Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tiết 2: Bồ tát Thế Thân

05/01/201202:25(Xem: 1897)
Tiết 2: Bồ tát Thế Thân

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm- Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG X
PHẬT GIÁO ÐẠI THỪA HỆ VÔ TRƯỚC


TIẾT II. BỒ TÁT THẾ THÂN

- Uyên nguyên của Duy thức học.

Duy thức học từ Di Lặc đến Vô Trước thì hoàn thành và lấy thức Nhất thiết chủng làm gốc, cho rằng Duy thức học là sự biến hiện của chủng tử thức. Song Duy thức Tam thập tụng của Thế Thân, ông lấy ba loại phân biệt thức làm gốc, cho rằng Duy Thức học là sự biến hiện của phân biệt thức. Hai ngài Di Lặc và Vô Trước thì xuất phát từ “Bản địa phần” của luận Du Già Sư Ðịa. Ấy là dùng cái nghĩa “bất dị” của chủng tử bất nhất bất dị làm căn cứ. Ngài Thế Thân thì lấy “Nhiếp quyết trạch phần” của luận Du Già Sư Ðịa, ấy là dùng cái nghĩa “bất nhất” của chủng tử thức bất nhất bất dị làm căn cứ. Ðây là sự phân lưu của hai dòng lớn cùng đồng nhất môn Duy thức học. Về sau, phần nhiều các học giả Duy thức đều dùng thuyết của Thế Thân coi Thế Thân mới là người tập đại thành môn Duy thức học. Tại Trung Quốc có một dòng Duy thức học thuộc dòng của ngài Vô Trước, dòng này là Nhiếp Luận Tông thuộc học phái Nhiếp Luận.

Vì vậy, trước khi nói về ngài Thế Thân, xin giới thiệu Uyên nguyên Duy thức học. Ngoài việc A Lại Da đã đề cập ở chương chín, và tiết ba trong kinh Giải Thâm Mật. Mỗi khi nói đến tư tưởng Duy thức thì phải căn cứ vào tư tưởng của Bộ phái. Nay xin giới thiệu và tham khảo “Duy thức sử quan và Triết học Duy thức” của pháp sư Pháp Chiên, thiên thứ nhất ở chương bốn và năm, lấy đó làm tư liệu và phân ra như sau:

1. Tam Pháp Ấn là căn nguyên Duy thức học:

Yếu nghĩa trong thánh điển A Hàm không ngoài Tam Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn đó là:

lichsuphatgiaoando-10-01

Niết bàn tịch tịnh là kết quả của tam quán, tuy có thể gọi là Tứ Pháp ấn, nhưng kỳ thực chỉ có Tam Pháp Ấn. Ðem “chư hành vô thường” sánh với Duy thức học, thì đó là các pháp được biến hiện bởi do sự hư vọng của tâm và tâm sở pháp. “Chư pháp vô ngã” đấy là nghĩa của nhân vô ngã, pháp vô ngã được hiển lộ do bởi nhân không và pháp không. Kinh A Hàm tuy không phân chia nhân - pháp làm hai nghĩa, nhưng thực thì kinh đã hàm cả hai nghĩa này. “hữu lậu giai khổ, Niết bàn tịch tịnh”, đấy là phát huy thắng nghĩa Ðại thừa; vô trụ Niết bàn của Ðại thừa được khai xuất từ Niết bàn tịch tịnh.

2. Uẩn Xứ Giới là căn nguyên Duy thức:

Ðể giải thích ý nghĩa Tam pháp ấn, thánh điển A Hàm có ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Ðạo lý của pháp tướng Duy thức tựu trung cũng kiến lập trên đạo lý này.

3. Duy tâm luận trong bốn bộ kinh A Hàm:

Chẳng hạn như thuyết sinh tử luân hồi, thuyết nghiệp cảm duyên khởi, tất cả đều lấy tâm làm chủ thể tạo tác.

4. Công dụng của Duy thức học là xiển dương và giải thích kinh A Hàm:

Luận Bách pháp giải thích cái nghĩa “chư pháp vô ngã” của kinh A Hàm; Ngũ Uẩn luận là giải rõ cái nghĩa ngũ uẩn trong kinh A Hàm; Ðại thừa Tập Luận và Nhiếp Trạch phần, Bản Ðịa phần hai quyển sau, Nhiếp Dị Môn Phần và Nhiếp Sự Phần v.v... hai mươi quyển của luận Du Già Sư Ðịa, đại bộ phận là để giải thích những ý trong kinh Tạp A Hàm.

