Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Mê và Ngộ

18/02/201407:56(Xem: 2211)
Mê và Ngộ

Phat_Thich_Ca_12



Phật giáo không vướng vào chủ nghĩa hư vô, mà nhìn nhận thế giới như một dòng chảy mênh mông khổng lồ gồm các sự kiện gắn kết với nhau, sự kiện này tham gia vào sự kiện kia. Một sự vật hiện tượng chỉ có thể xuất hiện nếu nó nằm trong mối liên hệ có điều kiện nhưng đồng thời đến lượt nó cũng là điều kiện, cùng hiện diện, cùng vận hành trong tư thế biến đổi liên tục. Đó là một thực tế, một thực tế là tất cả đều gắn kết thành một tổng thể, như không có gì xuất hiện tách rời nhau.

Một thiền sư ngộ đạo, ngài Hàm Thị đã truyền dạy

“Mê nhân duyên nên thấy sinh diệt

Ngộ nhân duyên là hợp với vô sanh”

Hai câu kệ hàm dung một triết lý nhân sinh sâu sắc, chỉ ra con đường giải thoát vượt qua những khổ đau đeo bám của kiếp người. Phúc lạc màu nhiệm này sẽ lại quả cho những ai thành tâm nỗ lực tu học hướng về Giác Ngộ. Giác Ngộ được hiểu là nhận ra thực tánh của các pháp (sự vật, hiện tượng) hay nói cách khác là nhận ra được đâu là thực chất của cuộc sống, đồng nghĩa với việc loại trừ được mọi kiến chấp mê lầm trói buộc con người vào vùng xoáy của đau khổ.

Phật giáo nhìn thế giới, hay là thực tại, như được cấu thành từ các hiện tượng sự vật khác nhau đều xuất phát từ những nguyên nhân và điều kiện biệt lập thích hợp. Chính vì thế Phật giáo đã bác bỏ sự tồn tại của các thực thể độc lập và đồng thời xác quyết khái niệm về mối quan hệ và qui luật nhân quả hỗ tương: Khi A có mặt thì B có mặt, khi A không có mặt thì B cũng không có mặt“.

Phật giáo không vướng vào chủ nghĩa hư vô, mà nhìn nhận thế giới như một dòng chảy mênh mông khổng lồ gồm các sự kiện gắn kết với nhau, sự kiện này tham gia vào sự kiện kia. Một sự vật hiện tượng chỉ có thể xuất hiện nếu nó nằm trong mối liên hệ có điều kiện nhưng đồng thời đến lượt nó cũng là điều kiện, cùng hiện diện, cùng vận hành trong tư thế biến đổi liên tục. Đó là một thực tế, một thực tế là tất cả đều gắn kết thành một tổng thể, như không có gì xuất hiện tách rời nhau.

Thực tại là thực tại không ngừng vận động biến dịch, là một quá trình thể nghiệm. Cái đang là, là quá trình để trở thành chính nó. Có thể hình dung quá trình này trong hình ảnh một dòng sông đang trôi chảy trên đó nổi lên các mẩu hình xoáy nước, gợn sóng luôn luôn dịch chuyển biến động. Nó nổi lên, lưu xuất từ dòng nước và biến mất cũng trên dòng nước.

Đây chính là nguyên lý Duyên sinh có điều kiện. Do vậy, tất cả những gì hiện hữu trong cuộc đời này đều là “pháp Duyên sinh”, chúng làm duyên cho nhau và điều kiện hoá lẫn nhau để hình thành tan – hợp. Trên nền tảng của nguyên lý này ta có thể hiểu tính Vô ngã của các pháp nhân duyên sinh – diệt trong dòng vận hành của thế giới thực tại cả tâm lý lẫn vật lý.

Trên quan điểm Phật học: Vô ngã đồng nghĩa với tính Không và Không chính là chân lý duyên khởi của thế giới thực tại – vô ngã. Về mặt giáo lý, tính Không được triển khai trên giáo thuyết căn bản của Đức Phật, đặc biệt là thuyết Duyên khởi và Trung đạo, đó là nền tảng của lý luận truy tìm những mê lầm có trong tâm thức, loại trừ các kiến chấp mê lầm đó để đạt được Giác Ngộ. Bồ Tát Long Thọ dạy: Pháp sinh khởi từ các nhân duyên nên tôi nói là Không, nó chỉ là giả danh và cũng là Trung đạo

Ở đây, Tính Không, không đơn thuần là một phát biểu về thực tại, nó còn bao hàm cả một hệ thống triết lý sâu sắc trong sự phát triển tư tưởng Phật giáo và hơn thế nữa là một hệ thống triết lý giác ngộ của Đại thừa, là cốt tuỷ của sự giác ngộ viên mãn. Có thể xác quyết rằng một khi đã chứng ngộ tính Không đồng nghĩa với chứng ngộ Niết – bàn. Quan điểm “bất nhị” giữa Thế gian và Niết bàn; kinh luận viết:“Niết bàn và thế gian không có gì khác biệt. Thế gian và Niết – bàn cũng không có gì khác biệt. Bản chất của Niết – bàn cũng như Thế gian, không có gì sai biệt“.

Trung Quán luận còn nhấn mạnh thêm: “Đức Phật vì chúng sinh, đã dựa vào hai chân lý mà nói pháp, đó là chân lý tương đối hay Tục đế và chân lý tuyệt đối hay Chân đế. Nếu không nhận thức được hai chân lý này thì đối với Phật pháp sâu xa không thể lĩnh hội được. Bồ Tát Long Thọ gọi mê hoặc phiền não xuất phát từ hý luận (ngôn thuyết, ý niệm hay quan niệm, hoạt dụng của ngôn ngữ) được xem là nhân của sự chứng ngộ và trạng thái đó gọi là Tục đế. Trạng thái của quả chứng ngộ thật tướng hay tính Không là Chân đế. Chân đế được dùng để mô tả một cảnh giới cứu cánh, tuyệt đối, bất khả thuyết đồng nghĩa với Niết – bàn, thực tại tối hậu và tối thượng. Trong ngôn ngữ của Đại thừa nó luôn luôn bao phủ một áo nghĩa huyền học, vượt ngoài tư duy thường nghiệm hay đầu óc tưởng tượng của con người. Các luận sư Phật học thường dùng khái niệm Tục đế để chỉ các hoạt động trong đời sống công ước hằng ngày như sự phân biệt các sự vật hiện tượng, và khái niệm Chân đế được dùng để chỉ bản chất đích thực của các pháp, nghĩa là bản chất của chính nó mà không phải là những biểu tượng phô diễn chung quanh nó.

Chẳng hạn quan sát một ví dụ rất thô thiễn về một người nào đó

- Về phương tiện Tục đế: Nhận diện người này cao, thấp, mập ốm, da đen trắng, đẹp xấu.v.v.

- Về mặt Chân đế: Người này được nhận diện qua hợp thể: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Đứng về mặt phương tiện mà nói, có thể dùng ngôn thuyết để hiển thị Chân đế dưới hình thức Tục đế, nhưng mặt khác ngôn thuyết hoàn toàn bị bác bỏ và Chân đế xem như “bất khả thuyết”. Con đường tu tập theo quá trình: từ Tục đế đến Chân đế rồi từ Chân đếquay về Tục đế, theo chỉ thị thượng cầu Bồ đề, hạ hoá chúng sinh. Vì vậy Chân đế không cách ly Tục đế, Niết – bàn ở ngay trong thế giới Sa -bà và như thế giải thoát không phải chờ đợi đến khi ta vĩnh biệt trần gian, mà giải thoát xảy ra trong tâm ngay lúc này, lúc ta sống với tĩnh thức.

Hơn nữa, về mặt dụng, ngài Long Thọ đã minh thuyết Tính Không như một phương tiện đối trị, khiến ta bỏ ngay kiến chấp sai lầm về tự tính các pháp, hiểu đúng Tính Không, không phải là một sự hữu có thể nắm bắt và chấp thủ. Nó ở bên ngoài các pháp nhân duyên sinh.

