Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Mê và Ngộ

18/02/201407:56(Xem: 3588)
Mê và Ngộ

Phat_Thich_Ca_12



Phật giáo không vướng vào chủ nghĩa hư vô, mà nhìn nhận thế giới như một dòng chảy mênh mông khổng lồ gồm các sự kiện gắn kết với nhau, sự kiện này tham gia vào sự kiện kia. Một sự vật hiện tượng chỉ có thể xuất hiện nếu nó nằm trong mối liên hệ có điều kiện nhưng đồng thời đến lượt nó cũng là điều kiện, cùng hiện diện, cùng vận hành trong tư thế biến đổi liên tục. Đó là một thực tế, một thực tế là tất cả đều gắn kết thành một tổng thể, như không có gì xuất hiện tách rời nhau.

Một thiền sư ngộ đạo, ngài Hàm Thị đã truyền dạy

“Mê nhân duyên nên thấy sinh diệt

Ngộ nhân duyên là hợp với vô sanh”

Hai câu kệ hàm dung một triết lý nhân sinh sâu sắc, chỉ ra con đường giải thoát vượt qua những khổ đau đeo bám của kiếp người. Phúc lạc màu nhiệm này sẽ lại quả cho những ai thành tâm nỗ lực tu học hướng về Giác Ngộ. Giác Ngộ được hiểu là nhận ra thực tánh của các pháp (sự vật, hiện tượng) hay nói cách khác là nhận ra được đâu là thực chất của cuộc sống, đồng nghĩa với việc loại trừ được mọi kiến chấp mê lầm trói buộc con người vào vùng xoáy của đau khổ.

Phật giáo nhìn thế giới, hay là thực tại, như được cấu thành từ các hiện tượng sự vật khác nhau đều xuất phát từ những nguyên nhân và điều kiện biệt lập thích hợp. Chính vì thế Phật giáo đã bác bỏ sự tồn tại của các thực thể độc lập và đồng thời xác quyết khái niệm về mối quan hệ và qui luật nhân quả hỗ tương: Khi A có mặt thì B có mặt, khi A không có mặt thì B cũng không có mặt“.

Phật giáo không vướng vào chủ nghĩa hư vô, mà nhìn nhận thế giới như một dòng chảy mênh mông khổng lồ gồm các sự kiện gắn kết với nhau, sự kiện này tham gia vào sự kiện kia. Một sự vật hiện tượng chỉ có thể xuất hiện nếu nó nằm trong mối liên hệ có điều kiện nhưng đồng thời đến lượt nó cũng là điều kiện, cùng hiện diện, cùng vận hành trong tư thế biến đổi liên tục. Đó là một thực tế, một thực tế là tất cả đều gắn kết thành một tổng thể, như không có gì xuất hiện tách rời nhau.

Thực tại là thực tại không ngừng vận động biến dịch, là một quá trình thể nghiệm. Cái đang là, là quá trình để trở thành chính nó. Có thể hình dung quá trình này trong hình ảnh một dòng sông đang trôi chảy trên đó nổi lên các mẩu hình xoáy nước, gợn sóng luôn luôn dịch chuyển biến động. Nó nổi lên, lưu xuất từ dòng nước và biến mất cũng trên dòng nước.

Đây chính là nguyên lý Duyên sinh có điều kiện. Do vậy, tất cả những gì hiện hữu trong cuộc đời này đều là “pháp Duyên sinh”, chúng làm duyên cho nhau và điều kiện hoá lẫn nhau để hình thành tan – hợp. Trên nền tảng của nguyên lý này ta có thể hiểu tính Vô ngã của các pháp nhân duyên sinh – diệt trong dòng vận hành của thế giới thực tại cả tâm lý lẫn vật lý.