- Thế Thân và các trước tác của ông.

Thế thân còn có tên là pháp sư Bà Tẩu Ðàn Ðậu, ông là hậu duệ của ngài Vô Trước. Niên đại ông sống ước khoảng từ năm 320 đến năm 400 tây lịch, theo những ghi chú trong bộ “Thế thân Truyện”. Thì ban đầu ông giả vờ như mắc chứng phong cuồng để lén vào nước Kế Tân và học Hữu Bộ Luận, trong mười hai năm với một số lần nghe luận Ðại Tỳ Bà Sa. Sau khi nắm rõ văn nghĩa của toàn luận, ông về lại quê nhà và viết bộ luận A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá (gọi giản gọn là luận Cu Xá) với ba mươi quyển, tuy là để thuyết minh giáo nghĩa của hữu Bộ, nhưng rất nhiều chỗ ông lại dùng giáo nghĩa của Kinh Bộ để bổ sung cho giáo nghĩa Hữu Bộ. Ðiều này đã giới thiệu sơ lược ở chương sáu của sách này.

Khi chưa đi vào Ðại thừa Phật giáo, có thuyết nói Thế Thân viết rất nhiều bộ luận mang dấu ấn Tiểu thừa, mà luận Cu Xá là tác phẩm đại biểu trong số các luận của ông, đồng thời ông còn viết Thất Thập Chơn Thực Luận rất nổi tiếng. Thế Thân dùng luận này công phá bộ luận “Tăng Phật Luận” của phái Số Luận ngoại đạo. Nhân đấy ông được vị quốc vương nước A Du Xà (Ayodhyà - còn dịch âm Hán là A Thâu Ðà) tên là Tất Kha La Ma A Dật Ða (Vikramàditya) thường cho Tam lạc sa kim. Thế Thân chia số vàng thưởng làm ba phần, mỗi phần được dùng để xây một ngôi chùa. Sau đó, ông nhận sự quy y của vua Bà La Dật Ðể Dã (Bàlàdiya - Tân Nhật); nhà vua cũng lệnh cho thái tử của mình qui y với Thế Thân, và có nhiều vương phi xin xuất gia làm đệ tử ông. Về sau, khi thái tử lên nối ngôi, nhà vua cùng mẫu hậu đồng mới thỉnh Thế Thân lưu ngụ lại nước A Du Xà.

Lúc tuổi về già, Ngài Vô Trước cứ ngại là Thế Thân mãi lo học Tiểu thừa để phá Ðại thừa, nên lòng không yên, Vô Trước bèn sai người đến từ nước Phú Lâu Sa Phu La (nghĩa là Trượng Phu thành) ở bắc Ấn Ðộ đi đến nước A Thầu Xà để mời Thế Thân hồi hương, và nói với Thế Thân là ông đang bệnh nặng. Sau khi anh em gặp nhau Vô Trước nói với Thế Thân: “Anh đang mang bệnh nặng, em vẫn sống khỏe, em không tin Ðại thừa lại thường sinh tâm bài báng, gây ác nghiệp, như thế em sẽ vĩnh viễn chìm sâu vào đường ác”. Nhân đấy, Thế Thân bỏ Tiểu thừa qui về Ðại thừa. Sau này khi Vô Trước Viên tịch, Thế Thân viết rất nhiều bộ luận Ðại thừa để giải thích các kinh như Hoa Nghiêm Kinh, Niết Bàn Kinh, Pháp Hoa Kinh, Bát Nhã Kinh, Duy Ma Kinh, Thắng Man Kinh v.v.. Lại nữa, ông là người tạo Duy Thức Luận” và nhiều luận Ðại thừa khác. Năm tám mươi tuổi ông thị tịch tại nước A Thầu Xà. Ðể nói về ông có lời bình rằng: “ông tuy sinh ở cõi phàm, nhưng lý thực khó nghĩ bàn”. Trên đây là tham khảo bộ “Bà Tẩu Bàn Ðậu Pháp Sư Truyện(8).

