01. Tiểu Sử HT Thích Trí Tịnh

28/03/201418:14(Xem: 16489)
01. Tiểu Sử HT Thích Trí Tịnh

Tiểu sử
Hoà Thượng Thích Trí Tịnh

Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-l0-1917), tại làng Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Thân phụ là Ông Nguyễn văn Cân và Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Truyện. Cụ Ông qua đời lúc H.T lên ba, Cụ Bà cũng theo Ông lúc Ngài vừa lên bảy.

Hòa Thượng có sáu anh chị em, HT là người con thứ bảy trong gia đình. Hòa Thượng vốn sinh trong một gia đình trung nông, phúc hậu nhơn từ, có nề nếp đạo đức vững chắc và kính tin Tam Bảo. Hòa Thượng mồ côi cả cha lẫn mẹ. Khi lên 7 tuổi, chỉ sống với người anh thứ ba là ông Nguyễn Văn Đặng và đi học lên đến lớp 7. Lúc lên 15 tuổi Ngài nghỉ học sang học chữ Nho với Cậu và học thuốc với ngư­ời anh.

II- THỜI GIAN HỌC ĐẠO:

Nhờ đã gieo căn lành từ nhiều kiếp, sớm giác ngộ đời là huyễn, thế sự phù du, nên sau một thời gian đi chiêm bái khắp chốn Thiền môn trong Tỉnh đều không hài lòng. Sau đó mới tìm lên núi Cấm, vì nghĩ ở đó sẽ có các bậc chơn tu. Hòa Thư­ợng bèn tìm lên núi, lần lượt đến chùa Vạn Linh cầu xin xuất gia. Hòa Thượng trụ trì ở dây Pháp húy là Hồng Xứng. Khi vừa trông thấy, Tổ liền ấn chứng “Các ông đừng khinh ông nầy, vì đời trước ổng đã từng làm Hòa Thượng, nhưng có tội hay nhìn con gái, nên nay bị bịnh con mắt suốt đời”. Sau khi được Tổ cho phép xuất gia, ban cho Pháp danh Thiện Chánh, hiệu Hân Tịnh, húy Nhật Bình, tiếp nối dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.

Sau khi xuất gia, Hòa Thượng chuyên lo niệm Phật tịnh tu, được một thời gian Hòa Thượng xin đi tham học với chư­ sơn Thiền đức trong Tỉnh, và nghiên cứu những tài liệu về Phật Pháp in trong tập chí Từ Bi Âm, do Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học Chùa Linh Sơn, Saigon ấn hành, rồi đi ra miền Trung tham học ở Chùa Liên Tôn, Bình Định.

Năm 1936, Hòa Thượng ra Huế gặp quý Hòa Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa vừa mãn khóa ở Chùa Tây Thiên do Hòa Thư­ợng Giác Nhiên, là Tăng Thống thứ hai GHPGVNTN làm trụ trì, và Hòa Thượng Thiền Tôn làm Giám Đốc. Khi Hòa Thượng được vào học thì lớp nầy đang học năm thứ sáu Sơ cấp, Hòa Thượng tiếp tục học lên Trung cấp và học lớp Cao Đẳng tại Phật Đường Báo Quốc do Ngài Tường Vân làm Giám Đốc, Hòa Thượng Trí Độ làm Đốc Giáo.

Năm 1941, Hòa Thượng thọ Sa Di giới tại Chùa Quốc Ân và được Sư cụ Trí Độ cho pháp tự là Trí Tịnh.

Năm 1945, mãn Khóa Cao Đẳng Phật Học, lúc đó tình hình chiến cuộc leo thang, vật giá khó khăn. Lớp học dời về Tòng Lâm Kim Sơn, sau vì nạn đói ở Huế cũng nh­ư ở Miền Bắc, trường không thể duy trì được, nên Ban Giám Đốc cũng như­ Hội An Nam Phật Học quyết định giao trách nhiệm cho Hòa Thượng hướng dẫn một số chư Tăng vào Nam để tiếp tục mở tr­ường cho chư­ Tăng tu học.