Trên quan điểm Phật học: Vô ngã đồng nghĩa với tính Không và Không chính là chân lý duyên khởi của thế giới thực tại – vô ngã. Về mặt giáo lý, tính Không được triển khai trên giáo thuyết căn bản của Đức Phật, đặc biệt là thuyết Duyên khởi và Trung đạo, đó là nền tảng của lý luận truy tìm những mê lầm có trong tâm thức, loại trừ các kiến chấp mê lầm đó để đạt được Giác Ngộ. Bồ Tát Long Thọ dạy: Pháp sinh khởi từ các nhân duyên nên tôi nói là Không, nó chỉ là giả danh và cũng là Trung đạo

Ở đây, Tính Không, không đơn thuần là một phát biểu về thực tại, nó còn bao hàm cả một hệ thống triết lý sâu sắc trong sự phát triển tư tưởng Phật giáo và hơn thế nữa là một hệ thống triết lý giác ngộ của Đại thừa, là cốt tuỷ của sự giác ngộ viên mãn. Có thể xác quyết rằng một khi đã chứng ngộ tính Không đồng nghĩa với chứng ngộ Niết – bàn. Quan điểm “bất nhị” giữa Thế gian và Niết bàn; kinh luận viết:“Niết bàn và thế gian không có gì khác biệt. Thế gian và Niết – bàn cũng không có gì khác biệt. Bản chất của Niết – bàn cũng như Thế gian, không có gì sai biệt“.

Trung Quán luận còn nhấn mạnh thêm: “Đức Phật vì chúng sinh, đã dựa vào hai chân lý mà nói pháp, đó là chân lý tương đối hay Tục đế và chân lý tuyệt đối hay Chân đế. Nếu không nhận thức được hai chân lý này thì đối với Phật pháp sâu xa không thể lĩnh hội được. Bồ Tát Long Thọ gọi mê hoặc phiền não xuất phát từ hý luận (ngôn thuyết, ý niệm hay quan niệm, hoạt dụng của ngôn ngữ) được xem là nhân của sự chứng ngộ và trạng thái đó gọi là Tục đế. Trạng thái của quả chứng ngộ thật tướng hay tính Không là Chân đế. Chân đế được dùng để mô tả một cảnh giới cứu cánh, tuyệt đối, bất khả thuyết đồng nghĩa với Niết – bàn, thực tại tối hậu và tối thượng. Trong ngôn ngữ của Đại thừa nó luôn luôn bao phủ một áo nghĩa huyền học, vượt ngoài tư duy thường nghiệm hay đầu óc tưởng tượng của con người. Các luận sư Phật học thường dùng khái niệm Tục đế để chỉ các hoạt động trong đời sống công ước hằng ngày như sự phân biệt các sự vật hiện tượng, và khái niệm Chân đế được dùng để chỉ bản chất đích thực của các pháp, nghĩa là bản chất của chính nó mà không phải là những biểu tượng phô diễn chung quanh nó.

Chẳng hạn quan sát một ví dụ rất thô thiễn về một người nào đó

- Về phương tiện Tục đế: Nhận diện người này cao, thấp, mập ốm, da đen trắng, đẹp xấu.v.v.

- Về mặt Chân đế: Người này được nhận diện qua hợp thể: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Đứng về mặt phương tiện mà nói, có thể dùng ngôn thuyết để hiển thị Chân đế dưới hình thức Tục đế, nhưng mặt khác ngôn thuyết hoàn toàn bị bác bỏ và Chân đế xem như “bất khả thuyết”. Con đường tu tập theo quá trình: từ Tục đế đến Chân đế rồi từ Chân đếquay về Tục đế, theo chỉ thị thượng cầu Bồ đề, hạ hoá chúng sinh. Vì vậy Chân đế không cách ly Tục đế, Niết – bàn ở ngay trong thế giới Sa -bà và như thế giải thoát không phải chờ đợi đến khi ta vĩnh biệt trần gian, mà giải thoát xảy ra trong tâm ngay lúc này, lúc ta sống với tĩnh thức.

