Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

11. Vòng Thời Gian

06/10/201319:16(Xem: 2467)
11. Vòng Thời Gian
hoa_sen (42)


Khoa Học Phương Tây và Triết Học Phương Đông
Bài 11: Vòng Thời Gian
Kiều Tiến Dũng




Ngay từ lúc sinh ra đời, tôi đã bị một chứng bệnh nan y, đến nỗi cả hai nhà thương Grall của Pháp và nhà thương Cơ Đốc của Mỹ ở Sài Gòn vào lúc bấy giờ đã từ chối chữa trị, khuyên bố mẹ tôi đem thằng bé sơ sinh về lo hậu sự. Nhưng tôi đã sống sót, nhờ tình cờ gặp được người mách bảo cho thuốc Nam. Khi lớn lên, có lẽ nhờ câu chuyện ấy mà tôi lại càng thêm trân quý cái thời gian mình còn đang hiện hữu nơi cuộc sống này.

Về sau tôi cũng đã suýt chết đôi ba lần. Một trong những lần ấy là lần vượt biên thất bại vào năm 1977. Vào khoảng 2 giờ sáng một đêm không trăng không sao, một mình tôi phải gắng sức bơi tìm đường vào bờ từ ngoài khơi Nha Trang. Quanh tôi chỉ là sóng nước mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Hoảng hốt, tôi cứ loay hoay đứng nước mãi không biết phải làm gì. Thời gian như ngừng trôi. Cuối cùng, không thể chần chừ mãi vì đã bắt đầu kiệt sức, tôi đã phải chọn đại một hướng bơi, dù biết rằng mình có thể đang bơi mãi ra khơi để rồi phải chết đuối ở ngoài ấy.

Ngụp lặn trong một biển nước mênh mông, đâu đâu cũng như nhau, không một cột mốc định hướng, không gian sẽ trở thành vô nghĩa. Thời gian cũng vậy, nó cũng sẽ không mang một ý nghĩa gì cả khi không có một biến động nào để đánh dấu cho sự đổi thay. Một khi tâm tưởng đã bị đông cứng lại trong sự sợ hãi, khái niệm thời gian cũng sẽ không còn nữa.

Khái niệm thời gian có được là do những thay đổi của thế giới vật chất hay những biến động ngay chính trong tâm tưởng của ta.

**
Vật lý hiện đại định nghĩa một giây trong đơn vị của thời gian khách quan là khoảng thời gian của 9.192.631.770 lần giao động giữa hai mức năng lượng của nguyên tử cesium 133.

Còn cái thời gian chủ quan thì khỏi nói. “Mon âme a son secret, ma vie a son mystère, Un amour éternel en un moment conçu” -- Lòng ta chôn một khối tình, Tình trong giây phút mà thành thiên thu (Khái Hưng dịch).

Trong cái thời gian chủ quan, một đêm ân ái sẽ mãi là thiên thu:

“Ta có nhau đời tựa chiêm bao
Có trong dạ khúc lời tiêu dao
Mai sau trời có làm dâu biển
Vẫn hát thiên thu khúc ngọt ngào

Nhớ mãi đêm vàng như đêm qua
Vầng trăng tình sử, gió khoan hòa
Khắc trong tâm cảm thâm tình ấy
Trăng ở lòng em, gió ở ta

Hừng sáng chim muông thức gọi bầy
Tay còn quấn quýt ở trong tay
Níu nhau từng phút trong mê hoặc
Rượu ở môi người, trời đất say”

(Hà Huyền Chi)

**
Thời gian vẫn còn là một bí ẩn trong khoa học ngày nay, dù nó đã đi từ cái tuyệt đối, độc lập với không gian trong cơ học Newton đến cái tương đối, hòa lẫn với không gian trong thuyết của Einstein. Ngay cả trong cơ học lượng tử, thời gian vẫn là một ngoại thể xa lạ được áp đặt từ bên ngoài, không như một cấu trúc được tạo dựng từ bên trong như trường hợp của thuyết Tương Đối Rộng. Nhưng cho tới nay mọi cố gắng để thống nhất cơ lượng tử và thuyết Tương Đối Rộng trong cái lý thuyết gọi là Trọng Trường Lượng Tử (Quantum Gravity) đã đi từ thất bại này đến thất bại khác, chủ yếu là do ta không biết làm cách nào để giải quyết hay diễn dịch những số lượng vô hạn trong lý thuyết này. (Ở nơi đây, ta chưa vội bàn đến “thuyết sợi” (string theory).)