  • · Câu chuyện trong một gia đình: Ông chồng sau giờ làm việc kiếm sống, thời gian còn lại thường đến chùa học tập và làm công việc Phật sự,, người vợ ông ta cảm thấy hạnh phúc. Nhưng cũng có phụ nữ khác lại quan niệm rằng, sinh hoạt của ông chồng như vậy là thiếu quan tâm đến cô và cô ta đau khổ. Ta thấy sự việc sinh hoạt tại chùa của ông chồng tự bản chất không ảnh hưởng đến tâm thế hạnh phúc hay đau khổ của hai người phụ nữ nói trên, mà chính là do cách nhìn của họ. Phật học gọi đó là vọng tưởng, là mầm mống gây phiền não. Khi chúng ta còn bị chi phối bởi sự chấp chặc vào các khái niệm đối đãi này thì vẫn chưa thể giải thoát khỏi ảo tưởng.

Pháp không có thực tính, chỉ do danh mà hiện tướng, trên tướng mà lập danh. Hiểu được như vậy, sự sinh khởi của tâm thức sẽ dừng lại. Đức Phật đã nói: “Pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ“. Tất cả các pháp do vọng tưởng phân biệt, mà pháp thì không phân biệt, ấy gọi là thường trụ. Ngài Long Thọ, trong Trung Quán đã biện giải cho chúng ta hiểu các pháp vô Sanh, và thực tánh các pháp là nơi ngôn ngữ không đến được, để chúng ta giảm đi sự chấp trước, sự phân biệt, mới mong có sự đột biến của tâm thức, mới thâm nhập được thực tướng của các pháp.

Lục Tổ Huệ Năng nói: Đừng nghĩ đến thiện, cũng như đừng nghĩ đến ác, thì ngay lúc đó mới hiện ra cái bản lai diện mục của mình“.Theo nguyên lý Duyên khởi thì vạn pháp không có tự tính vì thường xuyên biến dịch, khi đủ duyên thì sinh khởi, hết duyên thì đoạn diệt. Tính cách chuyển hoá vô thường của vạn pháp chính là tự thân của luân hồi. Do đó, Đức Phật đã truyền dạy đủ mọi pháp môn tu học để tuỳ theo căn cơ và trình độ giác ngộ của mỗi người, qua đó lĩnh hội được giáo pháp nhằm chiếu rọi thức tĩnh được cái tính giác, tức là cái giác quan nội tại sâu thẳm, tiềm ẩn trong bản tính mỗi người.

Một khi đạt được cái tính giác đó con người có thể vượt lên cái kiến giải phân biệt về mọi hiện hữu để thấy rằng vạn pháp không thật như huyễn hoá, như mộng ảo và đã từ vô thuỷ, làm chúng ta mãi miết thăng trầm với thế giới nội tại của chính mình, một thế giới đầy dẫy bất giác và tăm tối. Đến lúc đó, lúc mà đạt đến tính giác, con người mới nhổ hết gốc rể những đau đớn của đời sống thể chất lẫn tinh thần mà Đức Phật đã mô tả bằng các từ sầu, bi, khổ, não.

Con người, dường như tất cả, ai ai cũng thiết tha mong muốn xua đuổi và viễn ly thế gian vô thường nhiều cay đắng để thay vào đó một khát vọng được hiện hữu trong thường hằng, vĩnh cửu dù cho đó là một giấc ngủ thiên thu không mộng mị. Những thao thức, ray rức như thế đã dịch chuyển đời sống từ thành một cõi điên đảo đầy mộng mị và cũng chính lúc này, màng sương mù dày đặc, thâm căn cố đế từ ngàn xưa sẽ bị quét sạch bởi ánh sáng kỳ vĩ của sự tỏ ngộ Tính Không trong tâm thức con người.

Các bậc Thiền sư đạt đạo, thường nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta đang còn lạc lối mê mờ trong thế giới vọng, biến hiện của tâm thức. Ngài Hàm Thị nói

“Mê nhân duyên nên thấy sinh diệt

Ngộ nhân duyên là hợp với vô sanh”

Hầu hết con người đều có thói quen là khi đề cập đến vấn đề nào thì chấp thủ vấn đề đó. Lý nhân duyên là pháp căn bản của thế gian, nhưng nếu chỉ dừng ngang ở mức độ sanh diệt mà không thông suốt được chân tướng của nó thì con người còn vướng phải mê lầm chấp chặc có – không dẫn đến khổ đau.

  • · Câu chuyện trứng gà và con gà, sau khi sinh ra cái trứng, thói quen ta nói con gà là duyên của cái trứng (nhân duyên là điều kiện đầu, điều kiện chính). Nhưng trước khi có cái trứng thì con gà cũng như con mèo, cái cây, cái ghế.v.v…. đều là những thứ gọi là phi duyên. Như vậy, nếu dựa vào ý niệm nhân – quả, con gà vừa là phi duyên lúc chưa sinh ra quả và là duyên khi sinh ra quả.

Phân tích đến rốt ráo chẳng hạn cái bàn là cây, cây cung cấp thán khí, cung cấp nước, bóng mát, thực phẩm cho đất, côn trùng trong đất.v.v. đều có liên hệ đến con gà và cái trứng. Đây là giáo lý trùng trùng duyên khởi và “trong cái một chứa đựng tất cả” của giáo lý Hoa – Nghiêm. Vậy sự phân biệt cái này là duyên, cái kia là phi duyên là không đúng. Duyên cũng không mà phi duyên cũng không nghĩa là không có tự tínhLại nữa, nếu nói rằng trứng không ở trong con gà (duyên) thì nó không thể sinh ra được từ duyên (con gà). Còn nói có rồi thì đâu cần phải sinh ra nữa. Nó chỉ thay đổi và lớn lên thôi. Vậy ta nói nó sinh ra, nhưng thực ra bản chất là vô sinh. Sinh là một ý niệm, sản phẩm của tâm ý mà thôi, vô sinh cũng thế.

Bồ Tát Long Thọ, đại luận sư nổi tiếng Phật giáo đã phát triển rực rỡ các tinh hoa của phương pháp học Phật, loại bỏ được cái nhìn nhị nguyênđể giúp tiếp xúc với thực tại, một thực tại bất khả đắc đối với những ai còn vướng bận vào những phạm trù của khái niệm. Tác phẩm tiêu biểu là Trung Quán luận. Ngài đã thiết lập nền tảng triết học tựa trên kinh nghiệm Chưa từng thấy có bất cứ pháp nào không sinh từ nhân duyên. Thế nên tất cả các pháp đều Không. Ngài đã dạy vận dụng tính Không để thuyết minh các pháp nhân duyên sinh. Chính do tính Không mà các pháp duyên khởi hiện hành.

Điểm nổi bật của Trung Quán luận là thuyết Nhị đế gồm; Tục đế (chân lý tương đối) và Chân đế (chân lý tuyệt đối hay cứu cánh) được thiết lập để giải thích hai mặt của mọi hiện hữu và Không. Trung Quán luận cho rằng chính theo Tục đế mà Đức Phật giảng rằng tất cả các pháp là Có do nhân duyên nhưng theo Chân đế thì tất cả các pháp đều Không. Theo kinh Luận Đại Trí độ: “Vì theo Tục đế nên có và theo Chân đế nên Phá; Có là để không rơi vào tà kiến chấp đoạn diệt; Phá là để không rơi vào tà kiến chấp thường“. Xa rời cả hai cực đoan chấp đoạn, chấp thường là một ý nghĩa quá thâm sâu của chân lý Duyên khởi.

Vì thế nên mọi sự thể, tâm hay vật đều do duyên sinh nên nói là vô tự tính đều không. Tuy vậy, theo quan điểm của Trung Quán, mặc dầu các sự thể là duyên khởi, như huyễn hoá, vô tự tính, nhưng theo Tục đế quy ước, chúng có nhưng là giả hữu, là giả danh, giả tướng.

  • · Câu chuyện thứ baChúng ta cảm thấy thú vị với trò chơi về hình ảnh nổi trong không gian ba chiều. Cũng từ một cách quan sát, mà khi ta lay động vật chơi, một loạt các hình ảnh phẳng lặng bỗng nhiên thay đổi trở thành lâu dài thành quách tráng lệ đầy đủ mọi thứ như đang ở không gian nổi ba chiều. Vậy hình ảnh nào là thực, hình ảnh nào là không thực. Thế giới ta đang sống đây có phải là hình nổi của tự tâm chúng ta không?

Tương tự như một hình thể trong không gian ba chiều, khi chiếu lên mặt phẳng hai chiều ta được một cái bóng. Tuỳ vào góc độ chiếu ta có cổ bóng lớn, nhỏ dài, ngắn, tuy vậy ta không nên quy kết cái bóng là có hay không, là to hay nhỏ… điều này quả vô nghĩa. Cũng vậy, ta đang sống hàng ngày với những pháp sai biệt mà thực chất nó là cái bóng của thực tại bất khả phân được phóng chiếu qua tâm phân biệt.

Ta không thể nói pháp này là có, là không, là sanh, là diệt. Đó là những thiên kiến sai lầm khi đối chiếu với thực tại. Cái mà ta cho là thật tánh của pháp, thực ra nó chỉ được gầy dựng nên do sự tương quan đối đãi với cái khác mà thôi.

  • · Câu chuyện thứ tư: Ta nhận thức được các phép nhờ vào các căn như tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Dựa vào các kết quả ghi nhận từ các căn mà chúng ta có nhận thức về trần cảnh. Tuy vậy các căn lại có sự hạn chế của nó.

Chẳng hạn trường hợp của đôi mắt: ta chỉ nhìn thấy ánh sáng có độ dài sóng từ 0,4 micron đến 0,8 micron. Ngoài dãi có bề rộng đó, ta không thấy được ánh sáng tồn tại. Chẳng hạn mắt ta không thấy được tia X dùng trong y học. Mặt khác, với những vật có một độ phân giải nhỏ hơn mức tối thiểu, mắt sẽ không ghi nhận được vật đó. Tương tự với những sự kiện mà thời gian xuất hiện chớp nhoáng của nó ngắn đến mức tối thiểu, mà thuật ngữ Phật học gọi là sat-na thời gian, mắt cũng không thể ghi nhận được sự kiện đó.

Do các hạn chế này, thay vì ghi nhận được pháp là một tiến trình liên tục, mắt chỉ ghi nhận một phần đoạn của tiến trình này. Về mặt không gian cũng vậy do những phần nhỏ hơn độ nhạy của mắt sẽ loại trừ các quan hệ chằng chịt với không gian bao quanh quá nhỏ nhiệm. Các căn của cơ thể không thể ghi nhận được, nên các phần đoạn đó xuất hiện thành một dạng hình thể biệt lập có ranh giới với thế giới xung quanh. Chúng ta gọi đó là một vật theo thông tục. Tương tự về mặt thời gian, bản chất của một vật là một tiến trìnhnên nó luôn luôn chuyển biến, nhưng do sự nhận biết các căn của con người quá thô thiển nên sau một thời gian nào đó, ta mới nhận ra được sự thay đổi. Nên trong phần đoạn đó ta xem vật như bất biến.

Tóm lại, ta cảm giác có một ranh giới hạn cuộc trong không gian và dường như nó bất biến trong một thời gian. Chúng ta cho rằng đó là vật có thực, một cá thể riêng biệt và tập hợp các cá thể, các vật đó tạo thành thế giới quanh ta. Rõ ràng sự chấp chặc ý niệm về vật đã hoàn toàn bị phá vỡ về mặt nhận thức. Vậy Sắc chẳng phải Sắc vì tự thân nó là tiến trình khó nắm bắt. Không chẳng phải Không vì nó biểu hiện cái quan hệ chằng chịt với cái không phải là nó. Sắc và Không nương nhau mà thành lập, thực chất chỉ là cái bóng của thực tại qua tâm thức.

Trong tâm trí chúng ta hãy còn in dấu câu chuyện lịch sử về Vua Thái Tông lên núi Yên Tử để cầu làm Phật ghi trong Thiền Tông Chỉ Nam Tự:

- Vua nói: “Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương, lại nghĩ sự nghiệp các Đế vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên tìm đến núi này, chỉ muốn được thành Phật chứ không cầu gì khác?

- Sư nói: Trong núi không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà sáng suốt, đó chính là chân Phật. Nay, nếu Bệ hạ giác ngộ được điều đó, thì lập tức thành Phật, không cần khổ tâm tìm kiếm bên ngoài”

Chỉ có thế và thật đơn giản, lòng lặng lẽ mà sáng suốt đã là Phật, Phật không đi không đến, có nơi nào Phật lại không hiện hữu. Nhưng làm thế nào để có một tấm lòng lặng lẽ và sáng suốt đạt được tâm Phật, ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đã khai thị cho chúng ta một hướng nhìn thâm diệu, cái nhìn Nhân Duyên để mọi sự ở đời không có gì vướng mắc, bận bịu và lang thang cùng với mộng mị.