Hơn nữa, về mặt dụng, ngài Long Thọ đã minh thuyết Tính Không như một phương tiện đối trị, khiến ta bỏ ngay kiến chấp sai lầm về tự tính các pháp, hiểu đúng Tính Không, không phải là một sự hữu có thể nắm bắt và chấp thủ. Nó ở bên ngoài các pháp nhân duyên sinh.

  • · Câu chuyện trong một gia đình: Ông chồng sau giờ làm việc kiếm sống, thời gian còn lại thường đến chùa học tập và làm công việc Phật sự,, người vợ ông ta cảm thấy hạnh phúc. Nhưng cũng có phụ nữ khác lại quan niệm rằng, sinh hoạt của ông chồng như vậy là thiếu quan tâm đến cô và cô ta đau khổ. Ta thấy sự việc sinh hoạt tại chùa của ông chồng tự bản chất không ảnh hưởng đến tâm thế hạnh phúc hay đau khổ của hai người phụ nữ nói trên, mà chính là do cách nhìn của họ. Phật học gọi đó là vọng tưởng, là mầm mống gây phiền não. Khi chúng ta còn bị chi phối bởi sự chấp chặc vào các khái niệm đối đãi này thì vẫn chưa thể giải thoát khỏi ảo tưởng.

Pháp không có thực tính, chỉ do danh mà hiện tướng, trên tướng mà lập danh. Hiểu được như vậy, sự sinh khởi của tâm thức sẽ dừng lại. Đức Phật đã nói: “Pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ“. Tất cả các pháp do vọng tưởng phân biệt, mà pháp thì không phân biệt, ấy gọi là thường trụ. Ngài Long Thọ, trong Trung Quán đã biện giải cho chúng ta hiểu các pháp vô Sanh, và thực tánh các pháp là nơi ngôn ngữ không đến được, để chúng ta giảm đi sự chấp trước, sự phân biệt, mới mong có sự đột biến của tâm thức, mới thâm nhập được thực tướng của các pháp.

Lục Tổ Huệ Năng nói: Đừng nghĩ đến thiện, cũng như đừng nghĩ đến ác, thì ngay lúc đó mới hiện ra cái bản lai diện mục của mình“.Theo nguyên lý Duyên khởi thì vạn pháp không có tự tính vì thường xuyên biến dịch, khi đủ duyên thì sinh khởi, hết duyên thì đoạn diệt. Tính cách chuyển hoá vô thường của vạn pháp chính là tự thân của luân hồi. Do đó, Đức Phật đã truyền dạy đủ mọi pháp môn tu học để tuỳ theo căn cơ và trình độ giác ngộ của mỗi người, qua đó lĩnh hội được giáo pháp nhằm chiếu rọi thức tĩnh được cái tính giác, tức là cái giác quan nội tại sâu thẳm, tiềm ẩn trong bản tính mỗi người.

Một khi đạt được cái tính giác đó con người có thể vượt lên cái kiến giải phân biệt về mọi hiện hữu để thấy rằng vạn pháp không thật như huyễn hoá, như mộng ảo và đã từ vô thuỷ, làm chúng ta mãi miết thăng trầm với thế giới nội tại của chính mình, một thế giới đầy dẫy bất giác và tăm tối. Đến lúc đó, lúc mà đạt đến tính giác, con người mới nhổ hết gốc rể những đau đớn của đời sống thể chất lẫn tinh thần mà Đức Phật đã mô tả bằng các từ sầu, bi, khổ, não.

Con người, dường như tất cả, ai ai cũng thiết tha mong muốn xua đuổi và viễn ly thế gian vô thường nhiều cay đắng để thay vào đó một khát vọng được hiện hữu trong thường hằng, vĩnh cửu dù cho đó là một giấc ngủ thiên thu không mộng mị. Những thao thức, ray rức như thế đã dịch chuyển đời sống từ thành một cõi điên đảo đầy mộng mị và cũng chính lúc này, màng sương mù dày đặc, thâm căn cố đế từ ngàn xưa sẽ bị quét sạch bởi ánh sáng kỳ vĩ của sự tỏ ngộ Tính Không trong tâm thức con người.

Các bậc Thiền sư đạt đạo, thường nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta đang còn lạc lối mê mờ trong thế giới vọng, biến hiện của tâm thức. Ngài Hàm Thị nói

“Mê nhân duyên nên thấy sinh diệt

Ngộ nhân duyên là hợp với vô sanh”

Hầu hết con người đều có thói quen là khi đề cập đến vấn đề nào thì chấp thủ vấn đề đó. Lý nhân duyên là pháp căn bản của thế gian, nhưng nếu chỉ dừng ngang ở mức độ sanh diệt mà không thông suốt được chân tướng của nó thì con người còn vướng phải mê lầm chấp chặc có – không dẫn đến khổ đau.

  • · Câu chuyện trứng gà và con gà, sau khi sinh ra cái trứng, thói quen ta nói con gà là duyên của cái trứng (nhân duyên là điều kiện đầu, điều kiện chính). Nhưng trước khi có cái trứng thì con gà cũng như con mèo, cái cây, cái ghế.v.v…. đều là những thứ gọi là phi duyên. Như vậy, nếu dựa vào ý niệm nhân – quả, con gà vừa là phi duyên lúc chưa sinh ra quả và là duyên khi sinh ra quả.

Phân tích đến rốt ráo chẳng hạn cái bàn là cây, cây cung cấp thán khí, cung cấp nước, bóng mát, thực phẩm cho đất, côn trùng trong đất.v.v. đều có liên hệ đến con gà và cái trứng. Đây là giáo lý trùng trùng duyên khởi và “trong cái một chứa đựng tất cả” của giáo lý Hoa – Nghiêm. Vậy sự phân biệt cái này là duyên, cái kia là phi duyên là không đúng. Duyên cũng không mà phi duyên cũng không nghĩa là không có tự tínhLại nữa, nếu nói rằng trứng không ở trong con gà (duyên) thì nó không thể sinh ra được từ duyên (con gà). Còn nói có rồi thì đâu cần phải sinh ra nữa. Nó chỉ thay đổi và lớn lên thôi. Vậy ta nói nó sinh ra, nhưng thực ra bản chất là vô sinh. Sinh là một ý niệm, sản phẩm của tâm ý mà thôi, vô sinh cũng thế.

Bồ Tát Long Thọ, đại luận sư nổi tiếng Phật giáo đã phát triển rực rỡ các tinh hoa của phương pháp học Phật, loại bỏ được cái nhìn nhị nguyênđể giúp tiếp xúc với thực tại, một thực tại bất khả đắc đối với những ai còn vướng bận vào những phạm trù của khái niệm. Tác phẩm tiêu biểu là Trung Quán luận. Ngài đã thiết lập nền tảng triết học tựa trên kinh nghiệm Chưa từng thấy có bất cứ pháp nào không sinh từ nhân duyên. Thế nên tất cả các pháp đều Không. Ngài đã dạy vận dụng tính Không để thuyết minh các pháp nhân duyên sinh. Chính do tính Không mà các pháp duyên khởi hiện hành.

Điểm nổi bật của Trung Quán luận là thuyết Nhị đế gồm; Tục đế (chân lý tương đối) và Chân đế (chân lý tuyệt đối hay cứu cánh) được thiết lập để giải thích hai mặt của mọi hiện hữu và Không. Trung Quán luận cho rằng chính theo Tục đế mà Đức Phật giảng rằng tất cả các pháp là Có do nhân duyên nhưng theo Chân đế thì tất cả các pháp đều Không. Theo kinh Luận Đại Trí độ: “Vì theo Tục đế nên có và theo Chân đế nên Phá; Có là để không rơi vào tà kiến chấp đoạn diệt; Phá là để không rơi vào tà kiến chấp thường“. Xa rời cả hai cực đoan chấp đoạn, chấp thường là một ý nghĩa quá thâm sâu của chân lý Duyên khởi.

