Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tiết 3: Phật giáo Ấn Độ thời cận đại

05/01/201202:25(Xem: 1427)
Tiết 3: Phật giáo Ấn Độ thời cận đại

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm- Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG XII
TỪ MẬT GIÁO THỊNH HÀNH ÐẾN PHẬT GIÁO CẬN ÐẠI

TIẾT III. PHẬT GIÁO ẤN ÐỘ THỜI CẬN ÐẠI

- Buổi bình minh của sự phục hưng.

Phật giáo Ấn Ðộ sau khi bị Hồi giáo tiêu diệt thì liền “tiêu thanh nặc tích” (không còn lộ diện công khai), thời gian này nhằm vào đời vua Ninh Tông nhà nam Tống (1195-1224).

Về chính trị, sau khi Hồi giáo chiếm cứ Ấn Ðộ và thiết lập đế quốc Mạc Ngột Nhi, tiếp theo người châu Âu da trắng cũng đánh chiếm và thuộc địa háo Ấn Ðộ, như người Bồ Ðào Nha, người Hà Lan, người Pháp và người Anh. Sau cùng toàn cõi Ấn Ðộ đặt dưới thống trị của người Anh. Năm 1877, họ thành lập đế quốc Anh - Ấn, và lấy nữ vương của Anh quốc là Duy Ða Lợi Á (Victoria) làm vị hoàng đế cho Ấn Ðộ. Ðến năm 1948, Ấn Ðộ mới dành được độc lập từ tay người Anh. Nhưng một năm trước khi trả độc lập cho Ấn Ðộ, chính phủ Anh quốc phải đứng ra làm giám đốc, bằng cách chia bản đồ Ấn Ðộ thành hai nước là Ấn Ðộ và Pakistan; nguyên do là vì tín đồ Hồi giáo và Ấn Ðộ giáo luôn coi nhau như cừu địch.

Sở dĩ xảy ra tình trạng này là do đất nước Ấn Ðộ trong một thời gian dài bị nhiều dị tộc xâm nhập và thống trị, đồng thời có rất nhiều thành phần trí thức không chịu kích động bởi các tư trào tự do dân chủ của thời đại. Do đó, yêu cầu dành độc lập dân tộc là yêu cầu bức thiết đối với họ.

Khởi đi từ chủ trương dân quyền bình đẳng, muốn vậy thì Ấn Ðộ phải độc lập. Ðể làm được điều này, bấy giờ giới trí thức Ấn Ðộ hô hào đoàn kết toàn dân để chông slại thế lực ngoại xâm. Mọi người dân Ấn đã đồng tình với sinh hoạt bi khổ của giai cấp tiện dân. Nhân đó, thành Cam Ðịa (Gandhi) ứng vận mở cuộc vận động đấu tranh dành độc lập. Thánh Gandhi kiên trì bất hợp tác với người Anh. Và đề ra chủ trương đấu tranh bất bạo động để phản kháng chính phủ Anh Cát Lợi. Ông phục trang theo tầng lớp tiện dân, đồng thời đề cao lòng tự tôn của giai cấp này.

Như mọi người đều biết, Ấn Ðộ giáo là tôn giáo của chủ nghĩa giai cấp. Ấn Ðộ giáo có khả năng chịu đựng sau mấy trăm năm bị Hồi giáo xâm nhập và thống trị mà không bị diệt vong, đó là nhờ tinh thần chiến đấu ngoan cường của họ. Vì vậy, chủ trương bất bạo động, và tư tưởng bình đẳng đối với giai cấp tiện dân của thánh Gandhi hoàn toàn không phải là sản vật của Ấn Ðộ giáo. Mặt khác, tư tưởng này của Gandhi rất ăn khớp với giáo lý nhà Phật. Chính thánh Gandhi cũng đã từ phát biểu: “Trong Ấn Ðộ giáo có những cách tiếp xúc không thể coi đó là giáo qui, mà đó là một bộ phận của sự hủ hóa, hoặc đó chỉ là ung nhọt mà thôi”. Ông lại nói: “xin hãy nhìn vào lòng từ bi của các vị Bồ tát (liên hệ đến đức Thích Tôn), họ không những chỉ thể hiện lòng từ bi đối với nhân loại, mà họ còn rộng thể hiện lòng từ bi đối với tất cả mọi sinh vật”. (Cam Ðịa Tự Thuật Truyện - chương bảy).

Trên thực tế, ngày nay nhân dân Ấn Ðộ không còn nhìn Phật giáo bằng ánh mắt ghét bỏ; đàng khác, họ lại coi Phật giáo là tôn giáo mang lại vinh quang cho tổ quốc họ. Thậm chí vị Tổng lý của Ấn Ðộ là Ni Xích Lỗ (Neru) còn nói: “Ấn Ðộ là tổ quốc của đức Phật, giáo nghĩa của Ngài luôn luôn sùng thượng (yêu chuộng) hòa bình, thế giới này nên tuyên dương chủ nghĩa hòa bình của Phật giáo, riêng Phật tử chúng ta, mỗi người nên gánh lấy trách nhiệm này”(18)

Hiện nay Phật giáo tại Ấn Ðộ tuy mới phục hưng chẳng khác như ngày mới rạng đông. Nhưng so về dân số (tín đồ) với các tôn giáo lớn tại Ấn Ðộ, thì Phật giáo đứng vào hàng thứ sáu, xin liệt qua biểu đồ dưới đây:

1. Ấn Ðộ giáo có: 303.186.986 tín đồ.

2. Hồi giáo có: 35.150.117 tín đồ.

3. Cơ đốc giáo có: 8.157.765 tín đồ.

4. Tích Khắc giáo có: 6.129.134 tín đồ.

5. Kỳ na giáo có: 1.618.406 tín đồ.

6. Phật giáo có: 180.769 tín đồ.

7. Bái Hỏa giáo (Thỉ giáo) có: 111.791 tín đồ.

8. Do Thái giáo có: 26.781 tín đồ.

9. Tôn giáo các bộ lạc nguyên thỉ có: 16.189 tín đồ.

Số thống kê trên được thực hiện vào năm 1960, trích trong “Phật giáo Ðại Niên Giám”, xuất bản tại Nhật Bản năm 1960, trang 176.

Trong số các tôn giáo nêu trên, thì Tích Khắc (Sikhism) giáo ra đời vào năm 1469 tây lịch. Người sáng lập là Giáo chủ Guru Nanak. Ông là người ở Bàng Giá Phổ, xuất thân từ giai cấp võ sĩ, ông nhận thấy hai tôn giáo lớn là Ấn Ðộ và Hồi giáo cứ luôn xung đột nhau. Nhân đó ông nghiên cứu giáo lý của hai tôn giáo này, và phát hiện thấy Ấn Ðộ và Hồi giáo cả hai cùng tôn thờ một Thượng đế, và vị Thượng đế này vượt qua sức suy tưởng của nhân gian, và tồn tại vĩnh hằng. Do đó, ông chủ trương tín ngưỡng chân thuần về nội tâm, và không đồng ý việc sùng bái ngẫu tượng.

- Phật Giáo được trọng thị.

Thời gian gần đay, tư tưởng Phật giáo trở thành nhu yếu cho công cuộc vạn động dành độc lập của dân tộc Ấn Ðộ. Về hình diện quốc tế, có rất nhiều học giả Phật giáo, và những học giả này đem lại nhiều hy vọng mới mẻ cho Phật giáo thế giới nói chung và Phật giáo Ấn Ðộ nói riêng. Nhờ sự liên tục phát hiện và khai quật những di tích cổ của Phật giáo Ấn Ðộ. Thông qua việc nghiên cứu và khảo sát Phật điển bằng Phạn văn và Ba Lị văn được công bố rộng ra thế giới. Phật giáo tuy là tôn giáo già lão, nhưng giáo nghĩa của đức Phật được phát hiện là rất tươi mát, mới lạ, và phù hợp với yêu cầu của tư trào thời đại ngày nay.

Phối hợp với tình thế hiện đang của Phật giáo, chính phủ Ấn Ðộ đặc biệt thiết lập ra một bộ phận chuyên nghiên cứu các cổ vật Phật giáo. Phái viên khắp bốn phương cùng đến Ấn Ðộ truy tầm di tích Phật giáo. Hiện nay vùng đất nào phát hiện và khai quật được di tích Phật giáo thì liền được nhà nước Ấn Ðộ đứng ra bảo hộ; đồng thời chính phủ cũng cho sửa sang lại cảnh trí di tích, như tại Gia Nhĩ Cát Ðáp và vườn Lộc Uyển (Sarnath) v.v... Chính phủ Ấn Ðộ cho thành lập Bác vật quán để trưng bày, và bảo quản các cổ vật của Phật giáo nhằm cung cấp cho các học giả từ nhiều nước đến chiêm bái, và ngắm nhìn thánh tích.

Theo cư sĩ Châu Phi, thì: ”Trong vòng mười năm trở lại đây, chính phủ Ấn Ðộ đã cho rải nhựa các công lộ dẫn đến các Thánh địa Phật giáo một cách thoáng rộng, và cho bắt hệ thống chiếu sáng tại các Thánh địa này. cũng như tại mỗi Thánh địa Nhà nước Ấn Ðộ đều có thiết lập sở chiêu đãi để tiếp đón khách thập phương từ các nơi trên thế giới về chiêm bái Phật tích. Ðồng thời, bên trong phòng thủ trưởng của các cơ quan công quyền, ngoài việc treo di ảnh thánh Gandhi, đa số còn treo thêm một bức Phật Ðà thánh tượng(19).

Ðể biểu hiện sự trọng thị Phật giáo, năm 1956 chính phủ Ấn Ðộ dứng ra tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày đức Thích Tôn diệt độ lần thứ 2500. Năm 1960, nhà nước Ấn Ðộ cho kiến thiết một công viên để tưởng niệm đức Phật tại Ðức Lý (Buddhajayanti Park). Năm 1964, được sự hiệp trợ của Nhà nước Ấn Ðộ, Phật giáo Ấn Ðộ đứng ra triệu tập Phật giáo đồ trên thế giới qui tụ về Lộc Dã Uyển để dự đại hội “Liên Nghị Hội Phật giáo Ðồ”. Chính là do sự trọng thị Phật giáo của chính phủ Ấn Ðộ mà bất kỳ người nước ngoài nào đến Ấn Ðộ chiêm bái thánh tích Phật giáo đều nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của chính phủ và người dân Ấn Ðộ. Cụ thể như vào tháng giêng, năm 1940, đại sư Thái Hư đến thăm Ấn Ðộ, Phật giáo Ấn Ðộ đứng ra triệu tập Phật giáo đồ trên thế giới qui tụ về Lộc Dã Uyển để dự đại hội “Liên Nghị Hội Phật giáo Ðồ”. Chính là do sự trọng thị Phật giáo của chính phủ Ấn Ðộ mà bất kỳ người nước ngoài nào đến Ấn Ðộ chiêm bái thánh tích Phật giáo đều nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của chính phủ và người dân Ấn Ðộ. Cụ thể như vào tháng giêng, năm 1940, đại sư Thái Hư đến thăm Ấn Ðộ, ông có cảm tác một bài thơ tứ tuyệt dưới dạng ký sự như vầy: “Gandhi - Neru và Thái Hư, được triệu triệu tiếng hoan hô từ người dân, từ Ba La Nại đến Câu Thi La, một con đường luôn vui không dứt”.

Lại nữa, năm 1963, pháp sư Bạch Thánh hướng dẫn phái đoàn người trí huệ đến Ấn Ðộ chiêm bái Thánh tích Phật giáo, phái đoàn cũng nhận được sự tiếp kiến thân thiết của ngài Tổng lý Ấn Ðộ - Ni Xích Lỗ.

Những điều này cần yếu để giới thiệu Phật giáo Ấn Ðộ thời cận đại, tất phải ghi nhận và tán dương công đức của hai vị cư sĩ vĩ đại. Ðó là cư sĩ Ðạt Ma Ba La và cư sĩ An Bồi Khắc.

Cư sĩ Ðạt Ma ba La (Dgarnapàka - Anagarika 1864-1935). Ông sinh ra trong một gia đình chuyên tạo và buôn bán đồ gia dụng ở Tích Lan, cả gia đình ông đều là Phật tử , riêng ông được gia đình cho theo học tại một trường Cơ Ðốc giáo, do vậy ông là người tiếp nhận giáo dục Cơ Ðốc giáo. nhưng ông không tiếp thu tín ngưỡng Cơ Ðốc. Về sau ông được một tín đồ Phật giáo có quốc tịch Hoa Kỳ cảm hóa, đó là ông Colonel Henry Stell Olcott (1832-1807). Nhờ đó đối với Phật giáo ông khởi tín niệm một cách kiên cố, và đi sâu vào nghiên cứu Phật học. Ông phát thệ nguyện đem thân mệnh này suốt đời để phục hưng Phật giáo, và coi đó là mục đích.

Vào năm 1891, đầu tiên ông đến Ấn Ðộ, và chiêm bái tại Lộc Dã Uyển, ông nhận thấy các Thánh địa cổ xưa nay đã thành cảnh tượng hiu quạnh, tiêu sơ, rồi ông lại đến Phật Ðà Ca Da - nơi đức Phật thành đạo. Năm ấy ông được hai mươi chín tuổi, Ðức Thích Tôn xuất gia cũng năm hai mươi chín tuổi. Cũng cùng năm này, lần thứ hai ông đến thăm các Thánh địa. Ông hạ quyết tâm nhất định triệu tập hội nghị Phật giáo đồ quốc tế vào hạ tuần tháng mười hai năm 1891, và khởi xướng công cuộc trùng hưng các Thánh địa Phật giáo.

Năm 1892, ông dùng “mối quan hệ giữa Ấn Ðộ giáo và Phật giáo” làm chủ đề, và lần lượt truyền đạo đến Gia Nhĩ Cát Ðáp; ông sáng lập sở Ðại Bồ Ðề Hội Sự Vụ, và cho ra đời tạp chí Ma Ha Hồ Ðề, ông dùng tạp chí này làm mối liên lạc với các giáo hữu nhiều quốc gia trên thế giới. Tiếp đó, ông viếng thăm Hoa Kỳ, ông đến Hạ Uy Di, Âu châu, Nhật Bản v.v... tại các nơi đến thăm, ông đều nhận được sự viện trợ, nhờ đó mà đại Bồ Ðề Hội (Mahabodhi Society) của ông cuối cùng được hình thành. Ông quan niệm, sau tám trăm năm Phật giáo Ấn Ðộ bị đọa đày, nay đã đến lúc Phật giáo về lại cố hương, vì đã là con người thì không ai tránh khỏi hưng suy. Theo ông, đức Phật là người vượt lên tất cả mọi tín điều và giai cấp. Ông coi việc phục hưng Phật giáo tại Ấn Ðộ như là “món quà” tặng cho người dân Ấn.

Công tác phục hưng Phật giáo tại Ấn Ðộ của cư sĩ Ma ha Ba la phải trải qua bốn mươi năm hơn, trong đó có những việc như: rộng truyền giáo lý của đức Phật, tài bồi nhân tài, thiết lập cơ cấu phân chi, tạo tiện lợi cho các giáo hữu từ nhiều quốc gia trên thế giới đến chiêm bái các thánh tích Phật giáo. chẳng hạn như Ma ha Bồ Ðề Xã tại vườn Nai, tại đây những người đến chiêm bái Thánh tích đều có nơi nghỉ trọ miễn phí, nhưng về ẩm thực thì tự lo, hiện nay tại Gia Nhĩ Cát Ðáp cũng chuyên cung cấp phòng xá lưu trú cho các giáo hữu đến triều bái Phật tích.

Ông ngã bệnh và từ trần vào ngày 28 tháng 4 năm 1933. Ông lưu lại cho Phật giáo Ấn Ðộ cơ hội tái hiện công đức Phật sự, khiến cho hậu thế luôn kính trọng và tán dương công đức của ông.

- Cư sĩ bác sĩ An Bồi Khắc (Dr Ambekar)

Bác sĩ An Bồi Khắc sinh ra trong một gia đình tiện dân, bị Ấn Ðộ giáo coi là “bất khả tiếp xúc” (caste). Do đó, thời niên thiếu ông luôn gặp phải sự kỳ thị và ngược đãi, cho nên đối với các chế độ Ấn giáo, ông khắc sâu sự bất mãn đến cùng cực. Sau này ông được một giáo sĩ Cơ Ðốc giáo nhận giúp đỡ, vì nghĩ rằng ông sẽ trở thành tín đồ Cơ Ðốc giáo, nên đã giúp đưa ông sang Anh quốc du học. Tại đây ông tốt nghiệp học vị bác sĩ. Sau thế chiến thứ hai, Ấn Ðộ dành được độc lập, ông được bổ nhiệm giữ chức đệ nhất Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đồng thời, ông cũng là một trong những người khởi thảo bản tân hiến pháp cho nhà nước Ấn Ðộ độc lập, và trở thành một trong số tân lãnh tụ của quốc gia Ấn Ðộ. Duy có điều ông luôn suy nghĩ, đó là làm sao cải cách cho được những tệ đoan của chế độ xã hội Ấn Ðộ. Theo ông, biện pháp triệt để nhất là thực hiện một xã hội “tứ tánh bình đẳng” của Phật giáo, có vậy mới giải cứu được những thống khổ nghìn đời của giai cấp tiện dân. Vì thế, ông tự tuyên bố cải đạo theo Phật giáo. Ông khuyến đạo quần chúng trong giai cấp tiện dân của ông tin theo Phật giáo. Do đó, vào năm 1955, ông phát khởi cuộc vận đội mọi người qui tín Phật giáo.

Kết quả, vào ngày 14 tháng 6 năm 1956, vợ chồng bác sĩ An Bồi Khắc hướng đạo hơn năm vạn người về tại quảng trường Nagpur rộng hơn bốn mươi mẫu Anh ở trung bộ Ấn Ðộ, tại đây được vị Pháp sư nổi tiếng nhất của Ấn Ðộ đương thời là ngài Ven U. Chandramani Mahàsthàvira đứng làm chủ trì, là dại diện Tăng đoàn cử hành đại lễ qui y cho tập thể quần chúng. Cùng dự lễ qui y, còn có sự hiện diện của ngài viện trưởng Cao Ðẳng Pháp Viện là bác sĩ Ni Áo Cơ (Dr. M.B Nigogi) và ngài hiệu trưởng Việ Ðại Học Mai Linh Ðạt là ông Sri. M. B. Chitnavig, cũng như có nhiều vị hữu danh trong xã hội thời ấy.

Ðáng tiếc là vị bác sĩ Tây học hết lòng tin Phật này, trong tháng 12 cùng năm, ông tuy bệnh nhưng vẫn đến Nepal để dự lễ khai mạc Hội Nghị Thế Giới Phật Giáo Ðồ lần thứ tư. Sau bài diễn thuyết, ông từ biệt mọi người và ra đi vĩnh viễn!

Ðiều đáng trân trọng nhất là sau ba mươi năm nghiên cứu Phật học, ông đã hoàn thành bộ sách do ông viết với tựa đề “Ðức Thích Ca và Tôn Giáo của Ngài”. Bộ sách này được thông qua tại Hội Nghị Phật Giáo Toàn Ấn, và ngày 24 tháng 11 năm 1968, sách được coi như tân thánh điển của Phật giáo đồ Ấn Ðộ. Ðiều này cho thấy công cuộc vận động phục hưng Phật giáo tại Ấn Ðộ của ông đã gây được ảnh hưởng vừa to lớn vừa sâu rộng.

- Hoạt động của giới học giả Phật Giáo.

Từ lúc Ấn Ðộ giáo phục hưng, Phật giáo tại Ấn Ðộ bị hấp thu bởi Ấn Ðộ giáo. Thời ấy các học giả Phật giáo không nghĩ Phật giáo là tôn giáo độc lập mà coi Phật giáo cùng với việc sùng bái Thấp Bà và Tỳ Thấp Nô như một tín ngưỡng đồng nhất. Chỉ duy nhất tại Tích Lan và vẫn còn truyền bá và duy trì Thánh điển Ba Lị văn có tính thuần nhất của Thượng Tọa Bộ, và cũng rát thịnh hành tín ngưỡng Phật giáo tại đây. Trong những năm gần đây, hai nước Ấn Ðộ và Tích Lan, đối với Phật giáo tuy mỗi bên có thái độ bất đồng; nhưng về phưong diện nghiên cứu thì Ấn Ðộ và Tích Lan đều có nhiều nhân tài, và có nhiều cống hiến. Học giả Phật giáo tại Ấn Ðộ, do không thể đặt Phật giáo vào vị thế độc lập nên họ vẫn phải lấy Ấn Ðộ giáo làm tư tưởng chính thống, điều này không thể không có khuyết điểm. Tuy nhiên, ngày nay giới học giả Ấn Ðộ cũng tiếp thu được phương pháp nghiên cứu của người Tây phương, nên họ giữ thái độ phê phán một cách khách quan trong nghiên cứu Phật giáo. Đối tượng đầu tiên họ nhằm đến để nghiên cứu là thánh điển Ba Lị văn đến từ Tích Lan. Càng về sau phạm vi nghiên cứu của họ càng được nới rộng, chủ yếu là Thánh điển Phạn văn và Ba Lị văn. Họ thực hiện cuộc khảo sát về ngôn ngữ học và văn hiến học, cạnh đó là nghiên cứu về triết học, khảo cổ học, lịch sử và mỹ thuật học. Gần đây nhất, họ thiết lập sở nghiên cứu và trưòng đại học chuyên về Phật giáo học. Ðồng thời, họ cũng đưa sinh viên đến các như Nhật Bản để nghiên cứu Phật giáo.

Ðương nhiên sự phục hoạt của Phật giáo Ấn Ðộ phần lớn là nhờ sự trợ lực của cư sĩ Ðạt ma Ba La, nhất là mở mang về lĩnh vực học thuật. Cũng không phải ngoại lệ, đó là sau khi sáng hội Hiệp Hội Ma Ha Bồ đề, Ðạt Ma Ba La đã cử nhiều học giả Phật giáo Ấn Ðộ đến Tích Lan nghiên cứu Ba Lị ngữ, và lấy đó làm cơ sở nghiên cứu Phật giáo của Ấn Ðộ cận đại.

Năm 1892, người Ấn Ðộ sáng lập Hiệp Hội Phật giáo Thánh Ðiển (Buddhist Text Society) tại Gia Nhĩ Cát Ðáp, trước đó nữa ngài Di Ða la (Ràjendra Làda Mitra, 1824-1892), ngài Tư Thoát Lợi (Hara prasàda sàstri 1853- 1931), và ngài Ðạt Tư (Sarat Chandra Das, ?-1917), ba vị là người khai sáng, mở mang phong trào học Phật tại Ấn Ðộ trong thời cận đại, ngài Ràjendra Làla Mitra viết cuốn Ni Bạc Nhĩ Phật giáo Mục Lục (Sanskrit Buddist literature of Nepal, năm 1882), năm 1888, ông hiệu đính Bát Thiên Tụng Bát Nhã. Ông Hara Prasàda Sàstri từng góp sức với ông Ràjendra để chỉnh lý văn hiến Phật giáo của Nepal. Sau đó đích thân ông đến Nepal hai lần để tìm kiếm và viết lại các bản gốc kinh Phật. Và ông cũng hiệu đính bộ Bất Nhị Kim Cang Tập (Adva Yavajra - samgraha G.O.S, 1927), ông Sarat là người Ấn Ðộ đầu tiên nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Ông đến Tây Tạng để tìm hiểu kinh Phật bằng Tạng văn, kết quả ông tiến hành điều tra về Lạt Ma giáo. Ngoài ra, năm 1893 ông viết báo cáo Indian pandits in the land of Snow (các học giả Ấn Ðộ trên xứ tuyết). Lại nữa, năm 1908, ông hiệu đính bộ sử Phật giáo “Như Ý Pháp Thiện Thụ” do người Tây Tạng viết bằng Tạng văn, năm 1902, ông soạn xong bộ “Tạng - Anh Từ điển”.

Ba vị trên đây đáng được tôn vinh là tiền thân của “Phật giáo Thánh Ðiển Hiệp Hội”. Từ đó về sau, công tác của Hội là mỗi năm đều ấn hành tờ Niên Báo, hiệu đính các bản kinh gốc, phiên dịch và xuất bản, cùng hợp tác với Mãnh Gia Lạp Á Châu Hiệp Hội (Royal Asiatics Society of Bengal - 1784) để thành lập trung tâm dành cho các học giả Ấn Ðộ nghiên cứu Phật giáo.

Tiếp đến Hiệp hội suy cử người đệ tử của Ðạt Tư là Vi Ðè Da Bột Sa Na (Satis Chandra Vidyàbhùsanïa, ?-1920) giữ chức Vụ Trưởng Phật Giáo Thánh Ðiển Hiệp Hội, bởi ông đã từng trợ giúp ngài Ðạt Tư trong việc sáng lập hội. Satis buổi đầu theo học tại đại học Gia Nhĩ Cáp Ðát, sau đến Tích Lan nghiên cứu tiếng Ba Lị trong kinh Phật. Sau khi về nước, ông nhận làm hiệu trưởng trong đại học Gia Nhĩ Các Ðáp. Ông chuyên về luận lý học Ấn Ðộ, và viết bộ “Ấn Ðộ Luận Lý Học Sử”(History of Indian Logie - 1922). Ðây là bộ sách được dùng làm cơ sở để nghiên cứu Nhân Minh Học. Ông cũng kế tiếp đảm nhận chức Chủ nhiệm khoa tiếng Ba Lị tại đại học Gia Nhĩ Các Ðáp thay ông Bạch La Á (Beni Madhab Barua ?-1948) - ông chủ trì và chỉ đạo công cuộc nghiên cứu bối cảnh lịch sử ra đời của Phật giáo. Do đó, ông có viết bộ Lịch Sử Triết học Ấn Ðộ Trước Phật Giáo (History of the pre - Busshist Indian Philosphy - 1921). Ðồng thời, ông cũng nghiên cứu các luận thư của tà mệnh ngoại đạo. Cùng lúc tại đại học Gia Nhĩ Các Ðáp, còn có hai vị giáo thọ học giả Phật giáo người Ấn là ông Ba Tha Trà Lợi Da (Vidhuskekara Bhattacharya) và ông Bimal Churn Law. Ông Bhattacharya, chuyên nghiên cứu Phục vụ và văn hiến Tây Tạng văn, và ông Churn Law là vị đại sư chuyên nghiên cứu văn hiến Ba Lị văn.

Năm 1931, ông Bhattacharya chuyển ngữ bộ Ðại thừa Nhị Thập Luận của Long Thọ, và bộ Tứ Bách Luận của Long Thọ, và bộ Tứ Bách Luận của Ðề Bà từ Tạng ngữ sang Phạn ngữ. Trước đó, năm 1927, ông dịch cuốn Nhân Minh Nhập Chánh lý Luận từ Hán văn ra Ấn Ðộ văn. Ngoài ra, ông còn viét cuốn “Khái niệm Cơ Bản Của Phật Giáo” (The Basie Conception ò buddhism - 1932). Ðến nay, đã qua nhiều năm ông ra sức hiệu đính bản Phạn văn bộ Du Già Sư Ðịa Luận. Lĩnh vực học thuật của ông Bimal Churn Law rất rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo lý Phật đà, ông còn am tường cả về sử học Phật giáo, xã hội học, đại lý học, dân tộc học và Kỳ Na giáo v.v... ông đều nghiên cứu rất sâu về các ngành này. Nhờ đó mà sự trước tác của ông rất phong phú, ông có đến năm mươi đầu sách. Trong số các học giả Phật giáo cận đại, ông là người sáng tác nhiều nhất. Về công tác nghiên cứu, ông kế thừa học giả Bạch La Á, chủ yếu là trước thuật và hiệu đính Thánh điển Phật giáo tiếng Ba Lị; đồng thời, ông cũng dịch các Thánh điển này ra Anh ngữ, và biên soạn nhiều truyện ký. Ông soạn bộ History ò Pali Litera ture - Ba Lị Văn Hiến Sử - 1933) và bộ Tribes In Ancient Indian (Chủng tộc cổ đại Ấn Ðộ - 1943). Ðệ tử của Bạc La Á, còn có giáo thụ Ðạt Thoát (Narinksha Dutt). Tác phẩm đầu tiên của ông này là cuốn Sự Quan Hệ Giữa Tướng Mạo Của Ðại Thừa Phật Giáo Với Tiểu Thừa Phật Gáo (Aspects of Mahàyàna Buddhist and its Relation to Hinayàna - 1930), tiếp đó là cuốn Early Buddhist Monachism - 1941) - Tăng đoàn Phật giáo đầu tiên - nhưng sở trường của ông là Phật điển Phạn văn. Năm 1943, ông hiệu đính và xuất bản bộ Nhị Vạn Thiên Tụng Bát Nhã, năm 1952, ông lại hiệu đính và cho xuất bản bộ kinh Pháp Hoa; sau đó ông tiếp tục công tác hiệu đính các bộ như: Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Bộ Tỳ Nại Da và “Cát Nhĩ Cát Ðặt Tả Bạn Tập” trong kinh Tam Muội Vương. Khi rời khỏi đại học Gia Nhĩ Các Ðáp để hưu trí, nhưng ông vẫn được đề cử giữ chức vụ Hội Trưởng Hiệp Hội Á Châu Mãnh Gia Lạp.

Trên đây là các học giả Phật giáo được đào tạo tại đại học Gia Nhĩ Các Ðáp. Và điều này nghiễm nhiên hình thành học phái Phật giáo Gia Nhĩ Các Ðáp. Trong số những vị học giả này có cả ngài Sở trưởng là Ma Nhĩ Kiệt, người hiện đang đảm nhận Sở nghiên cứu Ba Lị văn của đại học Na Lan Ðà (Satkari Mukherje, Buddhist philosophy of Universal Flux - 1936); năm 1956, ông Ba Khách Khước (P.C Bagchi) đã từ trần, ông là học giả nổi tiếng về khảo cổ học vùng trung ương thuộc khu vực Á Tế Á; trong khi đó, ông R.C. Majumdar là người chuyên nghiên cứu lịch sử Phật giáo khu vực Ðông Nam Á.

Cùng với đại học Gia Nhĩ Các Ðáp là trung tâm nghiên cứu Phật giáo học, còn có đại học Duy Thấp Ngõa Ba Lạp Ðịch (Vis’va Bharati). Ðây là một đại học hết sức đặc biệt, bởi tại đại học này lấy việc nghiên cứu kinh Phật bằng Phạn văn và Hán văn làm chủ yếu. Thời kỳ ông P. C. Bagechi còn làm Phó hiệu trưởng, nhà trường có xuất bản cuốn Nhị Chủng Phạn - Hán ngữ vựng (Deux lexiques Samsskrit - Chinois, 1927-1938), và bộ thánh điển Phật giáo Trung Quốc (Le Canon Bouhique en Chine - 1927-1938). Ngoài ra, có ngài giáo thọ Tát Tư Ðạt Lợi (N. Aiyaswami sastri) dịch những bộ như: Quán Sở Duyên Luận, Ðạo Thiên Kinh, Ðại Thừa Chưởng Trân Luận, thập Nhị Môn Luận v.v... từ Hán văn về lại Phạn văn. Ngài giáo thọ Ma Khắc Ba Ðề Da (S.K. Mukhopadhyaya) thì hiệu đính các luận thư: Tam Vô Tánh Luận, Kim Cang Chân luận v.v... và ngài giáo thọ Pralhad pradhan hiệu đính bộ A Tỳ Ðạt Ma Tập Luận, và cho xuất bản năm 1950.

Cạnh đó, Hiệp họi Ma Ha Bồ Ðề tại Lộc Dã Uyển còn thiết lập nhà xuất bản. Ðối tượng của Hiệp hội gồm có tăng lữ và hội viên cư sĩ đã được nhiếp hóa. Ða số họ là người Ấn Ðộ và người châu Âu, trong đó có không ít những vị Tỳ kheo uyên bác.

Hiện nay tại quê hương đức Phật đã có cơ sở trung tâm nghiên cứu Phật học. Như sở nghiên cứu Phổ Ðà Na ở Già Da Tư Ngõa (Kashi Prasad Jayawal Rereareh Institude), sở nghiên cứu văn Pali ở Na Lan Ðà (Nàlanda Pàli Institute), và viện đại học Ba Nại Lặc Tư của Ấn Ðộ.

Tóm lại, ngày nay tại Ấn Ðộ, phong khí nghiên cứu Phật học chẳng những không chút vắng vẻ, mà còn có rất nhiều sự thành tựu với qui mô to lớn. (Trên đây là lấy từ tài liệu Nhật Văn, qua cuốn Cận Ðại Phật Giáo Giảng Tòa, quyển một từ trang 269 đến trang 276).

- Tình hình chung của Giáo đoàn.

Hiện nay, Phật giáo tại Ấn Ðộ, về phương diện nghiên cứu và chỉnh lý có tính văn hiến mà nói, thì không thiếu các bậc cao nhân tài đức; nhưng về phương diện nhiếp hóa tín đồ, thì chưa có già là lý tưởng. Nói vậy để thấy rằng, trong trí thức Phật giáo hoặc học vấn bên trong đã bén rễ nảy sinh ở thượng tầng kết cấu thuộc các bậc đại học. Nhưng về tín ngưỡng hoặc sinh hoạt Phật giáo, thì Phật giáo vẫn chưa tiến sâu vào xã hội Ấn Ðộ, vì chưa đủ sức phổ cập vào đời sống dân gian, tuy dù các tín đồ Ấn Ðộ giáo cũng sùng bái đức Phật.

Theo “Không Trung Hành Cước” của Châu Phỉ ở trang 37, thì ngoài Tăng lữ và người Ấn Ðộ, còn có mười lăm vị Tăng người Tích Lan, mười hai vị là người Miến Ðiện, Nhật Bản có sáu mươi vị, Tăng lữ người Thái Lan và người Tung Quốc, mỗi nước có mười vị, và với bốn triệu tín đồ Phật tử người Ấn Ðộ.

Lại nữa, theo tìm hiểu, thì ở Ấn Ðộ ước có chừng hai mươi vị Tỳ kheo và Sa di. Những vị Tỳ kheo có khả năng hoằng pháp chỉ ba, bốn vị. Ðiều này nếu lấy nhân khẩu dân Ấn Ðộ mà sánh, thì cực kỳ ít, quá ít.

Những kiến trúc chùa Phật hiện nay tại đất Ấn, có chùa của người Tích Lan, người Miến Ðiện, người Nhật Bản, người Thái Lan, người Tây Tạng. Trung Quốc thì có cư sĩ Lý Tuấn Thừa quyên góp, và pháp sư Ðức Ngọc đứng ra đôn đốc việc xây dựng Trung Hoa Phật tự tại Lộc Dã Uyển, Tỳ kheo ni Quả Liên, người Trung Quốc đứng ra kiến tạo chùa Cực Lạc tại Câu Thi Na La - nơi đức Thích Tôn nhập Niết bàn. Pháp sư Vĩnh Thừa thì xây chùa Ðại Giác tại Phật Ðà Già Da, pháp sư Nhân Chứng thì xây chùa Hoa Quang tại Xá Vệ quốc, và Lạt Ma Phúc Chỉ thì lập chùa Trung Hoa Phật Tự tại Na Lan Ðà.

Chính là vì Tăng đoàn Phật giáo Ấn Ðộ hãy còn yếu kém. Do đó, nhu cầu cấp thiết trước mắt là triển khai cuộc vận động phục hưng tín ngưỡng Phật giáo, và cuộc vận động này cũng nhận được sự trợ giúp của chính phủ Ấn Ðộ. Vì vậy, người Phật tử Ấn Ðộ, cũng như người Phật tử Trung Hoa hiện đang định cư tại Ấn Ðộ rất mong những Tăng, Ni trước đây có đến Ấn Ðộ, hãy hiến thân để phục hưng Phật giáo Ấn Ðộ.


(1)Ðại Chánh Tạng-1, từ giữa trang 89 trở lui.

(2)Ðại Chánh Tạng-1, đầu trang 724.

(3)Ðại Chánh Tạng-22, giữa trang 754.

(4)Ðại Chánh Tạng-23, giữa trang 337.

(5)Ðại Chánh Tạng-1, đầu trang 80 đến giữa trang 81.

(6)Ðại Chánh Tạng-39, giữa trang 650.

(7)Ðại Chánh Tạng-39, cuối trang 657.

(8)Ðại Chánh Tạng-39, cuối trang 613.

(9)Sáng hoằng: rộng truyền một cách sáng tạo.

(10)Tây Tạng Phật Giáo Nguyên Luận của Lữ Trừng.

(11)Ðại Chánh Tạng-18, cuối trang 1.

(12)Tây Tạng Phật Học Nguyên Luận của Lữ Trừng, trang 11 - sách đã dẫn.

(13)Ðại Nhật Kinh Sớ, quyển chín.

(14)Ðại Chánh tạng-18, giữa trang 209.

(15)Ấn Ðộ Tôn Giáo Sử, từ trang 262-266.

(16)Ấn Ðộ Phật Giáo Sử , trang 243-244, của Long Sơn Chương Chân.

(17)Ấn Ðộ Tôn Giáo Sử - trang 216-217.

(18)Hải Thiền Du tụng của pháp sư Tịnh Vân, trang 166. Giác Thế, tuần san xã, xuất bản làn đầu, năm 1964.

(19)Châu Phỉ, Không Trung Hành Cước, trang 36.


TIẾT III. LƯỢC KHÁI QUÁT LUẬN CU XÁ.

Phẩm Mục của Cu Xá.

Ðại luận sư Thế Thân, người nước Kiền Ðà La sau đến nước Ca Thấp Di La học luận Ðại Tỳ Bà Sa, lúc hồi hương ông viết ra yếu nghĩa với sáu trăm bài tụng, và gởi sáu trăm bài tụng này trở lại nước Ca Thấp Di La. Bấy giờ có luận sư Ngộ Nhập của Hữu Bộ cho rằng sáu trăm bài tụng của Thế Thân trái nghịch với giáo nghĩa chính thống nên yêu cầu Thế Thân viết thích nghĩa cho sáu trăm bài tụng do ông viết ra. Nhân đó, Thế Thân liền viết thích luận mà thành bộ A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá Luận (Abhidharmakosa Sàstra) đọc giản lược là Cu Xá Luận. Bộ luận này hiện vẫn còn bản luận sớ Phạn văn, và một số thứ loại chú sở của Ấn Ðộ được dịch ra Tạng văn. Gần đây tại Trung Quốc có pháp sư Diễn Bồi viết cuốn Cu Xá Luận Tụng Giảng Ký. Ðây là tư liệu có thể tham khảo.

Luận Cu Xá là bộ luận chỉnh lý, thống nhất phê phán và tổ chức lại tư tưởng cực kỳ vụn vặt của Hữu Bộ để thành bộ luận vô cùng xảo diệu. Xin liệt kê những phẩm mục của Luận Cu Xá như sau:

lichsuphatgiaoando-06-04

Phương pháp để dễ ghi nhớ cá phẩm mục trong Luận Cu Xá, xưa nay người ta có một bài kệ tóm gọn như sau:

“Giới nhị căn ngũ thế gian ngũ.

Nghiệp lục tùy tam Hiền thánh tứ.

Trí nhị định nhị phá ngã nhất.

Thị danh (Cu Xá) tam thập quyển”.

- Cu Xá với Bảy Mươi Lăm Pháp.

Luận cu Xá đem tất cả các pháp chia thành pháp hữu vi và pháp vô vi. Phàm cái gì được tạo tác bởi nhân duyên, chịu sự dịch chuyển, sự tác động bởi thời gian, có sự sai biệt về nhiễm tịnh, tức tất cả mọi hiện tượng của thế gian đều thuộc pháp hữu vi. Thoát ly tính chất pháp hữu vi, xa lìa tất cả trạng thái của tác dung, bao hàm cả cái nghĩa ba khoa là”Khôi thân diệt trí” của Niết bàn, đều thuộc pháp vô vi. A Tỳ Ðạt Ma phần nhiều lấy ba khoa làm ngũ uẩn, mười hai nhân duyên và mười tám giới làm chuẩn rồi theo đó phân loại pháp. Luận Cu Xá dựa vào cách phân loại này, nhưng có thêm sự nghiên cứu về sắc pháp, Tâm pháp, tâm sở hữu pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp từ bộ luận Phẩm Loại Túc. Tuy nhiên việc xác định bảy mươi lăm pháp là do sau này ngài Phổ Quang nêu ra trong bộ Cu Xá Luận Ký do ông trước tác. Nhân vì trong Luận Cu Xá vẫn chưa lấy các pháp bất định như ố tác, thùy miên, tầm, tư trong tâm sở hữu pháp làm số lượng. Còn nguồn bảy mươi lăm pháp xuất thân từ luận Cu Xá thì không phải nghi ngờ gì.

Xin liệt kê danh xưng bảy mươi lăm pháp như sau:

lichsuphatgiaoando-06-05

- Quả nhân duyên.

Luận Cu Xá tóm thu tất cả các pháp qui thành bảy mươi lăm pháp. Nhưng bảy mươi lăm pháp này không tồn tại một cách cá biệt và độc lập, mà tồn tại trong mối quan hệ hỗ tương và liên quan với nhau một cách mật thiết, đấy là Nhân duyên luận (xin đọc Tiểu thừa Phật Giáo tư tưởng luận - của Mộc Thôn Thái Hiền, thiên II, chương sáu). Nhân và duyên ràng buộc với nhau thành ra quả. Thông xưng gồm có: sáu nhân, bốn duyên và năm quả, như biểu đồ sau:

lichsuphatgiaoando-06-06

- Pháp Thế Gian.

Pháp nhân quả, gom cả thế gian pháp và xuất thế gian pháp. Nhưng các pháp thế gian và xuất thế gian cũng cần có thêm sự phân loại. Phẩm Thế Gian, Phẩm Nghiệp và Phẩm Tùy Miên của Luận Cu Xá là dùng để phân tích Quả, Nhân, Duyên thuộc mê giới. Mê giới lại được chia thành hữu tình thế gian và khí thế gian. Ðịa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân, thiên thuộc hữu tình thế gian, đứng về mặt không gian mà an lập tầng thứ thì sự lưu chuyển sinh tử của hữu tình được chia làm bốn trạng thái là; sinh hữu, bản hữu, tử hữu và trung hữu. Còn y vào mười hai duyên khởi thì có ba đời với lưỡng trùng nhân quả, đấy là nói về mặt thời gian mà an lập thứ tự. Dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ba giới này làm khí thế gian. Lại lấy bốn kiếp là: thành, trụ, hoại, không, chi phối sự tuần hoàn sinh diệt của khí thế gian (đồ chứa đựng gọi là khí), đây là nói thứ tự khí thế gian được an lập về mặt thời gian.

Song nếu không có pháp xuất thế gian thì sự an lập pháp thế gian bất luận đó là hữu tình thế gian, hay khí thế gian, kết cục vẫn cứ mãi quay vòng mà không có điểm dừng lại, thành ra vô thỉ vô chung, vì cứ nối tiếp nhau làm nhân rồi lại làm duyên tương tục không dứt.

Sở dĩ chúng sinh không thoát khỏi được sinh tử, đó là do tạo nghiệp, tạo nghiệp thị thọ quả báo. Do đó, Phẩm Nghiệp của luận này đặc biệt dành để phân tích thuyết nói về Nghiệp. Nghiệp được chia thành “tư nghiệp” và “tư dĩ nghiệp”. Nghiệp thuộc về ý gọi là tư nghiệp, nghiệp thuộc về thân và ngữ gọi là tư dĩ nghiệp. Lại lấy hai nghiệp thân và ngữ, mỗi nghiệp như thế lại chia thành “biểu nghiệp” và “vô lậu nghiệp”. Chúng sinh tạo nghiệp là do “hoặc” (mê mờ) sai sử, do đó Phẩm Tùy Miên của luận này là nhằm khai thông vấn đề “hoặc”. Tùy miên là do hoạt động của nghiệp mà dẫn dến khổ quả, ý vị của tùy miên trong đó có phiền não. Phiền não được phân ra thành căn bản (sáu thứ hoặc mười thứ) và chi mạt (có mười chín thứ). “Hoặc” có “kiến hoặc” - mê về lý, và “tư hoặc” - mê về sự; kiến hoặc là do mê muội không thấu rõ lý Tứ đế, kiến hoặc phối hợp cả trong tam giới mà thành tám mươi sử. “Tư hoặc” là bốn thứ: tham, sân, si, mạn trong căn bản phiền não, cọng cả thảy trong tam giới có mười thứ; trong đó dục giới có bốn, còn sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ không có tham, còn thì mỗi giới đều có ba thứ, lại còn có một trăm lẻ tám phiền não, tức tám mươi tám sử thuộc kiến hoặc, mười thứ thuộc “tư hoặc” cộng với mười trên mà thành (108). (Các danh tướng vừa nêu xin đọc thêm Pháp số).

- Xuất thế gian.

Mục đích của việc phân chia pháp thế gian là nhằm tiến đến con đường xuất thế gian của thánh đạo. Phẩm Hiền Thánh, Phẩm Trí, Phẩm Ðịnh của Luận Cu Xá là để thuyết minh: quả, nhân, duyên thuộc thế giới chứng ngộ. Trí ở đây chỉ cho nghĩa quyết đoán, và được chia thành hữu lậu trí và vô lậu trí. Bốn thứ huệ là: sinh đắc huệ, văn huệ, tư huệ và tu hệ thì gọi là hữu lậu trí; hai thứ là pháp trí và loại trí, thì gọi là vô lậu trí. Công năng của trí là đoạn trừ kiến hoặc. Nói về định, cũng chia thành sinh đắc định và tu đắc định, hai định này mỗi định có bốn sắc giới định (tứ thiền) và bốn vô sắc giới định, mỗi định lại phân ra cận phần định và căn bản định. Do công năng của trí và định mà có thể thứ lớp chứng nhập quả vị hiền thánh. Quá trình đoạn hoặc chứng chơn là trải qua nhiều giai đoạn và quả vị vô cùng phồn phức. Xin lược qua như sau:

1. Hiền Vị thất gia (bảy bậc) và chia ra hai loại:

a) Tam hiền - Ngũ đình tâm, biệt tướng niệm trụ, tổng tướng biệt trụ.

b) Bốn thiện căn - Noãn thiện căn, đảnh thiện căn, nhẫn thiện căn (nhẫn thiện căn lại có thể tế phân ra làm: hạ, trung thượng ba phẩm), thế đệ nhất pháp.

2. Hai loại thánh vị, chia thành “tam đạo bát bối” (ba đường tám nhóm):

a) Hữu học vị chia làm Dự Lưu - hướng thuộc kiến đạo, Dự Lưu quả thuộc kiến đạo, Nhất Lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A la hán hướng.

b) Vô học vị thuộc vô học đạo, tức là quả A la hán. Những quả vị thanh văn này chỉ có khi thế gian có Phật. Khi đời không có Phật xuất hiện, tự mình có thể quán mười hai nhân duyên mà ngộ nhập Thánh quả, thì gọi là Ðộc giác, và tiếng Phạn là Bích Chi Ca Phật (Pratyekabuadha). Kiếp trước và hiện kiếp khi đức Thích Tôn chưa chứng đắc Phật quả, Ngài được xưng là Bồ tát. Trước tiên Bồ tát phải nỗ lực tu lục độ vạn hạnh, trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, lại còn phải trải qua trăm kiếp để gieo trồng “tướng hảo chi nghiệp” (nghiệp thiện để thành tướng hảo), sau rốt mới chứng Ðẳng Chánh Giác (thành Phật). Sau cùng là Phẩm Phá Ngã. Ðây là phẩm xiển minh lý vô ngã của Phật giáo, đồng thời dùng lý nghĩa này để phá bỏ ngoại giáo, và thuyết hữu ngã dị chấp.

(1) Ðại Chánh tạng-49, cuối trang 15.

(2) Một tên gọi khác để chỉ chúng sinh.

(3) Một tên gọi khác để gọi chúng sinh.

(4) Vô học: Ðạo học viên mãn, không phải tu học nữa thì gọi là vô học.

(5) Yết Lạt Lam Ka Lai,còn gọi là Ca La La v.v... dịch là ngưng hoạt, tạp uế v.v... tinh khí của cha mẹ khi mới hòa hợp ngưng kết, là thời kỳ thai nhi từ lúc thọ sinh cho đến 7 ngày sau. Từ Ðiển Phật Học - Hà Nội xuất bản 1994.

(6) Quyển 14 Ðại Chánh tạng-22, cuối trang 340.

(7) Quyển 32 Ðại Chánh tạng-22 cuối trang 501.

(8) Quyển 39, Ðại Chánh tạng-22, trang 536.

(9) Ðại Chánh tạng-24, giữa trang 676.

(10) Xin tham khảo luận thư của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, và sự nghiên cứu của các Luận sư của Bộ này - Pháp sư Ấn Thuận - trang 37.

(11) Ðại Chánh tạng-25, trang 192.

(12) Ðại Chánh tạng-25, giữa trang 192.

(13) Ðại Chánh tạng-25, đầu trang 70.

(14) Vọng Nguyệt Phật Giáo Từ Ðiển - cuối trang 903.

(15) Nước Ca Thấp Di La naylà bang Kamira của Ấn Ðộ, thuộc vùng tây bắc - chú của người dịch.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn