như chúng đang là”, hạn chế tối đa sự can thiệp ý thức chủ quan vào sự vật được quan sát, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng trần cảnh. Khi các suy luận dù là diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích… thoát ra khỏi ý thức về chấp ngã chủ quan và chấp ngã khách quan, lúc đó ta có thể nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng. Cốt lõi của thiền quán là chính niệm trực tiếp (satimā) và tỉnh giác trực tiếp (sampajāno) với đối tượng
03/04/2021(Xem: 2766)
Trước khi vào nội dung bài viết ta nhắc lại một vài kiến thức của vật lý cấp 2 phổ thông cần thiết cho chủ đề này. Một vài thuật ngữ: Trọng tâm G của một vật: là điểm đặt của trọng lực P tác dụng lên vật đó (P được biểu thị bằng một mũi tên thẳng đứng có chiều hướng xuống dưới). Chân đế: là đa giác lồi nhỏ nhất chứa tất cả các điểm tiếp xúc giữa một vật với mặt phẳng đỡ nó. Chân đế là một hình phẳng, nó cũng có trọng tâm G1, với những hình đặc biệt như hình vuông thì trọng tâm của nó là giao điểm của 2 đường chéo, nếu là hình tam giác thì trọng tâm của nó là giao điểm của 3 đường trung tuyến.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,424,036