Vì thế nên mọi sự thể, tâm hay vật đều do duyên sinh nên nói là vô tự tính đều không. Tuy vậy, theo quan điểm của Trung Quán, mặc dầu các sự thể là duyên khởi, như huyễn hoá, vô tự tính, nhưng theo Tục đế quy ước, chúng có nhưng là giả hữu, là giả danh, giả tướng.

  • · Câu chuyện thứ baChúng ta cảm thấy thú vị với trò chơi về hình ảnh nổi trong không gian ba chiều. Cũng từ một cách quan sát, mà khi ta lay động vật chơi, một loạt các hình ảnh phẳng lặng bỗng nhiên thay đổi trở thành lâu dài thành quách tráng lệ đầy đủ mọi thứ như đang ở không gian nổi ba chiều. Vậy hình ảnh nào là thực, hình ảnh nào là không thực. Thế giới ta đang sống đây có phải là hình nổi của tự tâm chúng ta không?

Tương tự như một hình thể trong không gian ba chiều, khi chiếu lên mặt phẳng hai chiều ta được một cái bóng. Tuỳ vào góc độ chiếu ta có cổ bóng lớn, nhỏ dài, ngắn, tuy vậy ta không nên quy kết cái bóng là có hay không, là to hay nhỏ… điều này quả vô nghĩa. Cũng vậy, ta đang sống hàng ngày với những pháp sai biệt mà thực chất nó là cái bóng của thực tại bất khả phân được phóng chiếu qua tâm phân biệt.

Ta không thể nói pháp này là có, là không, là sanh, là diệt. Đó là những thiên kiến sai lầm khi đối chiếu với thực tại. Cái mà ta cho là thật tánh của pháp, thực ra nó chỉ được gầy dựng nên do sự tương quan đối đãi với cái khác mà thôi.

  • · Câu chuyện thứ tư: Ta nhận thức được các phép nhờ vào các căn như tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Dựa vào các kết quả ghi nhận từ các căn mà chúng ta có nhận thức về trần cảnh. Tuy vậy các căn lại có sự hạn chế của nó.

Chẳng hạn trường hợp của đôi mắt: ta chỉ nhìn thấy ánh sáng có độ dài sóng từ 0,4 micron đến 0,8 micron. Ngoài dãi có bề rộng đó, ta không thấy được ánh sáng tồn tại. Chẳng hạn mắt ta không thấy được tia X dùng trong y học. Mặt khác, với những vật có một độ phân giải nhỏ hơn mức tối thiểu, mắt sẽ không ghi nhận được vật đó. Tương tự với những sự kiện mà thời gian xuất hiện chớp nhoáng của nó ngắn đến mức tối thiểu, mà thuật ngữ Phật học gọi là sat-na thời gian, mắt cũng không thể ghi nhận được sự kiện đó.

Do các hạn chế này, thay vì ghi nhận được pháp là một tiến trình liên tục, mắt chỉ ghi nhận một phần đoạn của tiến trình này. Về mặt không gian cũng vậy do những phần nhỏ hơn độ nhạy của mắt sẽ loại trừ các quan hệ chằng chịt với không gian bao quanh quá nhỏ nhiệm. Các căn của cơ thể không thể ghi nhận được, nên các phần đoạn đó xuất hiện thành một dạng hình thể biệt lập có ranh giới với thế giới xung quanh. Chúng ta gọi đó là một vật theo thông tục. Tương tự về mặt thời gian, bản chất của một vật là một tiến trìnhnên nó luôn luôn chuyển biến, nhưng do sự nhận biết các căn của con người quá thô thiển nên sau một thời gian nào đó, ta mới nhận ra được sự thay đổi. Nên trong phần đoạn đó ta xem vật như bất biến.

