Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bản ngã là gốc của tà kiến và tham dục

23/11/201412:35(Xem: 4657)
Bản ngã là gốc của tà kiến và tham dục

lotus1

 

Theo giáo lý nhà Phật, thì con người là do 5 uẫn kết hợp lại mà thành, đó chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và nếu 5 uẫn này rời ra thì con người không còn nữa. Hay nói ngắn gọn hơn đó chính là Danh và Sắc. Là thân xác và tinh thần của con người chúng ta.

 

Nhưng riêng về tinh thần, chúng ta có thể nhận thấy có 3 phần khác nhau sau đây. Và chính 3 phần khác nhau của tinh thần này, nó sẽ tương ứng với 3 cái là: Tham dục, tà kiến và bản ngã của con người.

 

Thứ nhất, đó là “thế giới cảm giác” của 5 giác quan thuộc thân xác con người. Là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xác xúc chạm. Thứ hai là tinh thần bề mặt theo chiều rộng đó là ý thức (lý trí), và hoạt động của ý thức này thì được gọi là tư duy. Thứ ba là tinh thần chiều sâu bên trong, chính là tiềm thức (mạt na thức) và vô thức (a lại da thức), hai cái này được gọi chung là tâm lý của con người vậy.

 

Do đó “thế giới cảm giác” của 5 giác quan thuộc thân xác con người, cũng là một dạng tinh thần bề mặt không xác định được. Vì “cảm giác” nói chung là mông lung giả tạo, mỗi người mỗi khác nhau theo dân tộc, chủng tộc, địa phương mà có cảm nhận khác nhau. Nên chúng ta không cần xét về “thế giới cảm giác” này nhiều quá chỉ thêm rối mà vô ích thôi. Nhưng căn bản 5 giác quan này đều được điều khiển bằng ý thức, thuộc thần kinh trung ương của não người. Và nhờ đó mà con người mới vượt xa hơn được phần bản năng động vật của mình. Và 5 giác quan này chính là 5 tên lính gác 5 cửa thành của thân xác ở bên ngoài. Và từ đây sinh ra tánh tham dục của con người.

 

Còn ý thức là thuộc thần kinh trung ương của não người. Là sự nhận thức về chiều rộng của bề mặt thực tại. Là một cái cửa lớn để đi vào sâu trong tinh thần con người, được gọi là đại tướng quân ý thức. Vì ý thức có chức năng là luôn xác nhận thực tại, bằng hiện thực để chúng ta nhìn thấy cái hình thức bên ngoài của nó, sống động như thế nào. Do đó nhiệm vụ của ý thức là luôn chạy đuổi theo sự biến đổi vô thường của thực tại. Nhưng cuối cùng nó cũng thất bại, và nó không thể thấy được thực tại chính là vạn pháp vô ngã. Vì căn bản cái ý thức này của con người bình thường, là luôn nhìn ngắm thực tại bằng con mắt của bản ngã (hay còn gọi là hữu ngã). Và từ đây sẽ sinh ra tư duy tà kiến của con người chúng ta.

 

Và vấn đề thứ ba là tâm lý của con người. Và cũng chính trong phần tâm lý này, mà chúng ta tìm thấy những khái niệm, như là tâm hồn và linh hồn như thế nào.

 

Vậy tâm hồn là linh hồn của con người nằm ở đâu?

 

Câu trả lời rằng, tâm hồn con người là nằm ở tiềm thức. Vì những chiến thắng tinh thần ở tiềm thức là những hóa thành xinh đẹp, được gọi là cái đẹp mang tính nghệ thuật cao. Đó chính là thế giới siêu hình. Và những cái đẹp ở đây, đã xoa dịu đau khổ cho chúng ta rất nhiều. Và chính bởi những thắng lợi ảo tưởng lung linh xinh đẹp này, đã làm nên tâm hồn con người. Và tâm hồn con người tỏa hương ra và được lưu lại, thì được gọi là văn hóa.

 

Còn sâu trong vô thức thì lại được chia làm hai, là tâm linh và tâm thức. Tâm linh là tận cùng của các pháp tục đế, gọi là lý tưởng. Và tâm thức là tận cùng của các pháp chân đế, gọi là chân lý. Vậy các pháp tục đế cũng là tất cả các pháp hữu vi. Còn các pháp chân đế là tất cả các pháp vô vi. Và nếu đi về hướng tục đế hữu vi thì là sinh ra, là số nhiều của vạn pháp trong thực tại. Nhưng nếu đi về hướng chân đế vô vi, là sự triệt tiêu mất đi của các pháp, là số ít. Do đó nếu đi về hướng chân đế đến tận cùng, thì chúng ta thấy chỉ còn có một pháp vô vi duy nhất, là niết bàn tịch lặng mà thôi.

 

Vì thế tất cả các pháp hữu vi trong thực tại là số nhiều vô lượng vô biên, không thể đo đếm hết được. Và đó cũng chính là tất cả nghiệp chướng, mà chúng ta đã có trên cuộc đời này. Và nếu như có ai tu hành đạt đến niết bàn vô vi tịch diệt, thì mới diệt được hết nghiệp chướng vậy. Cho nên tất cả nghiệp chướng của con người, sẽ dồn lại một cục tại nơi tận cùng của tâm linh, thì được gọi là linh hồn. Và dĩ nhiên cái linh hồn này là vẫn còn thiện ác, và phải đi đâu thai trở lại rồi. Và khi chúng ta còn sống đây, mà nó “trổ” ra ngoài đời sống để nhìn thấy được, thì đó chính là nghiệp chướng mà chúng ta phải trả cho cuộc đời mình.

 

Cho nên cái nơi tận cùng của linh hồn con người, bao gồm tất cả các pháp hữu vi, cũng chính là nghiệp chướng của chúng ta đó. Và chính tại nơi đây sinh ra tất cả tai họa và đau khổ hay thành công của kiếp người. Đó chính là cái bản ngã của con người chúng ta.

 

Vì thế tâm hồn con người là để ước mơ, còn linh hồn là để đau khổ, vì nó luôn chạy theo cái ảo vọng của ước mơ mà. Và vì đau khổ nên phải cần có ước mơ, còn ước mơ là hy vọng được giải thoát khỏi đau khổ đó. Vậy nên nếu ai mà thành Phật là không còn tâm hồn và linh hồn nữa, nên Phật không có ước mơ và hy vọng gì ráo. Và thế là Phật không

còn đau khổ nữa.

 ban nga

 

Vì bản ngã là ở trong thì nó sẽ sanh ra ngoài là tà kiến. Còn vô ngã ở trong thì lại sanh ra chánh kiến ở ngoài. Và cái chánh kiến này là chánh kiến chân đế tối thượng. Ngược lại những người đi tu biết cách hành trì pháp vô ngã, nhưng chưa chứng pháp thì chỉ biết chánh kiến tục đế mà thôi. Đó chính là lý trí của chúng ta, chỉ dẫn cách đối nhân xử thế với mọi người cho được hài hòa cân bằng. Chứ thật ra những người này vẫn còn bản ngã, cho nên họ vẫn còn đau khổ như thường.

 

Và trong cuộc sống bình thường, con người muốn an ổn không bị tai họa nhiều, thì phải có chánh kiến tục đế thì mới được. Vì không có chánh kiến chân đế để chế phục tự tâm mình, thì bạn phải dùng ý thức để cân bằng đời sống bên ngoài. Nếu không, bạn sẽ khổ sở từ trong nội tâm ra đến bên ngoài đời sống luôn.

 

Và nếu cái bản ngã càng lớn thì chúng ta càng đau khổ nhiều…

 

Và đây chính là lời khai thị của Sư Ông Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam.  Đại ý rằng: “ Bản ngã chính là nơi sinh ra mọi đau khổ bên trong con người cá nhân, và tất cả tai họa cho xã hội loài người từ xưa đến nay”. Và khi chúng con biết được điều này, thì chúng con sanh tâm hoan hỷ vui mừng biết ơn Sư Ông khôn xiết…

 

Do đó chúng ta có thể hiểu rằng, nếu nghiệp chướng mà thu vào trong, thì đó chính là linh hồn, là cái bản ngã của chúng ta. Và từ cái bản ngã ở bên trong này mà “bung” ra ngoài, thì đó chính là tư duy tà kiến sai lầm khổ đau của con người.