“Các pháp do duyên sanh

Các pháp do duyên diệt

Duyên sanh các pháp sanh

Duyên diệt các pháp diệt”

(Tuệ Trung Thượng sỹ )

Duyên Khởi là một qui luật nền tảng chi phối vạn pháp thế gian suốt cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai được biểu hiện qua công thức Nhân – Duyên – Quả. Với cách nhìn này ta sẽ có được Chánh pháp trí. Tuỳ theo chiều kích thanh tịnh của tâm mà Chánh pháp trí có mức độ thô hoặc tế. Vì sao lại có thô, có tế? Theo kinh luận dạy, vạn pháp chỉ là tướng của tâm, còn Chân tâm hay tâm chân thật là tánh của tất cả các pháp. Một khi đã có Chánh pháp trí, chúng ta mới có cái nhìn như thật đến với vạn pháp ở thế gian. Từ đó mới đạt được an lạc hạnh phúc.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm luận rằng, tâm thể chúng sinh vốn thanh tịnh trùm khắp, nhưng vì không nhận thấy Không tánh, nên khởi bất giác mà sinh thấy hư vọng, cùng cảnh giới hư vọng. Gọi là hư vọng vì nó có tướngmà không có tánh. Cảnh giới hư vọng chỉ thị cho thân căn và thế giới mà chúng ta đang thọ nhận. Do cái thấy như vậy nên dưới mắt Chư Phật, Bồ Tát và Chư Tổ, thế gian là một trường đại mộng. Mộng đủ duyên thì có Tướng nhưng không có Tánh. Chúng ta lại không thấy đó là hư vọng nên sinh phân biệt tốt, xấu, yêu, ghét, vui, buồn, tham lam, đố kỵ… dẫn đến tương tranh, sát phạt tạo nên cảnh giới khổ đau.

Tâm Phật chính là cái tâm không sinh diệt của chính mình. Phật chính là cái Không; thanh tịnh chu biến, bao trùm khắp của Tâm. Nói rằng Phật với 32 tướng tốt chỉ là sở hiện của tự tâm mà thôi. Các kinh luận dạy rằng, chấp sinh diệt là một mê lầm, chấp không sinh diệt cũng là một mê lầm, cả hai cách chấp cũng đều mê lầm. Chỉ với cái nhìn tương đối về bản thân và về vạn hữu thì ắt thành Phật.

Nghe qua thật đơn giản, tuy vậy ta chỉ có thể thực hiện được ý chỉ này bằng chính sức mạnh tịnh hoá nội tâm của mình, đó là sức mạnh của xả ly. Xả ly là sự buông bỏ, không chắp giữ nỗi ám ảnh được phóng chiếu trong tâm thức, đó là những khái niệm được, mất, vui, buồn, khen chê, danh vọng và không danh vọng trong cõi thị phi. Bao lâu có đời sống giữ được công hạnh xả ly, thì lúc đó sẽ hiện khởi nên thực tại vô niệm.

Nói một cách mộc mạc hơn là phải xả ly những tâm niệm sinh diệt thì tâm không sinh diệt hiển lộ. Nhân vô sinh thì Quả mới vô sinh. Nhân là Phật tính thì Quả mới trở nên Niết Bàn. Nếu không gây nhân địa ngục trần gian thì ta sẽ không có cảnh giới địa ngục. Moị sự đều từ Tâm, theo Thức mà có sai biệt đa thù. Nói Tam giới duy Tâm, vạn pháp duy Thứclà như vậy. Ta suy ngẫm lời dạy của Tổ Tăng Xán, một trong Lục Tổ đã ghi lại trong một bài kể thế này:

“Mê, thì sinh lòng động, tịnh

Ngộ, thì chẳng ghét thương

Việc thua được hay thị phi

Hãy nhất thời buông bỏ quách”

(Nguyễn Duy Cần, dịch)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/06/202016:39(Xem: 538)
Tuy được duyên may tham dự khoá tu học Phật Pháp Úc Châu kỳ 19 tổ chức tại thủ đô Canberra và Ngài Ôn Hội Chủ thường xuyên hiện diện với hội chúng, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp đảnh lễ Ngài dù đã nhiều lần làm thơ xưng tán hoặc bày tỏ cảm nghĩ của mình khi đọc được tác phẩm được in thành sách hoặc trên các trang mạng Phật Giáo .
08/05/202008:14(Xem: 388)
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người có thật trong lịch sử văn minh nhân loại. Ngài tên là Tất Đạt Đa, dòng họ Thích Ca, sinh vào ngày trăng tròn tháng Năm, năm 624 trước dương lịch, tại vườn Lâm Tỳ Ni thành Ca Tỳ La Vệ miền trung Ấn Độ, bây giờ là nước Nepal. Thân phụ là Vua Tịnh Phạn trị vì vương quốc Thích Ca, Thân mẫu là Hoàng Hậu Ma Gia. Thân mẫu Ngài qua đời sớm, Ngài được Vương Phi Kế mẫu là em ruột của Mẹ, Dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề thương yêu và nuôi dưỡng như con ruột.
15/03/202018:11(Xem: 780)
Những điều nhận thức sai lầm theo thường thức phổ thông đều cho là sự thật; những điều nhận thức sai lầm như thế nào qua câu chuyện Điên và Không Điên mà tôi nhớ mường tượng như trong Kinh Bách Dụ có kể. Câu chuyện Điên và Không Điên như thế này: Ở vùng Thiên Sơn và Thông Lãnh, có một quốc gia nhỏ, trong đó tất cả thần dân uống nhằm nước suối có chất độc nên bị bệnh điên; ông vua hợp với quần thần thảo luận cách cứu chữa cho thần dân; nhóm thần dân bị bệnh điên cùng nhau tâu với vua của họ rằng, họ không có điên và ngược lại họ bảo ông vua mới bị bệnh điên; khi họ được vua trị hết bệnh thì họ mới biết họ bị bệnh điên. Câu chuyện này dụng ý cho chúng ta biết, có một số người nhận thức sai lầm mà không biết lại bảo người khác nhận thức sai lầm, không khác nào mình bị bệnh điên mà lại chụp mũ bảo người khác bị bệnh điên. Những điều nhận thức sai lầm, đại khái được trình bày như sau:
01/03/202016:44(Xem: 1115)
Kinh Viên Giác là kinh đại thừa đốn giáo được Phật cho đó là “Con mắt của 12 bộ kinh”. “Con mắt” ở đây theo thiển ý có nghĩa là Viên Giác soi sáng nghĩa lý, là điểm tựa, là ngọn hải đăng cho các bộ kinh để đi đúng “chánh pháp nhãn tạng”, không lạc vào đường tà và tu thành Phật. Khi nghe kinh này, đại chúng kể cả chư Phật và chư Bồ Tát đều phải vào chánh định/tam muội, không bình thường như những pháp hội khác.
28/11/201919:19(Xem: 1111)
Ấn độ là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới vì đất rộng, người đông, có dãi Hy mã lạp sơn cao nhất thế giới, có một nền văn minh khá cao và lâu đời, con số 0, số Pi (3,1416...) do người Ấn sử dụng đầu tiên trong toán học, Kinh Vệ Đà đã được người Ấn sáng tạo từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên, Ấn Độ là quê hương của đức Phật, hay nói khác hơn đó là nơi đạo Phật phát sinh, ngày nay đã lan tràn khắp thế giới vì sự hành trì và triết thuyết của đạo Phật thích ứng với thời đại. Do đó việcTime New Roman tìm hiểu về Ấn Độ là một điều cần thiết.
29/08/201920:49(Xem: 1816)
Trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca còn tại thế, nhất là thời giới luật chưa được chế định, 12 năm đầu tiên sau khi Ngài thành đạo, có nhiều tỷ kheo hay cư sĩ đã liễu ngộ, giải thoát, niết bàn chỉ ngay sau một thời thuyết pháp hay một bài kệ của Tôn Sư. Tại sao họ đặt gánh nặng xuống một cách dễ dàng như vậy? Bởi vì họ đã thấu hiếu tận gốc rễ (liễu ngộ) chân đế, tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ, chẳng động, chẳng khởi, chẳng sanh, chẳng diệt, không đến cũng không đi mà thường sáng soi. Khi họ thấu hiểu được vậy. Kể từ lúc đó, họ tín thọ và sống theo sự hiểu biết chơn chánh này. Họ luôn tuệ tri tất cả các pháp đều huyễn hoặc, vô tự tánh cho nên, họ không chấp thủ một pháp nào và thong dong tự tại trong tất cả các pháp.
26/08/201909:57(Xem: 1204)
Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật từng dạy rằng: Tín là nguồn của Đạo, là mẹ của công đức. Và nuôi dưỡng tất cả mọi căn lành. (Tín vi Đạo nguyên công đức mẫu,. Trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn.).Đạo Phật là đạo Giác Ngộ, muốn đạt được giác ngộ hành giả phải có niềm tin chân chính, mà niềm tin chân chánh ấy phải có cơ sở thực tế và trí tuệ đúng như thật. Trên tinh thần đó, đối với hệ thống Kinh Điển do Đức Phật truyền dạy trong 45 năm, người học Phật phải có cơ sở để chứng tín rằng đó là lời Phật dạy, cơ sở đó chư Tổ Đức gọi là Tam Pháp Ấn: 1/Chư Hành Vô Thường 2/Chư Pháp Vô Ngã 3/Niết Bàn Tịch Tĩnh Bất cứ giáo lý nào không dựng lập trên quan điểm này, thì Phật giáo xem là tà thuyết, và Tam Pháp Ấn này được xem là những nguyên lý căn bản của Phật Giáo.
07/07/201917:11(Xem: 1054)
Phật giáo không phải là tôn giáo để các tín đồ đến tham gia hay phát động như một phong trào, mà tự thân con người sau quá trình học hỏi, tư duy, nhận thức cốt lõi lời dạy của đấng Từ phụ, từ đó phát tâm tìm đến, thân cận và quy y Tam Bảo: ‘Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu - Tịnh tâm ý quy y Tam Bảo’. Với lòng tịnh tín bất động, con người đầu thành vâng giữ mạng mạch giáo pháp, dốc lòng phụng hành đạo lý mình chọn, con người nhờ vậy được chân lý, chánh pháp che chở, thành tựu ‘Phép Phật nhiệm màu – Để mau ra khỏi luân hồi’.
07/07/201915:41(Xem: 869)
Triết lý hay mục đích sống là lý tưởng, giá trị cốt lõi của mỗi người, chính vì thế mà ngày nay,hầu hết trong chúng ta, ai cũng có khuynh hướngtìm về sự thật, mộtgiải pháp cứu cánh, rốt ráo, an toànvì ‘hòa bình bền vững’, xã hội trật tự vàngày ngày an lành ... Hòa chungtrách nhiệm, bản hoài, thông điệp : ‘Chân lý chỉ có một’,[1]đồng nghĩa với ‘Sự lãnh đạo bằng chánh niệm’ qua cách tiếp cận của Phật giáo, mang vạn niềm vui đến với muôn loài. Thật vậy, Phật giáo với trọng trách mang ‘an vui lâu dài’, là nội dung cốt lõi của xã hội nhân loại, cũng là tiền đề cho một xã hội bền vững;trong đó mỗi cá thể cần củng cố,xây dựngnội tâmkiên cố dựa trên phương cách lãnh đạo bằng‘chánh niệm’, đểcùng nhìn lại, quán chiếu và cùng dẫn đến trách nhiệm sẻ chia …
29/06/201915:32(Xem: 2036)
"Nhân sinh": đời người, cuộc sống con người "Quan": cái nhìn, quan niệm "Nhân sinh Quan" nghĩa là "cái nhìn" hay "quan niệm" về đời sống của con người. A) Con người từ đâu mà có? Phật giáo giải đáp câu hỏi ngàn đời nầy bằng giáo thuyếtThập nhị Nhân duyên, tức là chuỗi 12 nhân duyên dây chuyền sau đây: 1) Vô minh: Do một niệm bất giác mà phát sinh mê lầm, chấp ngã chấp pháp, do đó mà khởi ra Phiền não - nên cũng gọi là Hoặc. Chúng ta không thể tìm ra điểm khởi đầu của sự Vô minhđã khởi đầu cho sự hiện hữu của chúng sinh và vạn vật, hữu tình cũng như vô tình.