Tóm lại, ta cảm giác có một ranh giới hạn cuộc trong không gian và dường như nó bất biến trong một thời gian. Chúng ta cho rằng đó là vật có thực, một cá thể riêng biệt và tập hợp các cá thể, các vật đó tạo thành thế giới quanh ta. Rõ ràng sự chấp chặc ý niệm về vật đã hoàn toàn bị phá vỡ về mặt nhận thức. Vậy Sắc chẳng phải Sắc vì tự thân nó là tiến trình khó nắm bắt. Không chẳng phải Không vì nó biểu hiện cái quan hệ chằng chịt với cái không phải là nó. Sắc và Không nương nhau mà thành lập, thực chất chỉ là cái bóng của thực tại qua tâm thức.

Trong tâm trí chúng ta hãy còn in dấu câu chuyện lịch sử về Vua Thái Tông lên núi Yên Tử để cầu làm Phật ghi trong Thiền Tông Chỉ Nam Tự:

- Vua nói: “Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương, lại nghĩ sự nghiệp các Đế vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên tìm đến núi này, chỉ muốn được thành Phật chứ không cầu gì khác?

- Sư nói: Trong núi không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà sáng suốt, đó chính là chân Phật. Nay, nếu Bệ hạ giác ngộ được điều đó, thì lập tức thành Phật, không cần khổ tâm tìm kiếm bên ngoài”

Chỉ có thế và thật đơn giản, lòng lặng lẽ mà sáng suốt đã là Phật, Phật không đi không đến, có nơi nào Phật lại không hiện hữu. Nhưng làm thế nào để có một tấm lòng lặng lẽ và sáng suốt đạt được tâm Phật, ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đã khai thị cho chúng ta một hướng nhìn thâm diệu, cái nhìn Nhân Duyên để mọi sự ở đời không có gì vướng mắc, bận bịu và lang thang cùng với mộng mị.

“Các pháp do duyên sanh

Các pháp do duyên diệt

Duyên sanh các pháp sanh

Duyên diệt các pháp diệt”

(Tuệ Trung Thượng sỹ )

Duyên Khởi là một qui luật nền tảng chi phối vạn pháp thế gian suốt cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai được biểu hiện qua công thức Nhân – Duyên – Quả. Với cách nhìn này ta sẽ có được Chánh pháp trí. Tuỳ theo chiều kích thanh tịnh của tâm mà Chánh pháp trí có mức độ thô hoặc tế. Vì sao lại có thô, có tế? Theo kinh luận dạy, vạn pháp chỉ là tướng của tâm, còn Chân tâm hay tâm chân thật là tánh của tất cả các pháp. Một khi đã có Chánh pháp trí, chúng ta mới có cái nhìn như thật đến với vạn pháp ở thế gian. Từ đó mới đạt được an lạc hạnh phúc.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm luận rằng, tâm thể chúng sinh vốn thanh tịnh trùm khắp, nhưng vì không nhận thấy Không tánh, nên khởi bất giác mà sinh thấy hư vọng, cùng cảnh giới hư vọng. Gọi là hư vọng vì nó có tướngmà không có tánh. Cảnh giới hư vọng chỉ thị cho thân căn và thế giới mà chúng ta đang thọ nhận. Do cái thấy như vậy nên dưới mắt Chư Phật, Bồ Tát và Chư Tổ, thế gian là một trường đại mộng. Mộng đủ duyên thì có Tướng nhưng không có Tánh. Chúng ta lại không thấy đó là hư vọng nên sinh phân biệt tốt, xấu, yêu, ghét, vui, buồn, tham lam, đố kỵ… dẫn đến tương tranh, sát phạt tạo nên cảnh giới khổ đau.

Tâm Phật chính là cái tâm không sinh diệt của chính mình. Phật chính là cái Không; thanh tịnh chu biến, bao trùm khắp của Tâm. Nói rằng Phật với 32 tướng tốt chỉ là sở hiện của tự tâm mà thôi. Các kinh luận dạy rằng, chấp sinh diệt là một mê lầm, chấp không sinh diệt cũng là một mê lầm, cả hai cách chấp cũng đều mê lầm. Chỉ với cái nhìn tương đối về bản thân và về vạn hữu thì ắt thành Phật.