Điều khó hiểu là những định luật vật lý ở mức cơ bản nhất, trừ một vài hiện tượng riêng lẻ, đều có thể đi ngược lại dòng thời gian – thời gian dường như có hai chiều. Thí dụ, một phân tử mực màu đen bắt đầu từ điểm A đi đến điểm B trong một ly nước, thì sau đó nó cũng có thể đi từ B ngược trở lại A -- không có một định luật vật lý nào cấm cản điều đó cả. Nhưng khi ta nhỏ một giọt mực đen, gồm nhiều phân tử mực, vào ly nước trong thì dần dần các phân tử đó sẽ tỏa ra nhuộm màu cả ly nước. Và chưa bao giờ ta thấy từ một ly nước nhuộm màu, các phân tử bỗng dưng tụ lại thành giọt mực ban đầu, trả lại cho ta một ly nước trong vắt.

Để giải thích những sự kiện như trên, vật lý đã cần tới khái niệm gọi là entropy, là một khái niệm áp dụng cho nhiều phần tử trong một hệ thống, như những phân tử mực trong giọt mực kia. Cái dòng chảy một chiều của thời gian -- đi từ sanh, trụ, hoại, đến diệt – được giải thích qua một định luật là tổng lượng entropy của một hệ kín không thể giảm đi. Nó chỉ có thể tăng lên khi hệ đó bị lão hóa; hay cuối cùng là không thay đổi nữa ở cái quân bằng và cũng là ở cái chết sau cùng.

(Xin mở ngoặc ở đây là ngày nay cái khái niệm entropy còn được dùng trong ngành tin học và việc mật mã hóa các tín hiệu.) Định luật không giảm thiểu của entropy có thể giải thích nôm na như sau. Khi các phân tử mực tỏa đều trong ly nước thì entropy của nó lớn hơn là khi các phân tử này tụ lại trong một giọt mực ở một góc của ly nước. Mặt khác, nói về xác suất thì trạng thái mực hòa đều trong nước lại dễ xuất hiện hơn vì có nhiều cách để bố trí các phân tử mực khắp cùng ly nước, hơn là số cách để bố trí các phân tử này trong một giọt mực. Do đó entropy sẽ đi dần từ lượng nhỏ đến lượng cao, rồi đến mức nào đó thì không tăng được nữa.

Cũng từ định luật entropy không thuyên giảm này đã nảy sinh ra nhiều tranh cãi là vũ trụ của chúng ta đang hiện hữu nơi đây, như một hệ kín, rồi cũng sẽ phải đi đến một cái chết sau cùng (gọi là heat death) hay không. Hy vọng sẽ có dịp trở lại vấn đề này trong đề tài về nguồn gốc và cấu trúc của vũ trụ trong một lần nào khác.

**
Các định luật cơ bản của từng phần tử riêng lẻ có thể đi ngược thời gian như thế thì có gì mâu thuẫn với cái định luật entropy không bao giờ giảm thiểu hay không, mặc dù entropy chỉ áp dụng cho hệ có rất nhiều phần tử?

Henry Poincare, nhà toán học người Pháp, đã chứng minh qua toán học được rằng là nếu ta kiên nhẫn chờ đợi thì các phân tử mực nhuốm đen ly nước sẽ có lúc tự tụ ngược trở lại vào giọt mực ban đầu! Định luật không giảm thiểu entropy do đó chỉ có thể trì hoãn, chứ không thể, theo các lý luận toán học, mãi mãi cản ngăn cái vòng trở lại của thời gian. Nhưng chu kỳ tuần hoàn Poincare (Poincare cycle) này lại rất dài; chỉ với một giọt mực nhỏ bé ta đã phải chờ một chu kỳ dài hơn cả cái tuổi của vũ trụ này!