HTTriTinh1

III. THỜI GIAN HÀNH ĐẠO:

Khi về đến miền Nam, số học Tăng nầy tạm ở Chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho, còn Hòa Thượng Thiện Hoa và Trí Quang đi Lưỡng Xuyên lo sắp xếp trư­ờng ốc, Riêng Hòa Thư­ợng về Chùa Kim Huê ở Sa Đéc tịnh tu một thời gian.

Cách Mạng tháng 8 năm 1945 phát động, Tr­ường Phật học Lưỡng Xuyên bị phân tán, Hòa Thư­ợng hợp tác với Hòa Thượng Thiện Hoa dời về Trà Ôn lập Phật Học Đường Phật Quang thuộc Tỉnh Cần Thơ, do Hòa Thượng Thiện Hoa làm Giám Đốc, còn Hòa Thượng làm Đốc Giáo kiêm Giáo Thọ.

Để viên mãn Tam Đàn cụ Túc, năm 1945 Hòa Th­ượng đ­ược đăng đàn thọ giới Tỳ Kheo Bồ tát tại Chùa Vạn An, Sa Đéc do Hòa Thượng Kim Huê làm Đàn đầu Hòa Thư­ợng.

Năm 1946, khi tình hình chiến tranh Việt Pháp leo thang lớp học bị dao động trầm trọng, một số chư Tăng đã theo tiếng gọi của non sông, cởi áo Cà sa khoác chiến bào, tham gia kháng chiến chống Pháp. Do đó, Hòa Thư­ợng không thể giảng dạy được, nên Ngài quyết định dời về Saigon và lập Phật Học Đư­ờng Liên Hải tại Chùa Vạn Phư­ớc, xã Bình Tri Đông, huyện Hư­ng Long Thượng tỉnh Chợ Lớn. Do Hòa Th­ượng làm Giám Đốc, Hòa Th­ượng Huyền Dung làm Đốc Giáo. Năm 1949 nơi đây Hòa Th­ượng Bửu Huệ và Quảng Liên đư­ợc Thọ Đại Giới do Hòa Thư­ợng Trí Tịnh tổ chức Đại Giới Đàn nầy. Thầy Minh Cảnh cũng xuất gia ở đây.

Năm 1950, khi Hòa Thư­ợng Thiện Hòa, sau một thời gian du phương học đạo, từ Bắc trở về Nam, Hòa Thư­ợng đã kết hợp ba trường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành một gọi là Phật Học Đường Nam Việt đặt tại Chùa Sùng Đức.

Năm 1951, dời về Chùa Ứng Quang do Hòa Thư­ợng Trí Hữu cúng và đổi tên là Chùa Ấn Quang, do Hòa Th­ượng làm Giám Đốc và cũng là Thành phần trong Ban Giảng huấn, giảng dạy cho lớp Cao Đẳng Phật Học từ năm 1951-l954. Cũng trong năm nầy, Hội Chùa Linh Sơn thỉnh Hòa Thư­ợng làm trụ trì và giao toàn quyền quản lý.

Năm 1952, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt đ­ược thành lập tại Saigon, Hòa Thư­ợng đ­ược giữ chức Tr­ưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Giám luật, kiêm Ủy viên phiên dịch Tam tạng, và Phó Trị Sự Trư­ởng.

Năm 1953, Hòa Thư­ợng đích thân và sáng kiến thành lập Cực Lạc Liên Hữu do Ngài làm Liên Trư­ởng, Thư­ợng Tọa Huệ Hư­ng làm Liên phó tại Chùa Liên Trì , Tỉnh Ph­ước Tuy (Bà Rịa)

Năm 1954, Hòa Thư­ợng khởi công xây dựng Chùa Vạn Đức với một quy mô lớn. Đến năm 2004 Hòa Th­ượng cho xây lại theo mô hình mới.

Năm 1955, với chí nguyện hoằng d­ương Tịnh Độ, Hòa Thư­ợng lại thành lập Cực Lạc Liên hữu khuyên ng­ười niệm Phật cầu nguyện vãng sanh, tại Chùa Vạn Đức.

Năm 1957, Hòa Thư­ợng đư­ợc Đại Hội Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cử làm Trị sự Phó và kiêm Trưởng Ban Giáo dục GHTGNV. Đồng thời hợp tác với Hòa Th­ượng Thiện Hòa, HT Thiện Hoa mở các Khóa Như­ Lai Sứ Giả tại Chùa Pháp Hội, Chùa Tuyền Lâm, Chùa D­ược S­ư...để đào tạo cán bộ, Trụ trì và Giảng S­ư cho Giáo Hội.