Nghe qua thật đơn giản, tuy vậy ta chỉ có thể thực hiện được ý chỉ này bằng chính sức mạnh tịnh hoá nội tâm của mình, đó là sức mạnh của xả ly. Xả ly là sự buông bỏ, không chắp giữ nỗi ám ảnh được phóng chiếu trong tâm thức, đó là những khái niệm được, mất, vui, buồn, khen chê, danh vọng và không danh vọng trong cõi thị phi. Bao lâu có đời sống giữ được công hạnh xả ly, thì lúc đó sẽ hiện khởi nên thực tại vô niệm.

Nói một cách mộc mạc hơn là phải xả ly những tâm niệm sinh diệt thì tâm không sinh diệt hiển lộ. Nhân vô sinh thì Quả mới vô sinh. Nhân là Phật tính thì Quả mới trở nên Niết Bàn. Nếu không gây nhân địa ngục trần gian thì ta sẽ không có cảnh giới địa ngục. Moị sự đều từ Tâm, theo Thức mà có sai biệt đa thù. Nói Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thứclà như vậy. Ta suy ngẫm lời dạy của Tổ Tăng Xán, một trong Lục Tổ đã ghi lại trong một bài kể thế này:

“Mê, thì sinh lòng động, tịnh

Ngộ, thì chẳng ghét thương

Việc thua được hay thị phi

Hãy nhất thời buông bỏ quách”

(Nguyễn Duy Cần, dịch)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/09/2022(Xem: 164)
Tại Pháp, cơn đại dịch thực sự bắt đầu vào khoảng tháng ba năm 2020, với các lịnh phong tỏa, hạn chế những sinh hoạt bình thường của dân chúng như mua bán, di chuyển, tụ họp, ngay cả các công ty, công sở, các văn phòng cũng phải hạn chế số nhân viên, nhân công…Nhưng oái ăm thay, tại các bệnh viện thì bịnh nhân quá đông mà bác sĩ, y tá, phụ tá, cho đến hạ tầng cơ sở, các lao công lo phần vệ sinh, quét dọn cũng không đủ để đảm nhiệm cho xuể mọi công việc. Khởi đầu nạn dịch quả thật đem lại nhiều lo âu cho mọi người. Nhưng rồi, phía chính phủ cũng như dân chúng, ai cũng phải cố gắng, hi sinh để đương đầu với đại nạn. Và dần dà những khó khăn ban đầu cũng được khắc phục.
20/09/2022(Xem: 160)
Kẻ trí tuệ ít lỗi lầm và khi phạm lỗi thì nhận biết và tu sửa. Kẻ ngu si không biết lỗi lầm và khi nhận biết thì biện minh mà không hề tu sửa. -Kẻ trí tuệ trước mọi sự việc đều tìm hiểu và phân tích lợi-hại. Còn kẻ ngu si chỉ nhìn thấy lợi mà không thấy hại. -Kẻ trí tuệ biết đo lường thời thế. Còn kẻ ngu si thì làm bừa, khi thất bại lại đổ lỗi cho Trời. Tức khí nhảy ra đâm chém dễ. Nhẫn nhục chờ thời khó, “Khảng khái cần vương dị. Thung dung tựu nghĩa nan.” (Lý Trần Quán Tiến Sĩ đời Lê Trung Hưng) -Kẻ ngu si kết bạn bừa bãi, thường rủ rê đi các nơi ăn chơi như phòng trà ca vũ, quán nhậu, hát karaoke, hoặc tổ chức ăn nhậu ồn ào ở nhà khiến vợ con phải hầu hạ, buồn phiền. Rồi chỉ vì một cử chỉ hay lời nói gì đó mà vung dao giết nhau. Chính vì thế mà kẻ ngu si thường đem giặc cướp về nhà. Kẻ trí tuệ tiếp bạn một cách trang trọng. thanh lịch, lễ độ và chừng mực. “Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao điềm như mật”.
15/06/2022(Xem: 1248)
Bản ngã là một chủ đề từ lâu các nhà chú giải và quý giảng sư thường nhắc đến. Người viết chưa đủ khả năng lạm bàn, nhưng sở dĩ bài viết này có được…đó nhờ mục hỏi đáp của Trung tâm Hộ Tông với tiêu đề “ BẢN NGà VÀ ĐẠI NGÔ qua các câu hỏi của tứ chúng từ khắp nơi trong và ngoài nước gửi về và đã được Hoà Thượng Viên Minh hồi đáp.
24/02/2022(Xem: 2971)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
17/11/2021(Xem: 10241)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
13/11/2021(Xem: 6002)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/10/2020(Xem: 2859)
Bài viết này kính tri ân lời dạy của Sư Phụ Viên Mình trong bài pháp thoại “10 ba la mật “ và sự khuyến khích của Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng “hãy thọ trì đọc tụng Kinh Bát Nhã Ba La Mật và nghe các bài tổng luận “ đang được đăng tải trên trangnhaquangduc Kính đa tạ và tri ân quý Ngài và kính xin phép được trình bày những điều con học được và kính xin quý Chư Tôn Đức và các bạn đạo tha thứ cho sự mạo muội của hậu bối vì dám “múa rìu qua mắt “, nhưng con trộm nghĩ .
16/09/2020(Xem: 3625)
Một Phật tử tại gia như tôi không biết gặp duyên phước nào để có thể được ghi lại vài cảm nghĩ về một bài viết mà cốt lõi chính yếu nằm trong Duy Thức Học , một bộ môn khó nhất cho những ai đã theo Đại Thừa Phật Giáo chỉ đứng hàng thứ hai sau Bộ kinh Đại Bát Nhã và hơn thế nữa những lời dẫn chứng lại trích từ quý Cao Tăng Thạc Đức rất uyên bác trác tuyệt về giáo lý Phật Đà như Đệ lục Tăng Thống HT Thích Tuệ Sỹ và Cố Thiền Sư Nhật Bản Daisetz Teitaro Suzuki.
12/09/2020(Xem: 4339)
Cây danh mộc gumtree là đặc sản của Úc có nhiều loại như ta thường biết qua cây khuynh diệp, vì giống cây này đã được biến chế thành, dầu khuynh diệp trị cảm mạo hiệu quả. Chúng thường mọc tự nhiên thành rừng thiên nhiên, thân to cao, có loại vạm vỡ oai phong như lực sỹ trên võ đài, cho bóng mát cùng nhiều công dụng khác như xay thành bột chế tạo giấy các loại đa dụng, cũng như dùng làm cột trụ giăng dây điện trong nhiều thập niên qua, và đồng thời cũng là thức ăn ưa thích của loài mối (termites) nên con người hơi ngán mấy “ông thần nước mặn” này lắm. Từ này tự chế ám chỉ loài côn trùng bé nhỏ hay cắn phá làm hại hoa màu của giới nhà nông dãi dầu một nắng hai sương như chuột, chim, châu chấu, sâu rầy… cũng để gán cho những kẻ ngang bướng đều bị dán nhãn hiệu đó.
17/06/2020(Xem: 4610)
Tuy được duyên may tham dự khoá tu học Phật Pháp Úc Châu kỳ 19 tổ chức tại thủ đô Canberra và Ngài Ôn Hội Chủ thường xuyên hiện diện với hội chúng, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp đảnh lễ Ngài dù đã nhiều lần làm thơ xưng tán hoặc bày tỏ cảm nghĩ của mình khi đọc được tác phẩm được in thành sách hoặc trên các trang mạng Phật Giáo .
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
99,471,416