Dĩ nhiên, ngay cả ly nước cũng không thể tồn tại lâu dài đến thế để ta có thể chứng kiến việc hội tụ trở lại giọt mực ban đầu. Trừ phi, trừ phi thay vào giọt mực đó lại là tình yêu. Vì có người, nhất là những kẻ đang yêu, cho rằng tình yêu là thiên thu. Và nếu tình yêu tồn tại mãi thiên thu thì chàng sẽ có cơ hội trở lại cái:

“Phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng
Lòng đang giá băng, bỗng ngập tràn bao tia nắng
Nghe bao xót xa vụt bay theo cánh chim ngàn”

(Tùng Giang)

Nhưng không biết là chàng lúc ấy, sau một thiên thu dài đăng đẳng, còn muốn, hay còn dám, trở lại giây phút ban đầu “dại dột” ngày xưa ấy nữa chăng?

**
Chu kỳ Poincare có thể đem so sánh với chuỗi ngày lập đi lập lại trong cuốn phim “Groundhog Day” ra đời vào năm 1993. Phim kể về một người đảm trách mục khí tượng tên là Phil trên một đài TV. Trong một dịp tường trình về ngày lễ mang tên Groundhog Day ở một ngôi làng xa xôi, thì vì một lý do nào đó Phil đã bị mắc kẹt vào một cái vòng thời gian, ngày hôm sau cũng lại bắt đầu lại cái ngày hôm trước đã sống qua. Như thế, một ngày là một chu kỳ Poincare.

Lúc đầu ông đã lợi dụng sự kiện này để sống hưởng thụ và làm bất cứ điều gì mà không sợ đến hậu quả, vì ngày mai ông lại có thể bắt đầu lại từ đầu của ngày hôm nay. Nhưng cứ thế dần dà cuộc sống, và cả thời gian nữa, trở nên không còn ý nghĩa. Sau cùng, Phil đã thay đổi cuộc sống và tìm ra được ý nghĩa cho nó. Và chỉ khi đó Phil mới phá vỡ được cái vòng thời gian ác nghiệt này.

Nếu so sánh một cách xa xôi hơn, thì mỗi ngày lập đi lập lại của Phil có thể ví như một kiếp sống trong vòng tái sinh luân hồi. Và con người chỉ có thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này khi ta nhận thức được nó và sống sao cho có ý nghĩa đích thực -- ngay trong lúc này.

Năm 2006, cuốn phim Groundhog Day đã được Cơ quan Lưu Ký Phim Ảnh Quốc Gia Hoa Kỳ (United States National Film Registry) chính thức công nhận là một cuốn phim đáng kể về văn hóa, lịch sử và có giá trị thẩm mỹ.

**
Cái vòng thời gian đã được ghi nhận từ ngàn xưa từ Đông sang Tây với sự tuần hoàn thể hiện đầy rẫy quanh ta: ngày nối ngày ; thủy triều lúc dâng lúc rút; mùa cứ tiếp mùa; tinh tú cứ vần xoay rồi lại xoay vần. Ngay chính chúng ta cũng từ cát bụi mà ra, và cũng đến bụi cát mà về. Dường như mọi sự vật đều diễn biến theo một phương hướng nào đó, khi tới mức cùng tột không thể tiến triển được nữa thì lại chuyển biến mà quay trở lại theo chiều nghịch với phương hướng cũ. Cứ như thế mãi, không bao giờ thôi.

Người Ai Cập cổ đã dùng hình ảnh gọi là Ouroboros của một con rắn ngậm cái đuôi của chính mình để nói lên các chu kỳ sinh-tử, đến-đi, tự sáng tạo rồi hủy hoại của vạn vật. Ouroboros còn nói lên hình tượng của những gì có từ khởi thủy và sẽ tồn tại mãi không bao giờ dập tắt được. Trong cái biến là cái bất biến.

Những cái không thể dập tắt được cũng chính là cái nguyên động lực thúc đẩy sự biến chuyển của vũ trụ và được Kinh Dịch gọi là các nguyên tố âm và dương. Kinh Dịch, dù đấy là biến dịch, giao dịch hay bất dịch, đã nói lên sự đổi thay và những gì lại không bao giờ thay đổi sau những đổi thay đó. Mà nói đến thay đổi là phải nói đến thời gian.

Do đó, nếu phải tóm gọn toàn bộ Kinh Dịch bằng một chữ thì đấy phải là chữ Thời. Thật vậy, 64 quẻ Dịch là 64 Thời, 384 hào cũng lại là 384 thời nhỏ nằm trong 64 thời lớn. Mỗi thời nhỏ ấy, của mỗi hào đi từ dưới lên trên trong mỗi quẻ, lại nằm trong những hoàn cảnh, tình huống tạo nên các thời thế, và thời cơ khác nhau của cá nhân và tập thể, đất nước và luôn cả thế giới loài người.

Nói về chữ Thời thì tiếng Hy Lạp phân biệt rất rõ ràng hai nguyên tắc được gọi là Chronos và Kairos. Chronos nói về lượng thời gian; trong khi đó Kairos lại chỉ về phẩm, tức là thời cơ -- tốt hay xấu, đúng hay sai. Chữ Thời trong Kinh Dịch phải được hiểu theo cái ý nghĩa của thời cơ như cái khái niệm Kairos này.

Theo cái nhìn của dịch học thì vì có âm dương tương sinh, tương diệt, tương xung, tương khắc, lưỡng phân, lưỡng hợp mà vạn thể mới có thể chuyển vận. Cũng vì chỉ có cái nhị thể âm dương song hành này, và không thể chỉ có độc dương hay cô âm, mà mọi vật đều động chuyển; và một khi đã đi đến mức cùng cực thì chỉ có một đường là quay trở lại mà thôi. Đấy là một định luật bất biến: Cực thịnh tắc suy, vật cùng tắc biến, mà biến là phản phục. Nhờ luật phản phục này mà sự vật trong vũ trụ không bị tắc, bị cùng, mới thông được, mới sinh hóa hoài hoài được.

Thời phản của dương là thời phục của âm, thời phục của dương là thời phản của âm. Cứ một lần phản, một lần phục, phục rồi lại phản, như vậy thành luật tuần hòan.

“Vô bình bất pha, vỗ vãng bất phục” -- Không có gì bằng mãi mà không nghiêng, đi mãi mà không trở lại.

“Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục” -- Vận trời tráo đi trở lại, cứ bảy ngày thì trở lại. Chữ ngày (nhật) ở đây thay cho chữ hào mỗi ngày là một hào, một lần biến; cứ bảy ngày thì trở lại vì mỗi quẻ có 6 hào. Có lẽ do câu này mà y học Trung Hoa cho rằng khí huyết người ta bảy ngày thì thay đổi. Về khí tiết trong một năm thì là bảy tháng, từ tháng năm tới tháng mười một âm lịch ở bắc bán cầu, là có sự đổi thay.

Từ sự vận hành của mặt trời mặt trăng: “Nhật trung tắc trắc, nguyệt doanh tắc thực” -- Mặt trời tới đỉnh đầu rồi thì xế, mặt trăng đầy rồi thì khuyết, Kinh Dịch cũng đã kết luận: “Chung tắc hữu thủy, thiên hành dã” -- Hết rồi thì bắt đầu lại, đó là sự vận hành của trời.

Bắt đầu từ quẻ thuần dương có 6 vạch hào dương là quẻ Càn, thì khi suy hóa đến cùng sẽ biến thành quẻ thuần âm với sáu vạch hào âm đứt đoạn được gọi quẻ Khôn. Nhưng tiếp theo quẻ Khôn là quẻ Phục, một hào dương lại sinh. Khôn là âm cực thịnh, từ đó lại suy lần, khi suy hóa tới cùng, 6 hào âm bị 6 hào dương chiếm ngôi hết thì lại trở thành quẻ Càn. Rồi tiếp theo quẻ Càn là quẻ Cấu, một hào âm lại sinh, v.v.

Trong kinh Dịch, luật phản phục được tượng trưng bằng quẻ Phục. Quẻ này gồm năm hào âm ở trên và một hào dương ở dưới. Khi khí âm đã phát đến cực điểm (sáu hào cùng là âm cả, tức tháng 10 âm lịch là lúc lạnh nhất) thì một hào dương xuất hiện ở dưới, nghĩa là khí dương bắt đầu sinh trở lại. Do đó mà quẻ có tên là Phục (trở lại), biểu hiện cho tháng 11 âm lịch, ngày đông chí (tức là ngày ngắn nhất trong năm ở bắc bán cầu, cũng là lúc mà mặt trời xuống tới điểm thấp nhất về phía nam trên bầu trời để sau đó bắt đầu quay trở lại phía bắc).

Vì vậy “Phục kì kiến thiên địa chi tâm” -- Xét quẻ Phục mà biết được lòng hiếu sinh của trời đất.

**
Đạo Đức Kinh ra đời sau Kinh Dịch và cũng đã tiếp nối cái nguyên lý âm dương và quy luật phản phục, cũng là quy luật quan trọng nhất của Đạo.

Sau Kinh Dịch thì cuốn sách nói nhiều đến phản phục phải là Đạo Đức Kinh của Lão tử: “Vật cực tắc phản”; “Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản” -- ([Đạo] lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về). Và thêm nữa: “Phản giả, đạo chi động” -- Luật vận hành của đạo là quay trở về.

Ngoài chữ phản, Lão Tử còn dùng thêm chữ phục: “Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục” -- Xem vạn vật sinh trưởng, chúng ta thấy được qui luật phản phục. Phản hay phục thì nghĩa cũng như nhau, đều là quay trở về cả.

“Đạo trời giống như buộc dây cung vào cây cung chăng? Dây cung căng quá thì hạ nó xuống, chùng quá thì nâng nó lên; dài quá thì bỏ bớt đi, ngắn quá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu” -- Thiên chi đạo, tổn hữu dư, nhi bổ bất túc.

Đối với Đạo, vật nào cũng ngang nhau, không có quí-tiện, không có họa-phúc vì “hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của hoạ” (hoạ hề phúc chi sở ỷ, phúc hề hoạ chi sở phục), “chính có thể biến thành tà, thiện có thể thành ác” (chính phục vi kì, thiện phục vi yêu). Tất cả chỉ là tuỳ thời biến hoá, lúc này là quí, là phúc, là chính, là thiện thì lúc khác là tiện, là hoạ, là tà, là ác. Tất cả những thứ đấy đều là tương đối.

Vạn vật từ “không” mà sinh ra, mới đầu còn nhỏ, yếu (như vậy là bất túc), lần lần lớn lên, mạnh lên – tức là được bồi bổ. Khi lớn, mạnh tới cực điểm rồi (như vậy là hữu dư ) thì trở ngược lại, nhỏ đi, yếu đi – tức là bị giảm, tổn đi; giảm lần, suy lần cho tới khi trở về “không”. Thế là xong một vòng.