Năm 1959, trong Đại Hội Giáo Hội Tăng Già toàn quốc kỳ II, ngày 02 tháng 10 PL 2502 Kỷ Hợi (11-9-1959 ) tại Chùa Ấn Quang. Hòa Th­ượng được Đại Hội suy cử làm Trị Sự Phó Giáo Hội Tăng Già toàn quốc.

Năm 1962, Hòa Th­ượng đư­ợc GHTGTP cử làm Phó Viện Trư­ởng Phật Học Viện Trung phần Nha Trang, thay cho Hòa Thư­ợng Trí Quang vì bận Phật sự ở Saigon.

Năm 1964, Hòa Th­ượng làm tr­ưởng đoàn Đại biểu GHTGNV tham dự Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam, đư­ợc tổ chức tại Chùa Xá Lợi trong những ngày 30,31 tháng 12/1963 và 01/01/1964, để thành lập GHPGLVNTN và trong Đại Hội này, Hòa Thư­ợng đ­ược cử làm TV trưởng Tổng vụ Tăng sự

Năm 1968-1971 Hòa Thượng làm Ban Giảng Huấn Phật Học Viện Huệ Nghiêm, và dạy cho lớp nầy 3 năm. Năm 1970, Hòa Thư­ợng được Hòa Thư­ợng Minh Châu mời làm khoa trư­ởng Phân Khoa Phật Học, thuộc Đại Học Vạn Hạnh đến năm 1975.

Năm l971, sau khi Giáo Hội thành lập Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Hòa Th­ượng đ­ược cử làm Viện Tr­ưởng từ năm 1971 đến năm 1991.

Năm 1973, trong phiên họp Hội Đồng Giáo Phẩm Trung ­ương kỳ IV Hòa Thư­ợng đ­ược cử làm Thành viên Hội Đồng giáo phẩm Trung ư­ơng và Phó Viện Tr­ưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

Ngày 05/07/1973, Hòa Th­ượng đ­ược cử làm Chủ Tịch Hội Đồng phiên dịch Tam tạng thuộc Viện Tăng Thống GHPGVNTN.

Năm l974 Ngài đư­ợc Hòa Thư­ợng Thiện Hòa cử làm Cố vấn Hội Đồng quản trị Tổ Đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc .

Năm 1975, Hòa Th­ượng đư­ợc Hội Đồng Giáo Phẩm Trung ư­ơng cử làm Tr­ưởng ban kiến thiết Pháp Bảo Viện tại xã Linh Xuân Thôn, Thủ Đức Gia Định.

Năm 1980, đầu Xuân Canh Thân sau khi đất nư­ớc hoàn toàn độc lập, tất cả mọi sự sinh hoạt, từ phư­ơng diện kinh tế, chính trị, xã hội đều thống nhứt trong phạm vi cả nư­ớc. Do đó, trong phiên họp hội thảo của Chư­ tôn Hòa Th­ượng, Th­ượng Tọa, Đại Đức, Cư­ sĩ của các tổ chức Giáo Hội thuộc hệ phái Phật Giáo để thảo luận ch­ương trình thống nhất Phật Giáo. Kết quả một Ban vận động Thống Nhất Phật Giáo ra đời do Hòa Thư­ợng Trí Thủ làm Tr­ưởng Ban và Hòa Th­ượng làm Phó Trưởng ban vận động, kiêm Tr­ưởng Tiểu Ban Nội dung.

Trong Đại Hội Đại Biểu Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam, đư­ợc tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 04- 07/11/1981 Hòa Th­ượng được suy tôn làm thành viên Hội Đồng Chứng Minh và Phó Chủ Tịch thường trực Hội Đồng Trị Sự Trung ương GHPGVN, kiêm Tr­ưởng Ban Tăng Sự Trung ­Ương.

Năm 1982, trong Đại Hội Đại Biểu Phật Giáo SG, nhiệm kỳ I, Hòa Thư­ợng đ­ược cử làm Trưởng Ban Tri Sự Saigon đến năm 1987.

Năm 1984, sau khi Hòa Thư­ợng Trí Thủ, Chủ Tịch Hội Đồng trị sự Trung ­ương GHPGVN viên tịch vào ngày 01 tháng 3 năm Giáp Tý PL. 2527 ( 4/1984 ), Hòa Thư­ợng đ­ược cử làm Quyền Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Trung ư­ơng, Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ II và những nhiệm kỳ tiếp theo .

Tại Đại Hội kỳ III- 1992, Hòa Th­ượng đ­ược Đại Hội suy tôn lên ngôi vị Phó Pháp Chủ kiêm Giám Luật Hội Đồng Chứng Minh GHPGVN.

IV. THỜI GIAN TRUYỀN GIÁO:

Năm 1960, 1961, 1962, Hòa Thư­ợng làm Giới Luật S­ư trong các Giới Đàn, tổ chức tại Ấn Quang, Pháp Hội ...để truyền trao Giới Pháp cho chư­ Tăng.

Năm 1964 Hòa Thư­ợng làm Tuyên Luật sư­ trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Việt Nam Quốc Tự - Saigon

Năm 1965, Hòa Thư­ợng làm Yết ma trong Giới đàn Sa di, được tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm - Gia Định và Tuyên Luật sư­ Đại Giới đàn Từ Hiếu - Thừa Thiên Huế.

Năm 1966, Hòa Thư­ợng làm Tuyên Luật sư­ trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm- Gia Định ...

Năm l968, Hòa Th­ượng làm Giáo Thọ A Xà Lê-Đại giới đàn Hải Đức - Nha Trang.

Năm 1969, Hòa Th­ượng làm Tuyên Luật s­ư trong Đại Giới đàn Quảng Đức II, tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm - Gia Định.

Năm 1984 đến năm 2002 Hòa Thư­ợng đ­ựợc cử làm Hòa Th­ượng Đàn Đầu, Đại Giới Đàn đầu tiên và những Đại giới Đàn tiếp theo của Thành Hội Phật Giáo đư­ợc tổ chức tại Chùa Ấn Quang.


Về việc phiên dịch:

1. Kinh Pháp Hoa (xem Kinh này)

2. Kinh Hoa Nghiêm (xem Kinh này)

3. Kinh Đại Bát Niết Bàn

4. Kinh Đại Bát Nhã

5. Kinh Đại Bảo Tích

6. Kinh Phế Hiền Hạnh nguyện

7. Kinh Địa Tạng

8. Kinh Tam Bảo

9. Kinh Pháp Hoa cư­ơng yếu Tóm tắt

10. Kinh Pháp Hoa Thông Nghĩa Tóm tắt

11. Luật Tỳ kheo giới bổn

12. Luật Bồ tát giới bổn

13. Đ­ường về Cực Lạc

14. Cực Lạc liên huân tập

15. Ngộ Tánh luận

16. Pháp Hoa cư­ơng yếu

17. Kinh A Di Đà
18. Kinh Quán Phật Vô Lượng Thọ
19. Kinh Vô Lượng Thọ Phật .


Về mặt xây dựng:

Năm 1997, Hòa Th­ượng khởi công xây dựng lại Chùa Vạn Linh và Tháp Tể Hồng Xửng- Núi Cấm, Huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang.

Năm 2000, với tư­ cách Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự GHPGVN. Hòa Thư­ợng đã ký quyết định v/v thông qua dự án và bổ nhiệm ban trùng tu cơ sở văn Phòng 2 Trung ­ương Giáo Hội Thiền Viện Quảng Đức, Q.3, Sàigòn. Năm 200, Hòa Thư­ợng trùng tu lại Giảng đường Chùa Vạn Đức, Phật Đài Quan Âm, Th­ư viện, Thiền thất, phòng sách v.v...

Năm 2004, Hòa Thư­ợng khởi công xây dựng lại Chánh Điện, nhà Tổ chùa Vạn Đức với qui mô lớn, trang nghiêm tú lệ đã thành tựu viên mãn, xứng đáng là cơ sở Giáo Hội tại địa phương.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/04/2026(Xem: 490)
KÍNH MỪNG KHÁNH TUỆ ĐẠI THỌ SƯ ÔNG CHƠN ĐIỀN TRÒN 100 TUỔI Bài viết của TT Thích Nguyên Tạng Do Phật tử Diệu Trí diễn đọc Qua điện thoại viễn liên với Hòa Thượng Thích Như Điển vào trưa nay từ Dallas, Hoa Kỳ, Ngài hoan hỷ cho biết trong tuần tới phái đoàn hoằng pháp Âu Mỹ sẽ quang lâm Houston thuyết giảng. Nhân dịp này, Ngài cũng sẽ tổ chức lễ mừng Khánh tuế Đại thọ 100 tuổi của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Điền, bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam, hiện đang an nhiên tĩnh dưỡng tại Tu Viện Phước Đức do Thượng tọa Thích Trí Hiền trụ trì. Nghe tin ấy, lòng con không khỏi bồi hồi xúc động. Giữa dòng chảy vô thường của thời gian, một bậc tôn túc đã viên mãn tròn một thế kỷ hiện hữu nơi cõi Ta-bà. Một trăm năm, không chỉ là độ dài của đời người, mà là chiều sâu của đạo hạnh, là sự tích lũy của trí tuệ, là hành trình không ngừng nghỉ của tâm nguyện hoằng pháp lợi sinh. Đó thật sự là một nhân duyên hy hữu, một phước báu lớn lao cho hàng hậu học chúng con còn được thấy, được n
22/04/2026(Xem: 194)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm Ất Hợi (1875) tại châu Kim Bồng, tổng Mỹ Khê, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay thuộc thôn Đông Hà, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Thái, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Trữ. Năm 12 tuổi Ngài xuất gia với Hòa thượng Chương Đạo Quảng Viên tại tổ đình Chúc Thánh, Hội An. Năm Quý Tỵ (1893), Ngài được Bổn sư cho thọ giới Tỳ-kheo tại chùa Chúc Thánh do Hòa thượng Ấn Thanh Chí Thành làm Đàn đầu. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài về nhập chúng tu học tại chùa Phước Lâm, cầu pháp với tổ Ấn Bổn Vĩnh Gia nên có hiệu Phổ Thoại. Năm Kỷ Dậu (1909), Ngài lập thảo am Long Tuyền tại ấp Hậu Xá, xã Thanh Hà, tổng Phú Triêm Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là phường Thanh Hà, TP.Hội An). Từ đó, Ngài lần lần xây dựng Long Tuyền thành một ngôi Phạm vũ nguy nga và được triều đình nhà Nguyễn ban sắc tứ vào năm Quý Dậu (1933), niên hiệu Bảo Đại thứ 8. Năm Tân Dậu (1921), Ngài đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư S
21/04/2026(Xem: 392)
CHÙA QUAN ÂM Thành phố Houston, tiểu bang Texas Khác với những ngôi tự viện rộng rãi quy mô tại tiểu bang Texas, chùa Quan Âm giống như một ngôi nhà nhỏ ẩn mình sau những tán cây đại thọ. Chùa tọa lạc tại số 8016 Barkley St, thành phố Houston, tiểu bang Texas do Hòa thượng Thích Chơn Điền sáng lập vào những thập niên 80 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay, chùa đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhất là công đức của đức trưởng lão hòa thượng đối với các thế hệ tăng ni và đồng bào Phật tử. Hòa thượng thế danh Hoàng Hữu Hạnh, sinh ngày 16 tháng 10 năm Đinh Mão (1927) tại huyện Kiến An, tỉnh Hải Phòng. Thân phụ là cụ ông Hoàng Đình Sơ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lai. Ngài con nhà địa chủ nhưng tham gia vào Vệ quốc đoàn để bảo vệ tổ quốc trong cuộc chiến tranh kháng Pháp. Năm 1950, ngài xuất gia với hòa thượng Ân Nghiêm - Phó Thoại tại tổ đình Long Tuyền, Hội An. Sau đó, ngài được bổn sư truyền thọ giới sa-di ban cho pháp danh Chơn Điền, tự Đạo
21/04/2026(Xem: 290)
Hòa thượng Thích Hộ Giác, thế danh là Ngô Bửu Đạt, sinh năm 1928, tại Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp, thân phụ ngài là cụ ông Ngô Bảo Hộ (tức cố Đại lão Hòa thượng Thiện Luật. Đệ nhất Cao tăng Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam), thân mẫu ngài là cụ bà Lưu Kim Phùng. Ngài sinh trưởng trong một gia đình thương nhân, gồm có hai chị em – bào tỷ là cố tu nữ Diệu Đính (thế danh Lưu Kim Đính). Do phương kế làm ăn sinh sống, cả gia đình ngài sang nước bạn Campuchia lập nghiệp tại tỉnh Praey-veng (tức Lò veng hay làng Hoa Mỹ theo cánh gọi của công đồng người Việt trú tại nơi đó). Năm 1934, sau khi thân mẫu qua đời, thân phụ ngài gởi trưởng nữ là Lưu Kim Đính cho người em gái (cụ bà Ngô Thị Dần) nuôi dưỡng và dẫn ngài cùng đến chùa Prek-Reng (Cần Ché) xuất gia tu học, thân phụ ngài xuất gia thọ giới Sa di được pháp danh là Thiện Luật, còn ngài lúc ấy được 5 tuổi, xuất gia làm giới tử học tập kinh luật.
20/04/2026(Xem: 542)
Mùa đông năm nay, giữa tiết trời se lạnh của nước Úc, chư tôn đức Tăng Ni từ khắp các tiểu bang lại một lần nữa vân tập về Tổ Đình Pháp Hoa, Adelaide, Nam Úc, không chỉ để tham dự khóa An cư Kiết đông, mà còn cùng nhau thành kính tưởng niệm 10 năm ngày viên tịch của Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ (2016–2026), nguyên Hội Chủ và Chứng Minh Đạo Sư Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Đây là cuộc hội tụ thấm đượm đạo tình, nơi những bước chân trở về không chỉ mang ý nghĩa của truyền thống tu học thanh tịnh, mà còn là sự trở về trong tâm niệm tri ân và tiếp nối, tiếp nối chí nguyện hoằng pháp, tiếp nối hạnh nguyện phụng sự của một bậc long tượng đã trọn đời dâng hiến cho Đạo pháp và dân tộc, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại.
18/04/2026(Xem: 942)
ÔN TRÍ THỦ SỰ THỂ HIỆN TINH THẦN PHÁP HOA KINH VÀ HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN TRONG CUỘC ĐỜI HÀNH ĐẠO Trong dòng chảy hơn hai nghìn năm của Phật giáo Việt Nam, có những bậc long tượng mà cuộc đời không chỉ ghi dấu trong lịch sử, mà còn trở thành sự thể hiện sống động của giáo lý Đại thừa trong đời sống thực tiễn. Hòa thượng Thích Trí Thủ, Ôn Già Lam, chính là một trong những bậc cao tăng như thế. Nơi Ngài, tinh thần Pháp Hoa Kinh không dừng lại ở tư tưởng hay lời giảng, mà được hiện thực hóa qua từng hành động, từng Phật sự cụ thể; đồng thời, hạnh nguyện Phổ Hiền cũng không chỉ là lý tưởng, mà trở thành một đời sống dấn thân, nhập thế, phụng sự không mệt mỏi. Cuộc đời hành đạo của Ngài, vì thế, có thể được nhìn như một bản kinh sống, trong đó từ bi, trí tuệ và đại nguyện độ sinh được hòa quyện, tỏa sáng giữa những biến động của thời cuộc và những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Tóm lược tiểu sử đời Ngài Hòa thượng Thích Trí Thủ, thế danh Nguyễn Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Gi
01/04/2026(Xem: 2174)
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại, Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh không chỉ được tôn vinh là bậc Tam Tạng Pháp Sư uyên thâm, một dịch giả kinh điển kiệt xuất, mà còn là một bậc Đạo sư thực tiễn, suốt đời nỗ lực quy giản giáo pháp thâm sâu thành những lời dạy dung dị, dễ hiểu, dễ hành trì. Tinh hoa giáo huấn của Ngài được cô đọng trong mười bốn chữ vàng lưu lại cho hậu thế: “Thương người, thương vật, làm lành, lánh dữ, ăn chay, niệm Phật, tụng kinh ”[1]. Mười bốn chữ này không chỉ đơn thuần là lời khuyên đạo đức, mà chính là một hệ thống tu tập thiết thực và trọn vẹn, kết tinh đầy đủ ba trụ cột của đạo Phật: từ bi (karuṇā), trí tuệ (prajñā) và phương tiện thiện xảo (upāya), đưa người học Phật trở về với đời sống tỉnh thức, từ bi và an lạc ngay giữa đời thường.
31/03/2026(Xem: 2948)
Lễ kỳ siêu Chung Thất Đức Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN thượng PHƯỚC hạ AN đã được trang nghiêm tổ chức tại Chánh điện Chùa Hải Đức trên Đồi Trại Thủy - Nha Trang vào sáng ngày 29/3/2026 (nhằm 11 tháng 2 năm Bính Ngọ).. Thượng sơn lên Đồi Trại Thủy - PHV chùa Hải Đức tham dự buổi lễ Kỳ siêu 49 ngày cố Hòa thượng Thích Phước An viên tịch, có sự hiện diện của chư tôn thiền đức từ các tự viện tỉnh phía Nam, từ Huế, Bình Định và chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng-Ni cùng đông đảo phật-tử ở Nha Trang. Đặc biệt, có Đoàn Gia Đình Phật Tử đang dự Hội Trại tại Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh) thuận duyên kéo về lên chùa Hải Đức dâng hương đảnh lễ.
30/03/2026(Xem: 3218)
Chùa Đức Viên tọa lạc tại số 2420 McLaughlin Avenue, thành phố San Jose, tiểu bang California, được Sư Bà Thích Đàm Lựu sáng lập năm 1980. Sư Bà người làng Tam xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Việt Nam. Xuất gia từ nhỏ tại chùa Cự Đà. Năm 1951, Sư Bà thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1952, Sư Bà học đạo tại chùa Dược Sư, Sài Gòn. Năm 1964, Sư Bà đi du học ở Tây Đức. Năm 1979, Sư Bà đến Hoa Kỳ. Năm 1980, Sư Bà về thành phố San Jose hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên. Sau 19 năm tận tụy, chăm lo việc đạo, việc đời, Sư Bà quy Tây năm 1999. Nhân lễ húy nhật Sư Bà sẽ được chùa tổ chức vào ngày 28 tháng 3 năm 2026, chùa đã tổ chức khóa Niệm Phật báo ân từ ngày 14 tháng 3 đến ngày 27 tháng 3 năm 2026, mỗi ngày có 4 thời: khuya 04:30am-07:00am; sáng 09:00am- 11:30am; chiều 02:30pm-04:30pm; và tối 06:00pm-08:30pm. Vào lúc 06:00pm ngày 27 tháng 3 năm 2026 (ngày 09 tháng 02 năm Bính Ngọ), chùa đã trang nghiêm tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm cố Sư Bà khai nguyên chùa Đức
14/03/2026(Xem: 4060)
THIỀN VIỆN MINH QUANG TÂY ÚC 5 Hyem Road, Herne Hill WA THÔNG BÁO (thay Thư Mời) Cúng Rằm Tháng Giêng Kỷ niệm lần thứ 72 Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Kính thưa Quý Đồng Hương và Phật Tử Việt Nam gần xa! Như thông lệ hằng năm, Rằm Thượng Nguyên là ngày rằm đầu năm mới. Quý Phật Tử thường về chùa hay thiền viện để cầu bình an, thịnh vượng cho gia đình và xã hội. Thiền viện Minh Quang sẽ tổ chức cúng cầu an vào hai ngày 14 & 15 tháng Ba năm 2026 (chiều Thứ Bảy và sáng Chủ Nhật). Đặc biệt nhân dịp này nhằm báo đền ân đức Tổ Sư trong lễ tưởng niệm ngày vắng bóng lần thứ 72, Tăng đoàn Phật Giáo Khất Sĩ Úc Châu tổ chức Lễ Đặt đá Khởi công xây dựng Thiền viện Minh Quang Tây Úc vào ngày 15 tháng Ba nói trên. Để chứng minh cho đại lễ, Ban tổ chức đã cung thỉnh trên ba mươi (30) chư tôn thiền đức Tăng Ni hải ngoại và liên bang Úc tham dự và cầu nguyện. Ban tổ chức kính gởi Th