 

Vậy chúng ta có thể kết luận rằng: “Bản ngã là gốc của tà kiến, còn tà kiến là gốc của tham dục, và tham dục là gốc của khổ đau hết trọn kiếp người”. Hay nói một cách ngắn gọn hơn, thì “bản ngã chính là gốc của tất cả khổ đau của con người trần gian”. Vì đó chính là giới hạn của con đường tục đế, mà tận cùng của nó chính là bản ngã, vậy thì con người làm sao không khổ đau cho được chứ.

 

Vì thế những người tu đốn ngộ, là họ đốn ngay vào cái gốc bản ngã này luôn, là xong hết 84 ngàn pháp môn trên đời. Là họ đi vào bản môn cái ào luôn, là giải thoát khỏi khổ đau, là gặp được hoàng đế chánh pháp, là được pháp vô vi niết bàn tịch lặng.

 

Trái lại những người tu tiệm ngộ, thì đi từ ngoài vào trong dần dần rất chậm. Là phòng hộ các căn, là chống lại tham dục, là thay đổi tư duy tà kiến sai lầm. Và cuối cùng là phá bỏ bản ngã, rồi kết thúc thì cũng được vào bản môn như ai. Nhưng con đường tu tiệm ngộ này là rất dài, rất xa và rất lâu. Vì thế chỉ tu trong một đời này thì không thể làm xong được đâu, mà hết ga bà già là tới cỏi trời thôi là hết. Tuy nhiên lý thuyết là như thế cho công bằng, nhưng sự thật thì chưa có ai tu tiệm ngộ chậm như rùa bò, mà đắc đạo thành Phật được cả. Hí hí!

 

Vì thành Phật chỉ ở tuổi trẻ dưới 40 tuổi, thì mới đủ sức mạnh và nổ lực tu tập để thành Phật được. Vì ở tuổi này, năng lực tâm sinh lý của con người còn mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chứ già quá rồi còn sức đâu mà tu để thành Phật được chứ.

 

Do đó chúng ta tu hành thì phải nắm ngay cái chính yếu, hợp với căn cơ của mình mà tu cho nhanh, đừng chạy lòng vòng phí sức uổng công. Chúng ta phải nhắm vào cái chính yếu, mà công phá thật mạnh vào nó, như đánh trận quân sự với giặc vậy. Vì khi bạn giác ngộ và phá bỏ bản ngã rồi, thì trí tuệ và từ bi của bạn sẽ phát sanh ngập tràn khắp sơn hà đại địa. Còn bạn cứ đi học lung tung khắp nơi đủ thứ sách vở cho nhiều, thì chỉ làm đầy thêm cái bản ngã sai lầm của bạn mà thôi. Và như vậy là bạn càng tu cho nhiều, thì càng cố chấp cho lớn hơn nữa. Vì mỗi ngày bạn cứ càng nạp thêm mãi, chứ có chịu bỏ bớt đi đâu, thì làm sao thấy cái gì được đây. Vì tu lâu hay mau là ở trong tâm, chứ không phải là hình tướng bên ngoài.

 

Vì trong 10 điều đại nguyện của đức Phổ Hiền Bồ Tát, thì chúng ta chỉ cần học và hành thành công 2 điều thôi thì cũng thành Tổ thành Phật rồi. Đó chính là điều đại nguyện thứ 4 và thứ 5 là: “Tứ giả sám hối nghiệp chướng. Ngũ giả tùy hỷ công đức”. Vì nếu chúng ta tu hành thành công 2 điều này, thì tự nhiên tuệ giác khai mở và sẽ biết hết tất cả các pháp…

 

Vì căn bản tư duy con người là tà kiến để bảo vệ cái bản ngã sai lầm của mình. Nên chúng ta luôn ganh tỵ đố kỵ với người nào may mắn tài giỏi hơn mình. Và từ đó cố chấp mãi vào cái tướng thấy giả hợp bên ngoài, của một ông thầy tu lâu năm cho khổ mãi. Vì tu là hiểu tới đâu là phải bỏ tới đó, và dĩ nhiên lúc đó sẽ có cái khác đắp vô thôi. Nhưng bạn tu mà không bỏ đi tý nào hết, thì làm sao hiểu được cái gì mới đây.

 

Vì tu là để trưởng thành chứ không phải để hơn thua.

 

Vì để tranh giành vươn lên trong xã hội, thì người ta ngước nhìn lên cao mà học tập phấn đấu. Và đó là con đường tạo nghiệp chướng nhiều thêm. Vì khi bạn nhìn lên cao, thì bạn sẽ nhìn thấy nhiều cái biểu tượng gần như là cao quý hơn cả con người. Đó chính là các hệ ý thức triết học tà kiến, mang tính lý tưởng cao đẹp tuyệt đối. Và chính những ảo tưởng này, nó càng làm lớn thêm cái bản ngã sai lầm của con người chúng ta. Và cũng chính nó đã làm thế giới này đảo điên mãi, trong tranh chấp diệt trừ lẫn nhau. Tuy nhiên bản Ngã chính là cội gốc của các pháp hữu vi. Cho nên chính bản ngã đã đưa con người từ khi còn ăn long ở lổ trong hang động, đi đến nền văn minh khoa học kỷ thuật siêu việt như ngày nay.

 

Còn bạn tu để trưởng thành như một con người có sự hiểu biết chân chính, thì bạn phải nhìn xuống thấp nơi những cái gần gũi là máu thịt của mình đi. Bạn nhìn xuống như dòng nước mắt của con người chảy xuống vì đau thương, bất công, loạn lạc, nghèo đói, điêu tàn và bất hạnh. Bạn nhìn xuống và lắng nghe trái tim mình rỉ máu và đau xót, như chính những con người kia vẫn còn thoi thóp bên lề sinh tử. Và vì cuộc sống đau khổ đó của nhân gian, cứ kéo dài mãi theo năm tháng trong mịt mù tăm tối…

 

Và khi bạn biết yêu thương con người, là khi bạn đã trưởng thành!

 

Vì con người có trí óc đánh giết nhau không phải là do nguyên nhân tham dục, mà là do tà kiến để bảo vệ cái bản ngã sai lầm của mình thôi. Và tại sao các kim tự tháp Ai Cập lại được xây dựng hùng vĩ như thế? Và tại nơi đó đã chôn vùi biết bao nhân mạng những con người nô lệ? Đó chính là để thỏa mãn cái bản ngã của những Pharaon mà thôi. Và tại sao Tần Thủy Hoàng Đế và Thành Cát Tư Hãn lại hung bạo như thế? Rồi Napoleon, Hitler, Stalin.vv. Rồi chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và các phong trào Hồi Giáo thánh chiến…Và tất cả những nỗi khổ đau kinh hoàng, mà những con người tàn bạo này đã gây ra cho nhân loại là bởi vì đâu? Đó chính là để thõa mãn cái bản ngã của chúng nó thôi, chứ đâu phải do tham dục.

 

Và nếu như bạn nhìn xuống thấp dưới chân mình, thì bạn sẽ nhìn ra sự thật rằng cuộc đời này là khổ đau như núi. Và nếu bạn dám chấp nhận giáp mặt với sự thật khổ đau đó, thì bạn sẽ biết yêu thương con người. Và điều này nó sẽ làm nên con người cao thượng danh giá của bạn. Vì nó khác với cái cách mà chúng ta thường chạy trốn trên cao, để ôm ấp những ảo tưởng xa vời lạnh lẽo trong tinh cầu cô đơn.

 

Do đó sống đời sống ngũ dục, mà không quá lạm dụng nó như nô lệ cho nó, thì chúng ta vẫn tu tập được như thường, vì nó là những nhu cầu tự nhiên của con người mà. Và điều này rất thích hợp cho những người tu tại gia ngày nay.

 

Ngày xưa Tổ Huệ Năng chưa đi tu mà đã giác ngộ thấy tánh không rồi. Sau đó Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao y bát cho Ngài và bảo Ngài đi đi. Và Ngài đi nhưng vẫn chưa có duyên để tu tập xuất trần trong chùa được. Và Ngài đi theo bọn người bẩy chim bắt cá trong suốt mười mấy năm sau đó nữa, thì hỏi làm sao nếu vì không có giới, mà sự ngộ đạo của Ngài mất hết hay sao. Do đó dục không phải là nguyên nhân gây đau khổ lớn nhất. Nhưng con người không bỏ dục thì đa số không thể đi vào đạo được, chỉ trừ những bậc thượng căn đốn ngộ một phát tới bản môn thôi. Vì thế tu hành nhất thiết là phải tránh ham mê ngũ dục thế gian, thì mới tu hành được, bằng không các tu sĩ này chỉ là mấy kẻ lừa đảo tín đồ rồi.

 

Và sự thật là con người sống không thể nào không có ước mơ được.

 

Và trong khi chúng ta luôn ước mơ, thì chúng ta cũng không ngừng nỗ lực biến ước mơ đó trở thành sự thật. Nhưng sự thật ở đây chỉ là sự thật tục đế. Đó chính là thành công của đời sống có ý thức của con người chúng ta, biết sống theo đạo lý gia phong và kỷ cương phép nước, cũng như biết lao động sáng tạo thành công. Và trong những vấn đề tục đế của đời sống, thì chúng ta phải công nhận rằng: Hình thức cuộc sống như danh lợi vật chất, tiếng tăm là mơ ước có thật của con người. Cho dù nó chính là nguyên nhân, tạo ra cái bản ngã khổ đau sai lầm của chúng ta đi nữa. Vì những điều gọi là “có thật” này cũng chính là nghiệp chướng hữu lậu mà.

 

Do đó nếu là một bậc Chân Nhân thứ thiệt, thì Ngài sẽ không cần những quyền lợi và trách nhiệm hữu sự của thế gian làm gì cho mệt. Vì đối với Ngài nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Vì Ngài sống ẩn danh, ẩn mật, vui thú trong cái cỏi riêng địa đàng của chính mình, thì hạnh phúc hơn. Vì Ngài không muốn gánh nghiệp chướng cho người khác. Vì dù sao thế giới này cũng nằm trong bàn tay Ngài mà có chạy khỏi đâu. Do đó Ngài vẫn có thể cứu thế giới, và làm được nhiều lợi ích cho con người là được rồi. Vì Ngài đã có hẹn với thế gian này, là một chuyến rong chơi nơi cuối trời phương ngoại...

 

Vì với cái nhìn chân đế, thì tất cả các pháp hữu vi đều là giả tạo. Có nghĩa là kiếp sống của con người ngắn ngũi như một giấc mơ, và danh lợi vật chất tiếng tăm đều không thật. Mà chỉ có chân lý niết bàn vô vi tịch diệt mới là sự thật. Nhưng rất tiếc nó lại là vô hình không thể nhìn thấy, sờ chạm và giảng nói được đối với tất cả chúng ta.

 

Do đó lý tưởng chỉ là một ảo tưởng xa vời trên cao không bao giờ có thật, nhưng người ta nói về nó biện chứng rất rõ ràng, cặn kẽ, logich như là nhìn thấy và nắm bắt được nó trong bàn tay mình vậy. Và khi tất cả chúng ta háo hức đi về hướng đó, với lòng tin thành thật rằng sẽ được lên thiên đàng. Nhưng thiên đàng ở đâu sao chúng ta đi mãi mà cứ thấy mình đi thụt lùi thế này. Nên chúng ta phải tự lừa dối mình, bằng những nhận thức sai lầm tiếp theo, trong cái ảo tưởng không có thật kia.

 

Ngược lại chân lý chính là cái có thật trên đời này, như không khí để mọi loài sinh vật hít thở vậy. Và nếu không có sự thật đó thì không thể có sự sống ở trần gian được. Nhưng chân lý lại nằm ngoài nhận thức của con ngươì trần gian. Vì lúc nào chúng ta cũng muốn nắm bắt không khí trong tay mình, như một vật thể cho bằng được. Cho nên chân lý mãi mãi là một thế giới khác đối với con người chúng ta, nhưng nó rất gần gũi mà chúng ta không biết đó thôi.

 

Và chính bởi hai điều mâu thuẫn và trái ngược này giữa lý tưởng và chân lý. Cho nên con người luôn sai lầm, trên con đường đi tìm hạnh phúc của mình mãi…

 

Do đó đối với người thường, thì tất cả chúng ta đều luôn sa lầy trong hai điều trái ngược đó. Vì tư duy nhị nguyên tà kiến của chúng ta, là lúc nào cũng tách bạch rõ ràng trên cái nền tảng là bản ngã của chính mình. Và khi cái bản ngã của chúng ta xác quyết về vấn đề gì đó là tuyệt đối rồi, thì sự tranh chấp trong đời sống xã hội lại càng lớn hơn. Và đó chính là sự đối đầu giữa những tên độc tài cầm quyền sinh sát trong tay với nhau. Và là sự đối cực giữa các hệ thống chính trị khác nhau. Cho nên chính nguyên nhân này, mà nó luôn đặt thế giới của chúng ta trong tình trạng sẳn sàng phải đi cấp cứu…

 

Vì thế nếu bản ngã chúng ta càng lớn, thì sẽ sinh ra tư duy tà kiến càng nặng. Vì bản ngã là cái gốc sinh ra tham vọng mù quáng của con người. Và cái này là một sai lầm rất lớn được gọi là ý chí, nếu như bạn hướng nó đi đến những mục đích hoang tưởng. Và do đó trong đời sống bình thường, chúng ta đã từng thấy những con người có sức chịu đựng thật khủng khiếp. Cũng như trong lịch sử đấu tranh của loài người, chúng ta đã từng chứng kiến những dân tộc nhỏ bé nghèo nàn thảm thương, nhưng sự chiến đấu dũng cảm của họ để bảo vệ quê hương mình là bất diệt trên đời.

 

Và dưới ánh sáng minh triết, thì chúng ta chấp nhận sự có mặt của bản ngã trong đời sống tục đế. Nhưng chúng ta phải đủ hiểu biết để thấy được giới hạn của các quy luật vận hành trong tự nhiên là như thế nào. Vì bản ngã của chúng ta luôn sai lầm, chẳng biết đâu là giới hạn sinh tử để dừng lại cả. Vì thế chúng ta phải biết cách hướng tham vọng của mình đi theo con đường tích cực. Và như vậy bản ngã đó sẽ sinh ra ý chí mạnh mẽ, để chúng ta xây dựng cuộc sống chung này tốt đẹp hơn.

 

Vậy nếu bạn có khả năng phá bỏ cái bản ngã của mình đi, thì bạn sẽ là vô ngã, và sẽ có chánh kiến chân đế, là giải thoát khổ đau. Và đó sẽ không là con đường chung cho tất cả mọi người trên thế gian này được. Cho nên chúng ta phải hiểu rõ bản ngã là gì, và không nên chạy trốn nó thì sẽ mất đi động lực phấn đấu của bản thân.

 

Vậy cái bản ngã của con người, chính là một cục nghiệp chướng to đùng. Là linh hồn tội lổi của chúng ta, là cái tôi đáng ghét, là nghiệp lực mù quáng, là ý chí tà kiến rất mạnh mẽ của Ma Vương.

 

……………………………………….

 

Khi biết bản ngã là nguồn gốc sinh ra đau khổ, thì ít nhất chúng ta phải dùng đến lý trí và tình thương để soi xét mọi việc cho ổn, thì chúng ta cũng có thể tìm thấy hạnh phúc.

 

Thích Hoằng Toàn.

14.11.2014


red_rose_100

TÌNH YÊU BẤT CHỢT.

Tự nhiên yêu hết mọi người.
Thanh thiên hào hứng mĩm cười lâng lâng.
Gần nhau thì cũng rất gần.
Xa nhau thì cũng mấy tầng trời cao.

Yêu đương mấy độ lao đao.
Hồng hồng tuyết tuyết cô nào cũng xinh.
Tôi đi cho hết cuộc tình.
Tự nhiên yếu hết điêu tinh cuộc đời.

Trời ơi cơn mộng thắm tươi.
Tràng giang chảy mãi nụ cười trên sông.
Lên thuyền đi đón gió đông.
Anh hùng hào kiệt phải dong buồm về.

Trời ơi tình khúc đê mê.
Sao kim sao thủy tái tê trên trời.
Trăng sao cứ sáng ngời ngời.
Đường ta đi tới tuyệt vời phiêu lưu.

Yêu thương cho suốt mùa thu.
Trong gương đập bóng hình thù truy hoan.
Cỏ non xanh khắp đại ngàn.
Kìa em gái nhỏ mơ màng ngủ say.

Ta về em ở lại đây.
Thanh thiên nhật nguyệt giang tay đón mừng.
Trần gian ôi khóc rưng rưng.
Tình trong như đã tưng bừng thấy thương..

 

Thích Hoằng Toàn.
14.11.2014.


 

 

Ý kiến bạn đọc
17/02/201515:37
Khách
Bản ngã là gốc của tà kiến và tham dục
Thưa thầy Thích Hoằng Toàn,

Theo như thầy nói thì "Cho nên chúng ta phải hiểu rõ bản ngã là gì, và không nên chạy trốn nó thì sẽ mất đi động lực phấn đấu của bản thân." Con vẫn chưa có khả năng hiểu được ý nghĩa câu nói này. Bởi vì khi con nhận thức được, cuộc sống là tạm bợ, được dựng nơi bởi duyên khởi: có tức thị không, không tức thị có. Cuộc sống này cũng phần nào được dựng lên trong sự tưởng tượng của con người, tức không thực. Đúng như thầy nói, đôi khi con không còn có động lực để phấn đấu nữa. Như vậy ý thầy nói, chúng ta vẫn phải phấn đấu, nhưng phấn đấu cho mục tiêu nào? Con luôn nhớ lời Đức Phật bảo, thời khắc hiện tại là điều quý giá nhất. Nên con chỉ biết cố gắng sống và tận hưởng theo cách Ngài nói, nhưng thật sự, không dễ tí nào, làm sao mình có thể cảm nhận được sự thích thú, đẹp đẽ từ những điều bình thường nhất ở mỗi thời khắc mà không thấy sự nhàm chán. Nhưng đuổi theo tương lai thì lại không thật. Con vẫn theo kế hoạch làm việc và cố gắng hoàn thành, nhưng con không còn đặt vấn đề ở chỗ "mong muốn" và "được mất" nữa. Theo như Đức Phật chỉ bảo "đi chỉ để đi" chứ không phải để đến.
Bên cạnh đó, trong sơ đồ của Thầy, con cảm nhận được khá rõ ranh giới của hai thái cực trong ý thức, vô thức và tiềm thức. Nhưng thật sự không định được đâu là tâm linh và tâm thức. Có thể ở ý thức và vô thức con có thể cảm nhận rõ hơn. Như vậy, trong con lúc nào nó cũng bị mâu thuẫn giữa tâm linh và tâm thức, dẫn đến sự mâu thuẫn trong ý thức giữa đúng và sai. Con luôn cảm giác, con đang cố gắng để đạt được trạng thái thăng bằng mà Đức Phật miêu tả về thới giới niết bàn: trạng thái mặt hồ nước phẳng không giao động. Nhưng con biết, đó là cả một quá trình tu tập, đôi khi con không lý giải được cảm xúc của mình xuất phát từ đâu, và định nó vào phạm vi nào trong sơ đồ của Thầy. Thầy có thể giải thích rõ cho con hơn? Câu hỏi của con khá mơ hồ, vì con cũng chưa hiểu rõ.

Kính thầy làm sáng tỏ giúp con,
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/09/201818:42(Xem: 341)
Tu Tứ Đế Pháp, Bốn Chân Lý Chắc Thật, Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi Chứng Đạo dẹp tan sự quấy nhiễu của ma quân ở cõi Trời Tha hóa thứ sáu vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 2 năm Tân-Mùi. Việt lịch Năm 2256 HBK*. Tr.BC.596. Sau Thời Hoa Nghiêm Phật đến vườn Lộc Dã Uyển truyền dạy Bốn Pháp Tứ-Đế, độ cho năm vị từng theo Phật cùng tu thuở trước, thành bậc Tỳ Khưu đắc đạo. Năm vị đó là: 1/. A Nhã Kiều Trần Như, 2/. A-Thấp Bà, (Mã-thắng) , 3/ .Bạt-Đề, 4/. Ma-Ha-Nam, 5/. Thập-Lực-Ca-Diếp. Năm Vị nghe pháp Tứ Đế rồi, tu tập chứng A La Hớn Quả. Tứ Đế Pháp: 1. Khổ Đế. 2. Tập Đế. 3. Diệt Đế. 4. Đạo Đế. -Khổ Đế, là Ác quả của Tập Đế. -Tập Đế, là tạo Nhân xấu của Khổ Đế. -Diệt Đế, là Thiện quả của Đạo đế. -Đạo Đế, là Nhân tu của Diệt Đế.
14/08/201811:43(Xem: 440)
Kinh Vị Tằng Hữu của Bắc tông và Tăng Chi Bộ Kinhcủa Nam Tông đều có ghi rằng trong cuộc đời của một vị Phật CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC có 4 lần sự kiện vi diệu này xảy ra. Mỗi lần như thế, có một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất hạnh không có nền tảng, tối tăm u ám, mà tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây".
13/08/201807:26(Xem: 420)
Các Phân Khoa Phật Giáo Thích Thái Hòa Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu. Trong Phật giáo có năm phân khoa như sau: 1/ Phật giáo Đại chúng Thời Phật, xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn giai cấp, gồm: - Bà-la-môn (Brāhmaṇa): Giai cấp Tăng lữ, giai cấp học giả của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Họ tự nhận sinh ra từ miệng Phạm-thiên. Giai cấp này làm mai mối giữa thần linh với con người. Họ có sáu quyền hạn: Tự ý làm đền thờ trời; làm thầy tế để tế trời; tự ý đọc Phệ đà (veda); dạy người khác đọc Phệ đà (veda); tự bố thí và tự nhận sự bố thí.
23/05/201819:45(Xem: 458)
Bài viết này để trả lời một vài câu hỏi nhận được gần đây. Nếu giúp được một số độc giả, xin hồi hướng công đức từ bài viết để Phật pháp trường tồn. Trường hợp các câu trả lời bất toàn hay sơ sót, người viết, với vốn học và vốn tu đều kém cỏi, xin lắng nghe quý tôn đức chỉ dạy thêm.
10/03/201807:13(Xem: 630)
To give the briefest conclusion that I can think of to the question- 'Do you think that sectarian diversity affects the stability of Buddhism as a whole?', I would have to say, 'Yes' and 'No'. My intention here is not to give a definitive answer, but to give readers 'food for thought', to enable each of us to be responsible and maintain pure intentions, to think for ourselves and develop genuine wisdom and compassion. In the spirit of the Dharma, rather than dwelling on any possible problems, we should mainly focus on solutions to any such problems. With the hope of maintaining the integrity and purity of Buddhism in this world.
03/02/201820:02(Xem: 936)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 1408)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/201713:37(Xem: 1167)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
19/11/201705:55(Xem: 683)
Tình, Tưởng. Cả hai đều thuộc về phạm trù của Tâm con người, không có ở trong các loài súc sinh, mặc dù súc sinh có cái biết bằng Giác (giác hồn, sinh hồn) nhưng, không tinh khôn bằng loài người, do Phật tánh bị chìm sâu bởi thú tính cao vời. Chỉ có loài người, Phật tánh được hiện hữu ở ba cấp thượng, trung, hạ, cho nên loài người là linh vật, chúa tể của muôn loài có khả năng dời núi, lấp sông do bởi cái tâm có tánh giác tinh anh Phật, Bồ Tát, Thánh, Phàm. Nói khác hơn, con người chỉ có một tâm nhưng, nó tự chia ra hai phần : Chủ tể và phụ tể. Nói theo Duy Thức Học; là Tâm vương, Tâm sở. Vai trò của Tâm vương là chủ động tạo tác ra vô số lời nói, hành động thiện, ác. Vai trò Tâm sở là duy trì, bảo vệ những thành quả (sở hữu) mà cũng chính nó tức tâm vương đã sáng tạo ra. Nghĩa là cái Tâm con người, nó vừa tạo tác ra các nghiệp, lại vừa đóng vai
19/11/201705:54(Xem: 613)
Con người trong mọi giới ngoài xã hội hiện nay tại các nước có Phật Giáo như Việt Nam, đến chùa xin Quy Y Tam Bảo được thấy rõ, là một tryền thống do con người tự chọn cho mình con đường giải thoát giống như ngày xưa lúc Phật còn tại thế, do tự nhận thức : Đạo Phật là con đường giải thoát, chứ Đức Phật từ ngàn xưa và chư Tăng rại các nước trên thế giới có Phật Giáo hiện hữu hôm nay, không khuyên mọi người phải và nên Quy Y Tam Bảo. Bởi vì đạo Phật, là đạo tự giác, tức là để cho con người tự do tìm hiểu giáo lý Phật. Sau đó thấy được đạo Phật là con đường giải thoát sinh tử khổ đau thực sự mà phương tiện là giáo lý, qua quá trình tự tu, tự giác ngộ, thì mới phát nguyện xin quy y Tam Bảo. Qua đây cho ta thấy đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi, bang phước giáng họa cho bất cứ ai.