**
Tôi rất thích những bức tranh của họa sĩ nổi danh Maurits Escher, người Hòa Lan. Trong một bức tranh, Escher lồng một tấm tranh hai chiều khác được vẽ nằm trên mặt bàn. Trên hình vẽ hai chiều làm nền cho bức tranh chính đó lại là hình ảnh những con cá sấu xen kẽ lẫn nhau, khít rịt. (Xin mở ngoặc, tấm tranh hai chiều làm nền này cũng là phác họa của một bức tranh nỗi tiếng khác của Escher.) Từ tấm tranh phẳng lì hai chiều này, một nửa thân trên của một con cá sấu bắt đầu nhú lên trong không gian 3 chiều. Rồi con cá sấu đó hiện nguyên hình 3 chiều, bò dần lên một cuốn sách đặt bên cạnh chai rượu whiskey. Con cá sấu cứ tiếp tục bò đi lên những đồ vật trên bàn; tới điểm cao nhất thì nó có vẻ hung hãn nhất, khói xì ra cả hai lỗ mũi. Sau đó, nó bắt đầu bò xuống bao thuốc lá; rồi đi dần xuống thấp. Cuối cùng, nó trở về lại tấm tranh hai chiều lúc ban đầu, từ không gian 3 chiều để tan biến vào một mặt phẳng hai chiều.

Thành, trụ, hoại, không được gói ghém trọn vẹn trong một bức tranh!

**
“Vành vũ trụ khép khung trời xa tít
Thắp ngàn sao nhấp nháy dệt tầng không
Một mình ta phiêu bạt giữa mênh mông
Ôm hư vô thả xuống bờ băng giá

Vọng âm vang, vẳng nghe hồn sỏi đá
Tấm hình hài xơ xác mảnh hồn đau
Ta vẳng nghe tiếng nói của thiên thu
Gõ khoan nhặt trên nhịp cầu còn-mất

Cát bụi bay trả về cho đất
Sương gió bay trả lại cho trời
Một mình ta độc lữ không thôi
Đi đi mãi con đường không sắc

Không, ta trả về cho sắc
Sắc, ta trả về cho không
Tử sinh hai nẻo bềnh bồng
Chân thân hồi quan tự kỷ

Vành vũ trụ khép khung trời vô thủy
Nẻo hư vô khép cánh cửa vô chung
Ta cứ đi, không có điểm cuối cùng
Gói hành trang là Ưu Đàm vô nhiễm”

(Mặc Giang)

[Tương truyền Ưu Đàm là loài hoa quý, ba ngàn năm mới nở một lần.]

**
Sau quẻ thứ 63 là quẻ Ký Tế (nghĩa là đã xong việc) thì Kinh Dịch được kết thúc ở quẻ thứ 64 là quẻ Vị Tế (nghĩa là chưa xong việc). Ý nghĩa của người xưa muốn nhắn gởi ở đây là mọi sự việc tưởng chừng như đã kết thúc nhưng thực ra thì không bao giờ thật sự kết thúc. Sự chuyển động, thay đổi nói chung là không có đầu mà cũng chẳng có cuối. Một cánh cửa khép lại cũng là lúc một cánh khác mở ra; kết thúc của một sự việc lại là mở đầu cho một sự việc khác; ngày tiếp ngày; con nối cha; ngay cả vũ trụ cũng không thoát khỏi vòng tử sinh.

Từ đó dịch học có cái luật tuần hoàn, từ cực thịnh qua suy vi, tới diệt vong, từ diệt vong lại phát sinh để tiến triển đến chỗ cực thịnh. Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai.

Nhưng ta cũng không cần đến Kinh Dịch để ý thức được rằng tình trạng hiện tại khốn cùng của dân tộc, nguy cập của đất nước không thể được phép tồn tại như thế mãi được.

Chỉ còn hai con đường đi tới: một là chấp nhận diệt vong, hai là tranh đấu để sống còn và được sống còn như thế nào. Sự chọn lựa là quá rõ ràng -- nhưng sẽ đòi hỏi biết bao công sức, hy sinh.

“Freedom is not free” – Vâng, sự tự do không phải là miễn phí!

Kiều Tiến Dũng
Melbourne, Úc Châu
Tháng 8, 2013




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/12/202122:49(Xem: 468)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/202107:50(Xem: 1890)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/202120:16(Xem: 793)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/202120:37(Xem: 507)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/202104:25(Xem: 742)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/202118:59(Xem: 685)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/202110:22(Xem: 2340)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
01/09/202118:55(Xem: 1461)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
22/08/202121:31(Xem: 577)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/202117:33(Xem: 898)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.