Theo bộ “Phật Giáo Sử” của Bổ Ðốn - người Tây Tạng, thì Thế Thân ở nơi Vô Trước mà thấu hiểu Thập Ðịa Kinh và A Sai Mạt Kinh, rồi mới qui hướng Ðại thừa. Sau đó ông đến Ni Bạc Nhĩ để giáo hóa phá giới tăng là Tân Ðà (Handa). Cũng theo Bổ Ðốn, Thế Thân đã từng nghiên cứu Thập Vạn Tụng Bát Nhã.

Thế Thân là người trước tác hết sức phong phú. Truyền thuyết kể rằng ông sáng tác đến năm trăm bộ luận. Tiểu thừa, và năm trăm bộ luận Ðại thừa. Do đó, ông được người đời tôn xưng là “Thiên bộ luận sư”. Số luận thư của ông hiện còn lưu truyền. Theo Nhật Bản Ðại Chánh Tân Tu Tạng có hai mươi bảy bộ. Tây Tạng Ðại Tạng Kinh cho là có ba mươi bộ. Trong số các luận thư này có mười một bộ trọng yếu. Xin liệt kê như sau:

1. Luận A Tỳ Ðàm Cu Xá - Ba mươi quyển. Bản Hán dịch của Huyền Trang. Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tên gọi A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá Thích Luận - hai mươi hai quyển.

2. Duy thức Tam Thập Tụng - một quyển. Ðược Huyền Trang dịch ra Hán văn.

3. Duy Thức Nhị Thập Tụng - một quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang, Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tựa luận là Ðại thừa Duy Thức Luận - một quyển, và Bát Nhã Lưu Chi cũng dịch ra Hán văn với tựa đề Duy Thức Luận - một quyển.

4. Phật Tánh Luận - bốn quyển. Bản Hán dịch của Chơn Ðế.

5. Nhiếp Ðại Thừa Thích Luận - mười quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang. Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tựa đề Nhiếp Ðại Thừa Thích - mười lăm quyển. Bản Hán dịch của Ðạt Ma Cấp Ða cũng với tựa Nhiếp Ðại thừa Luận Thích - mười quyển.

6. Biện Trung Biên Luận - ba quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang, riêng Chơn đế dịch với tựa đề Trung Biên Phân Biệt Luận - hai quyển.

7. Thập Ðịa Kinh Luận - mười hai quyển. Bản dịch Hán văn của Bồ Ðề Lưu Chi.

8. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Bà Ðề Xá - hai quyển. Do Bồ Ðề Lưu Chi cùng Ðàm Lâm v.v... dịch ra Hán văn.

9. Niết Bàn Kinh Bản Hữu Kim Vô Kệ Luận - một quyển. Bản Hán dịch của Chơn Ðế.

10. Niết Bàn Luận - một quyển. Bản Hán văn là của Ðạt Ma Bồ Ðề.

Ngoài những luận thư vừa nêu. Thế Thân còn sáng tác nhiều luận thư khác như: Ngũ Uẩn Luận, Bách Pháp Minh Môn Luận, Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh Luận, Như Thật Luận, Kim Cang Bát Nhã Luận v.v...

- Tư tưởng Thế Thân.

Ma Ha Chỉ Quán, quyển thứ bảy xưng tán Long Thọ là vị “Tác Thiên Bộ Luận”; trong khi Bách Luận Tự Sớ thì ca tụng Thế Thân là “Thiên Bộ Luận Chủ”. Về mặt lịch sử của Phật giáo Ấn Ðộ, thì đây là hai vị “cự nhân”. Chính xác là hai vị có nhiều chỗ giống nhau thứ nhất; từng trải rất rộng, đó là điểm giống nhau thứ hai, và giống nhau ở điểm thứ ba là tư tưởng “bàng tạp” (trước khác sau). Còn như luận đến những vị tập đại thành Ðại thừa Phật giáo, thì Thế Thân sánh với Long Thọ càng có phần tương đương. So sánh như thế không có gì là sai! Thiết tưởng nếu muốn chỉnh lý tư tưởng của Thế Thân thành một hệ thống nhất quán không phải là việc dễ làm.

Thế Thân người có hai lập trường cả về Tiểu thừa lẫn Ðại thừa. Riêng phạm vi Ðại thừa, lại phải chia ra nhiều lập trường khác nhau. Thế Thân đối với các kinh như: Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Niết bàn, Bát Nhã, Duy Ma, A Di Ðà v.v.. ông đều có sự chú thích. Ông cũng chú thích tư tưởng về A Lại Da và tư tưởng Như Lai Tạng; giữa A Lại Da và Như Lai tạng, ông thiên về A Lại Da. Nhưng ông không giống như Vô Trước là bởi trong các luận thư của Vô Trước, điều căn bản là Vô Trước không phát hiện ý thú Như Lai tạng, bản hữu Phật tánh, thường lạc ngã tịnh v.v... trong “Thập Ðịa Kinh Luận” và Phật Tánh Luận”. Thế Thân tuyên dương rất sáng tỏ về Như Lai tạng, về bản hữu Phật tánh và thường lạc ngã tịnh. Cũng nhân điểm này mà Mộc Thôn Thái Hiền mới lấy Ðại thừa Phật giáo của Thế Thân chia làm thành hai hệ lớn.

1. Hệ Du Già Phật giáo từ Vô Trước đến Thế Thân.

2. Hệ Như Lai Tạng Phật giáo là từ “Như Lai Tạng Kinh” đến Thế Thân. Nếu đem hai hệ này đối chiếu với những dịch giả dịch các luận thư của Thế Thân ra Hán ngữ; lập trường của Bồ Ðề Lưu Chi, Bát Nhã Lưu Chi, Chơn Ðế v.v... thuộc hệ Như Lai tạng.

- Duy Thức Tam Thập Luận.

Hiện tại xin thảo luận việc Thế Thân tiếp nối tư tưởng Vô Trước đấy là lập trường về Duy Thức Nhị Thập Luận và Duy Thức Tam Thập Luận (còn gọi là Duy Thức Tam Thập Tụng), có thể nói là tác phẩm đại biểu cho môn Duy thức học của Thế Thân. Ông tuy là người sáng tác Duy Thức Tam Thập Tụng, nhưng ông chưa tự mình viết lời giải thích cho bộ luận này. Mãi về sau mới được mười vị đại luận sư viết lời giải thích cho bộ luận tụng này. Luận Thành Duy Thức của Trung Quốc sở dĩ thành tựu là do ngài Khuy Cơ thỉnh cầu ngài Huyền Trang tổng hợp những thích luận của mười vị đại luận sư về bộ Duy Thức Tam Thập Tụng. Trên thực tế, thầy của Huyền Trang là Giới Hiền; Giới HIền là học giả của hệ ngài Hộ Pháp. Cho nên nội dung luận Thành Duy Thức đều lấy kiến giải của Hộ Pháp làm chuẩn. Và như vậy, không thể nói nội dung luận Thành Duy Thức là tư tưởng của Thế Thân, cũng không thể nói nó là đại biểu cho tư tưởng của mười vị đại luận sư. Dù gì đi nữa, thì Duy Thức Tam Thập Tụng, về mặt hình thức đến tư tưởng Thế Thân mới tròn đủ.

1. Duy thức tướng, gồm hai mươi mốt bài tụng đầu. Duy thức tướng thuyết minh cho hiện tượng của vũ trụ vạn hữu.

2. Duy thức tánh, ấy là bài tụng thứ hai mươi lăm. Bài này thuyết minh cho tất cả lý tánh (bản thể của sự tướng).

3. Duy thức vị gồm năm bài tụng cuối, năm bài tụng này trình bày các quả vị tu chứng theo trình tự khác nhau. Trong ba cương mục trên, thì Duy thức tướng là cương mục quan trọng nhất, chủ yếu của Duy thức tướng là giải rõ ba tướng năng biến của thức.

Căn cứ vào câu tụng bằng Phạn ngữ được dịch ra Hán văn: “Giả thuyết chủng chủng ngã cập pháp, thị do thức chuyển biến cố hữu” (vì là giả phải nói những tướng ngã, tướng pháp, tất cả đều do sự chuyển biến (khởi niệm) của thức cho là có). Câu tụng này khi dịch sang Hán văn là “Do giả thuyết ngã pháp, hữu chủng chủng tướng chuyển, bỉ y thức sở biến(9). Cả hai lối trình bày trên đều nói về hiện giới của vũ trụ vạn hữu, rằng tất cả đều là sự chuyển biến (sinh khởi ý niệm) của thức mà xuất hiện. Tướng năng biến của thức co ba chủng loại:

1. Dị thục năng biến - đệ bát thức A Lại Da.

2. Tư lương năng biến - Ðệ thất thức Mạt Na.

3. Liễu biệt năng biến - nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tiền lục thức.

Theo Duy thức học thì tất cả vạn pháp đều do sự biến hiện của tám thức. Nói cách khác, công dụng của tám thức là có khả năng biến hiện tất cả vạn pháp. Do đó cho nên gọi tám thức là năng biến thức, và tám thức được chia thành ba loại, nên gọi là tam năng biến. Ý của Dị thục là chỉ giữa nhân và quả có sự bất đồng về thời gian, bất đồng về tính chất, chẳng hạn trên cây đào nảy ra nhánh, hoa. Và tương lai hoa sẽ kết thành quả và chín. Như thế gọi là “di thời nhi thục”, tức chỉ thời gian giữa hoa và quả chín là có khác nhau; mùi vị của quả chín hoàn toàn khác với cây đào ban đầu, mùi vị ấy cũng chẳng giống mùi vị của hoa đào, như thế gọi là “dị loại nhi thục”, tức chỉ tính chất có sự khác nhau. Thức A Lại Da là chủ thể của sinh tử, tử sinh của chúng sinh, thức A Lại Da có khả năng khởi tất cả các pháp, do đó nên gọi thức này là Nhất thiết chủng tử thức, do thức A Lại Da mà triển khai ra “căn thân” (nhân sinh giới) và “khí thế gian” (vật chất giới). Thức A Lại Da thường tương ứng (khế hợp) với năm tâm sở biến hành (hoạt động tâm lý) là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư; tâm sở ảnh hưởng đến sự biến đổi về chất của thức A Lại Da, tức nội dung của thức Nhất thiết chủng tử là niệm niệm sinh diệt, tình hình chuyển biến sinh diệt này luôn diễn ra giống như thác nước đổ ào ào trông như tấm vải bố trắng treo lơ lửng không bị cắt đứt đoạn, nghiên cứu kỷ, thì tướng chuyển biến hoán đổi của thức chủng dù trong một sát na cũng không ngưng nghỉ. Khi tâm sở ảnh hưởng đến thức thứ tám, thì ảnh hưởng đó trở thành chủng tử của thức (nhân), khi chủng tử chuyển biến thành hiện tượng, thì đó là lúc chủng tử hiện khởi thành hiện hành (quả). Mối quan hệ nhân - quả diễn ra trong trạng thái Dị thời nhi thục và dị loại nhi thục. Do đó, thức thứ tám còn có tên là Dị thục năng biến thức.

Ý của danh từ Tư Lương là tự lự, suy lường. Nghĩa là thức thứ bảy thường luôn tư lương về thức thứ tám, vin vào sự tư lướng ấy mà chấp cho đó là Ngã. Thức thứ bảy y vào thức thứ tám, duyên lấy thức thứ tám, chấp trì (nắm giữ) thức thứ tám làm Ngã, vì vậy mới sinh ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Do đó, thức này còn được gọi là Tư lương năng biến thức.

Tiền lục thức lấy ý thức làm chủ và rồi mỗi thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức) nương theo cảnh tượng thô thiển (rõ ràng cụ thể) mà nhận biết, phân biệt. Do đó, ý thức được gọi là Liễu biệt cảnh thức. Ðệ lục ý thức thống nhất với tiền ngũ thức, và tương ưng với rất nhiều tâm sở. Chẳng hạn những hoạt động tâm lý được hiện khởi thường ngày là phạm vi của thức Liễu biệt cảnh, do đó nên gọi thức này là Liễu biệt năng biến thức.

Như vậy, rõ ràng là tất cả hiện tượng giới đều do sự chuyển biến, phân biệt của tám thức mà sinh khởi, bởi trên thực tế không thực có hiện tượng giới nào cả. Do đó, theo Duy Thức học: tất cả các pháp đều do thức hiện khởi. Tức cũng lấy ba loại phân biệt thức làm gốc cho những biến hiện của Duy thức học.

TIẾT III. LƯỢC KHÁI QUÁT LUẬN CU XÁ.

Phẩm Mục của Cu Xá.

Ðại luận sư Thế Thân, người nước Kiền Ðà La sau đến nước Ca Thấp Di La học luận Ðại Tỳ Bà Sa, lúc hồi hương ông viết ra yếu nghĩa với sáu trăm bài tụng, và gởi sáu trăm bài tụng này trở lại nước Ca Thấp Di La. Bấy giờ có luận sư Ngộ Nhập của Hữu Bộ cho rằng sáu trăm bài tụng của Thế Thân trái nghịch với giáo nghĩa chính thống nên yêu cầu Thế Thân viết thích nghĩa cho sáu trăm bài tụng do ông viết ra. Nhân đó, Thế Thân liền viết thích luận mà thành bộ A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá Luận (Abhidharmakosa Sàstra) đọc giản lược là Cu Xá Luận. Bộ luận này hiện vẫn còn bản luận sớ Phạn văn, và một số thứ loại chú sở của Ấn Ðộ được dịch ra Tạng văn. Gần đây tại Trung Quốc có pháp sư Diễn Bồi viết cuốn Cu Xá Luận Tụng Giảng Ký. Ðây là tư liệu có thể tham khảo.

Luận Cu Xá là bộ luận chỉnh lý, thống nhất phê phán và tổ chức lại tư tưởng cực kỳ vụn vặt của Hữu Bộ để thành bộ luận vô cùng xảo diệu. Xin liệt kê những phẩm mục của Luận Cu Xá như sau:

lichsuphatgiaoando-06-04

Phương pháp để dễ ghi nhớ cá phẩm mục trong Luận Cu Xá, xưa nay người ta có một bài kệ tóm gọn như sau:

“Giới nhị căn ngũ thế gian ngũ.

Nghiệp lục tùy tam Hiền thánh tứ.

Trí nhị định nhị phá ngã nhất.

Thị danh (Cu Xá) tam thập quyển”.

- Cu Xá với Bảy Mươi Lăm Pháp.

Luận cu Xá đem tất cả các pháp chia thành pháp hữu vi và pháp vô vi. Phàm cái gì được tạo tác bởi nhân duyên, chịu sự dịch chuyển, sự tác động bởi thời gian, có sự sai biệt về nhiễm tịnh, tức tất cả mọi hiện tượng của thế gian đều thuộc pháp hữu vi. Thoát ly tính chất pháp hữu vi, xa lìa tất cả trạng thái của tác dung, bao hàm cả cái nghĩa ba khoa là”Khôi thân diệt trí” của Niết bàn, đều thuộc pháp vô vi. A Tỳ Ðạt Ma phần nhiều lấy ba khoa làm ngũ uẩn, mười hai nhân duyên và mười tám giới làm chuẩn rồi theo đó phân loại pháp. Luận Cu Xá dựa vào cách phân loại này, nhưng có thêm sự nghiên cứu về sắc pháp, Tâm pháp, tâm sở hữu pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp từ bộ luận Phẩm Loại Túc. Tuy nhiên việc xác định bảy mươi lăm pháp là do sau này ngài Phổ Quang nêu ra trong bộ Cu Xá Luận Ký do ông trước tác. Nhân vì trong Luận Cu Xá vẫn chưa lấy các pháp bất định như ố tác, thùy miên, tầm, tư trong tâm sở hữu pháp làm số lượng. Còn nguồn bảy mươi lăm pháp xuất thân từ luận Cu Xá thì không phải nghi ngờ gì.

Xin liệt kê danh xưng bảy mươi lăm pháp như sau:

lichsuphatgiaoando-06-05

- Quả nhân duyên.

Luận Cu Xá tóm thu tất cả các pháp qui thành bảy mươi lăm pháp. Nhưng bảy mươi lăm pháp này không tồn tại một cách cá biệt và độc lập, mà tồn tại trong mối quan hệ hỗ tương và liên quan với nhau một cách mật thiết, đấy là Nhân duyên luận (xin đọc Tiểu thừa Phật Giáo tư tưởng luận - của Mộc Thôn Thái Hiền, thiên II, chương sáu). Nhân và duyên ràng buộc với nhau thành ra quả. Thông xưng gồm có: sáu nhân, bốn duyên và năm quả, như biểu đồ sau:

lichsuphatgiaoando-06-06

- Pháp Thế Gian.

Pháp nhân quả, gom cả thế gian pháp và xuất thế gian pháp. Nhưng các pháp thế gian và xuất thế gian cũng cần có thêm sự phân loại. Phẩm Thế Gian, Phẩm Nghiệp và Phẩm Tùy Miên của Luận Cu Xá là dùng để phân tích Quả, Nhân, Duyên thuộc mê giới. Mê giới lại được chia thành hữu tình thế gian và khí thế gian. Ðịa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân, thiên thuộc hữu tình thế gian, đứng về mặt không gian mà an lập tầng thứ thì sự lưu chuyển sinh tử của hữu tình được chia làm bốn trạng thái là; sinh hữu, bản hữu, tử hữu và trung hữu. Còn y vào mười hai duyên khởi thì có ba đời với lưỡng trùng nhân quả, đấy là nói về mặt thời gian mà an lập thứ tự. Dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ba giới này làm khí thế gian. Lại lấy bốn kiếp là: thành, trụ, hoại, không, chi phối sự tuần hoàn sinh diệt của khí thế gian (đồ chứa đựng gọi là khí), đây là nói thứ tự khí thế gian được an lập về mặt thời gian.

Song nếu không có pháp xuất thế gian thì sự an lập pháp thế gian bất luận đó là hữu tình thế gian, hay khí thế gian, kết cục vẫn cứ mãi quay vòng mà không có điểm dừng lại, thành ra vô thỉ vô chung, vì cứ nối tiếp nhau làm nhân rồi lại làm duyên tương tục không dứt.

Sở dĩ chúng sinh không thoát khỏi được sinh tử, đó là do tạo nghiệp, tạo nghiệp thị thọ quả báo. Do đó, Phẩm Nghiệp của luận này đặc biệt dành để phân tích thuyết nói về Nghiệp. Nghiệp được chia thành “tư nghiệp” và “tư dĩ nghiệp”. Nghiệp thuộc về ý gọi là tư nghiệp, nghiệp thuộc về thân và ngữ gọi là tư dĩ nghiệp. Lại lấy hai nghiệp thân và ngữ, mỗi nghiệp như thế lại chia thành “biểu nghiệp” và “vô lậu nghiệp”. Chúng sinh tạo nghiệp là do “hoặc” (mê mờ) sai sử, do đó Phẩm Tùy Miên của luận này là nhằm khai thông vấn đề “hoặc”. Tùy miên là do hoạt động của nghiệp mà dẫn dến khổ quả, ý vị của tùy miên trong đó có phiền não. Phiền não được phân ra thành căn bản (sáu thứ hoặc mười thứ) và chi mạt (có mười chín thứ). “Hoặc” có “kiến hoặc” - mê về lý, và “tư hoặc” - mê về sự; kiến hoặc là do mê muội không thấu rõ lý Tứ đế, kiến hoặc phối hợp cả trong tam giới mà thành tám mươi sử. “Tư hoặc” là bốn thứ: tham, sân, si, mạn trong căn bản phiền não, cọng cả thảy trong tam giới có mười thứ; trong đó dục giới có bốn, còn sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ không có tham, còn thì mỗi giới đều có ba thứ, lại còn có một trăm lẻ tám phiền não, tức tám mươi tám sử thuộc kiến hoặc, mười thứ thuộc “tư hoặc” cộng với mười trên mà thành (108). (Các danh tướng vừa nêu xin đọc thêm Pháp số).

- Xuất thế gian.

Mục đích của việc phân chia pháp thế gian là nhằm tiến đến con đường xuất thế gian của thánh đạo. Phẩm Hiền Thánh, Phẩm Trí, Phẩm Ðịnh của Luận Cu Xá là để thuyết minh: quả, nhân, duyên thuộc thế giới chứng ngộ. Trí ở đây chỉ cho nghĩa quyết đoán, và được chia thành hữu lậu trí và vô lậu trí. Bốn thứ huệ là: sinh đắc huệ, văn huệ, tư huệ và tu hệ thì gọi là hữu lậu trí; hai thứ là pháp trí và loại trí, thì gọi là vô lậu trí. Công năng của trí là đoạn trừ kiến hoặc. Nói về định, cũng chia thành sinh đắc định và tu đắc định, hai định này mỗi định có bốn sắc giới định (tứ thiền) và bốn vô sắc giới định, mỗi định lại phân ra cận phần định và căn bản định. Do công năng của trí và định mà có thể thứ lớp chứng nhập quả vị hiền thánh. Quá trình đoạn hoặc chứng chơn là trải qua nhiều giai đoạn và quả vị vô cùng phồn phức. Xin lược qua như sau:

1. Hiền Vị thất gia (bảy bậc) và chia ra hai loại:

a) Tam hiền - Ngũ đình tâm, biệt tướng niệm trụ, tổng tướng biệt trụ.

b) Bốn thiện căn - Noãn thiện căn, đảnh thiện căn, nhẫn thiện căn (nhẫn thiện căn lại có thể tế phân ra làm: hạ, trung thượng ba phẩm), thế đệ nhất pháp.

2. Hai loại thánh vị, chia thành “tam đạo bát bối” (ba đường tám nhóm):

a) Hữu học vị chia làm Dự Lưu - hướng thuộc kiến đạo, Dự Lưu quả thuộc kiến đạo, Nhất Lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A la hán hướng.

b) Vô học vị thuộc vô học đạo, tức là quả A la hán. Những quả vị thanh văn này chỉ có khi thế gian có Phật. Khi đời không có Phật xuất hiện, tự mình có thể quán mười hai nhân duyên mà ngộ nhập Thánh quả, thì gọi là Ðộc giác, và tiếng Phạn là Bích Chi Ca Phật (Pratyekabuadha). Kiếp trước và hiện kiếp khi đức Thích Tôn chưa chứng đắc Phật quả, Ngài được xưng là Bồ tát. Trước tiên Bồ tát phải nỗ lực tu lục độ vạn hạnh, trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, lại còn phải trải qua trăm kiếp để gieo trồng “tướng hảo chi nghiệp” (nghiệp thiện để thành tướng hảo), sau rốt mới chứng Ðẳng Chánh Giác (thành Phật). Sau cùng là Phẩm Phá Ngã. Ðây là phẩm xiển minh lý vô ngã của Phật giáo, đồng thời dùng lý nghĩa này để phá bỏ ngoại giáo, và thuyết hữu ngã dị chấp.

(1) Ðại Chánh tạng-49, cuối trang 15.

(2) Một tên gọi khác để chỉ chúng sinh.

(3) Một tên gọi khác để gọi chúng sinh.

(4) Vô học: Ðạo học viên mãn, không phải tu học nữa thì gọi là vô học.

(5) Yết Lạt Lam Ka Lai,còn gọi là Ca La La v.v... dịch là ngưng hoạt, tạp uế v.v... tinh khí của cha mẹ khi mới hòa hợp ngưng kết, là thời kỳ thai nhi từ lúc thọ sinh cho đến 7 ngày sau. Từ Ðiển Phật Học - Hà Nội xuất bản 1994.

(6) Quyển 14 Ðại Chánh tạng-22, cuối trang 340.

(7) Quyển 32 Ðại Chánh tạng-22 cuối trang 501.

(8) Quyển 39, Ðại Chánh tạng-22, trang 536.

(9) Ðại Chánh tạng-24, giữa trang 676.

(10) Xin tham khảo luận thư của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, và sự nghiên cứu của các Luận sư của Bộ này - Pháp sư Ấn Thuận - trang 37.

(11) Ðại Chánh tạng-25, trang 192.

(12) Ðại Chánh tạng-25, giữa trang 192.

(13) Ðại Chánh tạng-25, đầu trang 70.

(14) Vọng Nguyệt Phật Giáo Từ Ðiển - cuối trang 903.

(15) Nước Ca Thấp Di La naylà bang Kamira của Ấn Ðộ, thuộc vùng tây bắc - chú của người dịch.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn