Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tiết 3: Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ

05/01/201202:25(Xem: 1240)
Tiết 3: Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm- Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG VII
NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO - VƯƠNG TRIỀU VUA A DỤC VÀ SAU ÐÓ

TIẾT III. NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO ẤNÐỘ

Sự quan hệ giữa Tôn giáo và Nghệ thuật.

Ðịnh nghĩa thế nào là nghệ thuật, phạm vi của nó có thể nói người này khác người kia, nhưng theo quan niệm phổ thông thì nghệ thuật là chỉ cho: kiến trúc, điêu khắc, đồ họa, âm nhạc và các tác phẩm văn học. Ở thời hiện đại này người ta lấy khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, phân ra từng lĩnh vực để giới thuyết. Và đưa ra nhận định: khoa học chủ đích là nhắm đến cái chân, chủ đích của tôn giáo là Thiện, và của nghệ thuật là Mỹ. Thực là không hẳn là như vậy, đứng trên quan điểm nghệ thuật có thể chia thành nghệ thuật khoa học, nghệ thuật tôn giáo và nghệ thuật của nghệ thuật. Trong thời cận đại có người đưa ra quan niệm dùng nghệ thuật sáng tạo nghệ thuật; như vậy, việc truy tầm di tích cổ đại của nhân loại có nhiều nghệ thuật phẩm hết sức vĩ đại, nhưng có rất ít các nghệ thuật phẩm tách khỏi nghệ thuật tín ngưỡng tôn giáo để độc lập phát sinh tồn tại. Riêng về kiến trúc, thì những kiến trúc vĩ đại nhất trong thời cổ đại là ở Hy Lạp và Ai Cập. Ðó là điện thờ thần và Kim tự tháp. Các công trình này cơ bản vẫn xuất từ tín ngưỡng tôn giáo. Thời cổ đại ở Trung Quốc có kiến trúc lớn nhất là Minh Ðường.

Sách Lễ Ký của Trung Quốc có thiên chép về “Minh Ðường vị”. Minh Ðường là gì? Là nơi các bậc đế vương trong thời cổ đại của Trung Quốc dùng vào việc bái thiên, tế thổ, hành chính và phổ biến giáo dục.

Về điêu khắc, những tác phẩm điêu khắc trong thời cổ đại hiện còn, phần nhiều là các tượng thần mang tính tôn giáo, đôi khi cũng có tượng người nhưng cũng sản sinh từ đức tin tôn giáo. chẳng hạn “Sử Ký - Chu Bản Kỷ” chép “Chu Võ Vương vì Văn Khương mà làm mộc chủ (còn gọi là thần chủ) rời chở đi thảo phạt”. Ðấy là nói lúc Võ Vương đi thảo phạt, ông dùng xe chở tượng Văn Vương được làm bằng gỗ đi cùng, tượng gỗ được coi là đại biểu cho Văn Vương. Việc làm này khiến cho người đời sau theo đó tô vẻ di tượng người trước, và chế tác ra bài vị tổ tiên để thờ cúng.

Ngay như âm nhạc, thời cổ đại người ta dùng âm nhạc vào các lễ nghi tôn giáo, dần dần người ta sử dụng âm nhạc vào các cuộc vui chơi, hoặc đệm cùng thi ca để xướng tụng các thần, không sự kiện nào là không dùng dến âm nhạc. Còn có loại âm nhạc chuyên dùng cho việc vui chơi nhảy múa. Như chúng ta biết, Vệ Ðà của Ấn Ðộ trước tiên dùng những vần thơ mỹ miều để ca tụng thần minh. Bích họa trong các di tích cổ dại, người ta phát hiện thấy các nhân vật thần thoại đang trong tư thái nhảy múa trông đẹp một cách dị thường. Ngày nay vẫn còn một số vùng mà ở đó thổ dân vẫn còn lạc hậu, họ sử dụng âm nhạc để khiêu vũ, ca xướng coi đó là cách thức để tế thần và tạ thần.

Vì thế, mà xã hội loài người từ thời cổ đại đã biết sáng tác nghệ thuật mà nền tảng của nó đại để xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo.

Ðương nhiên về tính chất, thì giữa tôn giáo và nghệ thuật là không tương đồng, bởi tôn giáo là do tín ngưỡng, trong khi nghệ thuật thông qua sự biểu hiện, có tín ngưỡng rồi sau mới có tôn giáo. Tôn giáo đem lại cho người ta cảm tưởng là mình được vĩnh viẽn an toàn; trong khi nghệ thuật chỉ biểu hiện “cái có” của đương thời, hoặc niềm hân hoan đương tại cảm thú về cái đẹp.

Do đó, sự thành kính đòi hỏi tín đồ của tôn giáo phải đạt đến trình độ tương đương, có thể họ không có nhu cầu nghệ thuật trong sinh hoạt tín ngưỡng, nhưng họ phải luôn giữ tâm họ bình tĩnh an lạc; cũng có hạng người nhờ vào phương pháp nghệ thuật làm môi giới để từ đó đi vào tín ngưỡng tôn giáo. Vì thế, tôn giáo không nhất thiết phải cần đến nghệ thuật, nhưng sự biểu hiện của nghệ thuật có thể dẫn đường để con người đến tôn giáo. Ðìều này, về phương diện tư tưởng của Phật Giáo mà nói là phù hợp sự thực.

* Bản chất Phật Giáo đối với nghệ thuật có thuận nghịch. Thứ nhất, Phật Giáo nguyên thỉ chỉ chú trọng việc tu trì, và giải thoát, không có thì giờ nhàn hạ để nghĩ đến nghệ thuật: người người có hiểu biết Phật pháp đều biết rằng một Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni, họ không được theo đuổi công tác nghệ thuật.

Vì là tất cả mọi hiện tượng được sản sinh từ pháp duyên sinh, đã là duyên sinh thì không thực, mà chỉ là quang ảnh của sự giả hữu và tạm hữu, cho nên có gì đâu phải coi trọng, đồng thời tìm cách giải thoát tâm tham luyến, tâm ưa thích muốn chiếm hữu quang ảnh; người tu đạo nếu không thoát khỏi sự trói buộc của ảo ảnh, người đó sẽ không đạt lợi ích thực sự trong việc tu hành. Vì vậy, trong giáo nghĩa nguyên thỉ, không giáo nghĩa nào không cảnh giác con người hãy mau chóng thoát khỏi nghiệp sinh tử. Khẩn cấp cầu pháp giải thoát. Tất nhiên hiện tượng mà tôn giáo tín ngưỡng đưa đến phải là cảnh giới tương đương. Ðặc biệt là Phật Giáo, nhân duyên quan lưu lộ từ bi trí của đức Phật, giúp chúng ta biết được sự sinh tồn của con người và vạn hữu giữa thời gian và không gian, đó chẳng qua chỉ là sự tồn tại tạm thời của thân tâm do ngũ ấm giả hợp, rốt cuộc cũng qui về hoại diệt, vì thế, chớ nên để vật chất bên ngoài như thanh, sắc v.v... làm cho mê hoặc, trong khi sự biểu hiện của nghệ thuật lại rất cần sự môi giới của thanh sắc.

Tóm lại, trong thời đức Phật tại thế, cố nhiên trong việc giáo hóa nhân gian, đức Phật chưa từng phản đối nghệ thuật, nhưng nghệ thuật đối với việc giáo hóa của Ngài cũng không được trọng thị một cách tích cực. Vì rằng, kiếp nhân sinh có là bao, thọ mệnh vô thường, sáng không thay được chiều. Cầu xuất biển khổ sinh tử là việc cần kíp như cứu lửa trên đầu, vậy lấy đâu ra thời gian nhàn hạ để theo đuổi công tác nghệ thuật? Do đó cho nên trong thánh điển Phật Giáo nguyên thỉ phải đợi đến khi khai quật và phát hiện di chỉ Phật tích của Ấn Ðộ cổ đại, ghi là sau Phật nhập diệt hơn hai trăm năm, thuộc dưới thời vua A Dục, nghệ thuật Phật Giáo mới xuất hiện. Việc khai quật diễn ra cách thời đại đức Phật quá xa, nó vượt quá sức tưởng tượng, sức dự đoán của tín đồ đối với thánh cách của đức Phật. Ðồng thời nó cũng cho thấy Phật Giáo dưới thời vua A Dục cũng chịu ảnh hưởng văn hóa của các tôn giáo khác, rồi dần dà mới dùng thanh, sắc làm công cụ để biểu đạt nghệ thuật Phật Giáo. Do đó, những tác phẩm ở thời kỳ đầu được ra đời không do nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, mà là tượng trưng cho nhu cầu tín ngưỡng.

- Thứ hai, quan niệm nghệ thuật từ Tiểu thừa đến Ðại thừa Phật Giáo: Ở đây, điều đầu tiên cần nói rõ là vào thời đức Phật tại thế, chưa có việc phân chia Tiểu thừa, Ðại thừa, bởi Phật pháp là “nhất vị”. Nhưng do căn khí của hàng đệ tử không đồng nhất, cho nên việc tiếp tục lý giải lời dạy của Phật là có khác nhau. Do đó, tùy đối tượng mà đức Phật giảng thuyết; với hàng xuất gia, Ngài chú trọng giảng về pháp ly thế, xuất thế, với hàng đệ tử tại gia, sự thuyết giảng của Ngài nghiêng về hòa thế, lạc thế; tuy mục tiêu vẫn là nhắm đến cảnh giới Niết bàn giải thoát. Nhưng, thường thì đức Phật chú trọng đến hàng đệ tử xuất gia. Sau khi Phật diệt độ, lần kết tập (biên tập) kinh Phật thứ nhất, hoàn toàn do các vị xuất gia đảm trách. Cho nên trong thánh điển Phật Giáo nguyên thỉ khó mà tìm ra được đâu là dấu hiệu của tư tưởng Ðại thừa. Vì thế, trên nguyên tắc không cần phải đinh ninh là tại sao kinh điển nguyên thỉ chỉ thiên trọng Tiểu thừa.

- Nhưng, được gọi là Phật Giáo Tiểu thừa, điều này không xuất hiện dưới thời Phật tại thế, mà chỉ xuất hiện sau Phật nhập diệt. Nguyên do là vì tăng đoàn xuất gia chịu ảnh hưởng văn hóa khác nhau theo từng địa vực mà họ hoằng hóa, nên đối với giáo pháp của Phật, mỗi mỗi tăng đoàn có sự lý giải không tương đồng, từ đó đưa đến việc phân xuất nhiều Bộ phái. Tiểu thừa Phật Giáo, ấy là Bộ phái Phật Giáo. Việc phân phái đầu tiên là phân thành Lão Tỳ kheo phái thuộc Thượng Tọa Bộ và Thanh niên Tỳ kheo phái thuộc Ðại Chúng Bộ. Sau đó từ Thượng Tọa Bộ và Ðại Chúng Bộ lại phân ra thành nhiều Bộ phái, theo giới thiệu của luận Dị Bộ Tông Luận, có tất cả hai mươi Bộ phái; từ ngữ Bộ phái tương đương với danh từ Tông phái của Trung Quốc, hoặc danh từ học phái của Hy Lạp. Trong số các Bộ phái thuộc 
Tiểu thừa Phật Giáo, thì tại nam Ấn Ðộ có các Bộ phái của Ðại Chúng Bộ, và tại tây bắc Ấn Ðộ có Nhất Thiết Hữu Bộ của Thượng Tọa Bộ truyền bá tại đây, và tư tưởng càng tiến bộ; do họ tôn trọng việc giáo hóa Phật pháp đến sinh hoạt của giới tín đồ tại gia, một lần nữa Phật Giáo Nhất Thiết Hữu Bộ phục hưng, ấy là Ðại thừa Phật Giáo. Ðại Chúng Bộ của nam Ấn Ðộ cũng là Tiểu thừa, nhưng từ từ cũng dung nhập vào lĩnh vực Ðại thừa. Nhất Thiết Hữu Bộ của tây bắc Ấn Ðộ cũng từ trong tăng đoàn Tiểu thừa mà sản sinh rất nhiều bậc tông sư của Ðại thừa (vấn đề này xin đọc thêm ở chương tám của sách này).

Như chúng ta biết Phật giáo Ðại thừa thiên về “hòa thế lạc quần” (chan hòa vào thế tục, làm lợi lạc quần sinh). Tinh thần Ðại thừa là hạnh nguyệt tự độ, độ tha của Bồ tát. Hạnh Bồ tát và pháp thế tục, về mặt biểu hiện không có gì sai biệt, chỉ khác chăng là tâm niệm độ sinh mà thôi. Hạnh Bồ tát là dấn thân vào đời để giáo hóa độ sinh, trong khi pháp thế tục vẫn lưu chảy trong cuộc sống thế tục và không khác thế tục (tức cứu đời). Vì thế, con đường của Ðại thừa Bồ tát tuy bên ngoài biểu hiện những việc làm có tính cách thế tục, nhưng hàm ẩn bên trong pháp môn tu giải thoát vô cùng vĩ đại.

Hẳn nhiên khi đã “nhập tục hóa tục”, điều cần yếu là phải thực hiện đồng sự nhiếp trong Tứ nhiếp pháp, ấy là trước phải tùy thuận dục lạc của chúng sinh để lần lần dẫn dắt chúng sinh chúng sinh về với chánh đạo của Phật. Riêng về phương diện này, nghệ thuật Phật giáo cũng cần rất nhiều nhu yếu. Do đó, sự tiến bộ của các Bộ phái Tiểu thừa còn lưu truyền trong Thánh điển Phật giáo, cho chúng ta thấy về nghệ thuật hội họa và điêu khắc.

Trong bộ Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển hai(8), tuy có qui định Tỳ kheo không được sáng tác hội họa, nhưng nếu họa tử thi, hoặc đầu lâu thì không phạm. Tỳ Nại Da quyển ba mươi tư, được truyền tụng bởi Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ(9) có ghi là, đối với cửa của các chùa được phép họa các bích họa như: vẽ tranh về sinh tử luân hồi, tranh minh họa cảnh địa ngục, cảnh thiên nhiên hay cảnh tượng Phật; vẽ chim bồ câu để biểu thị sự tham dục, vẽ hình độc xà để biểu thị sự sân nhuế, vẽ hình lợn để biểu thị sự ngu si, và cũng được phép vẽ tướng sinh diệt thuộc mười hai pháp duyên sinh.

Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Mục Ðắc Ca quyển tám(10) có chép: nếu bức bích họa có sắc màu cũ kỹ không còn sáng đẹp, thì Tỳ kheo được phép tô vẽ lại.

Kinh Thế Ký trong kinh Trường A Hàm của Thượng Tọa Bộ được truyền bởi Pháp Tạng Bộ(11), đã hoàn toàn dùng thủ pháp nghệ thuật để miêu tả các thứ cảnh giới trên cung trời, ở cõi nhân gian, cõi địa ngục và thần đạo. So với những bộ phái khác, sự xuất hiện của Pháp Tạng Bộ có phần muộn hơn, cũng nhờ đó mà Pháp Tạng Bộ tiếp cận với Ðại thừa nhiều hơn; vì thế nên Tứ Phần Luật là bộ lụât được Pháp Tạng Bộ truyền tụng.

Ngài luật sư Ðạo Tuyên - vị sơ tổ của Luật tông Tung Quốc cho rằng Tứ Phần Luật cũng có “phần thông Ðại thừa”. Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển hai mươi tám(12) chép việc vua Chơn Ðiền lệnh cho thợ khéo giỏi “dùng gỗ Ngưu Ðầu Chiên đàn để chế tác hình tượng đức Phật, với chiều cao năm thước”.

Trong thánh điển Ðại thừa, không khí nghệ thuật Phật giáo dương nhiên là thêm phần nồng hậu. Cho dù là vậy, nhưng trong kinh Ðại Bát Nhã quyển 327 - Phẩm Sơ - Phần Bất Thối Chuyển(13) chép là Bồ tát “đối với văn chương, kỹ nghệ thế gian, tuy có được thiện xảo (khéo léo tài giỏi) nhưng cũng không vì thế mà ái trước”, vì chúng thuộc về “Tạp uế ngữ”, và “tà mạng sở nhiếp”.

Ở đây, chúng ta cần nêu ra các sáng tác phẩm của nghệ thuật Phật giáo; cố nhiên các tác phẩm ấy là nhằm tiếp dẫn tín đồ, và biểu đạt sự nhiệt thành tín ngưỡng của họ, trong đó, vẫn có nhân tối ngoại tại. Nhân vì các dân tộc bản địa ở nam Ấn Ðộ cũng đã có nền văn hóa và tín ngưỡng đặc biệt của riêng họ; họ sùng bái rất nhiều thứ và dần dà mới tiến tới sùng bái ngẫu tượng thần minh. Phật giáo vì muốn hóa độ thổ dân tại chỗ, nên cũng sử dụng phương thức tùy thuận theo tập quán của họ, ấy là đúc các tượng thần hộ pháp cho Phật giáo. Vì vậy, ngẫu tượng tối sơ mà Phật giáo có được không phải là tượng Phật, tượng Bồ tát, mà là tượng thần minh, tượng thiên nhân hộ pháp.

Tại tây bắc Ấn Ðộ, do bị thế lực chánh trị của người Hy Lạp xâm lấn xuống nam Ấn; đồng thời họ cũng mang văn hóa Hy Lạp đến Ấn Ðộ. Như chúng ta biết, A Lịch Sơn Ðại (Alexander) tuy là người không rời lưng ngựa, nhưng mục đích xâm nhập Ấn Ðộ của ông vào năm 326 trước Công nguyên là nhằm đem văn minh Hy Lạp đến Ấn Ðộ. Năm 160 trước Công nguyên, lại có một vị tướng Hy Lạp mang quân xâm nhập Ấn Ðộ, và chiếm cứ các vùng đất miệt thượng du sông Hằng. Ðó là vua Di Lan Ðà được chép trong kinh Na Tiên Tỳ Kheo. Chúng ta cũng biết trong thời cận đại, văn hóa phương tây được mở rộng, mà uyên nguyên của vấn đề là sự tái phục hưng nền văn minh Hy Lạp; tại bắc Ấn Ðộ cũng chịu sự kích thích của nền văn nghệ Hy Lạp. Ðại biểu cụ thể nhất của việc ảnh hưởng này là tượng Phật điêu khắc mang phong cách nghệ thuật Hy Lạp, hiện còn sót lại tại địa phương Kiền Ðà La.

- Liên quan đến tượng Phật của Ấn Ðộ.

I. THỜI PHẬT GIÁO NGUYÊN THỈ CÓ THỜ TƯỢNG PHẬT KHÔNG?

Vấn đề này được coi là có giá trị quan trọng. Ðức Phật không hề chủ trương cho các hàng đệ tử Ngài tạo hình tượng Ngài để sùng bái, ít nhất là về mặt hình thức. Ðức Phật luôn lúc nào cũng dạy các hàng đệ tử phải thực tiễn tu tập theo thánh đạo giải thoát. Ðiều đó được biểu lộ qua sự thân cận giữa Ngài và đệ tử. Nếu không thực tiễn trong tu tập, thì chính mỗi người chẳng tu theo Thánh đạo của Phật, cho dù ngày ngày đều nhìn thấy tượng Phật cũng chẳng có chút ý nghĩa gì. Ðồng thời, trong số những khai quật được giới khảo cổ học cận đại phát hiện, thì tại Ấn Ðộ từ thời vua A Dục trở về trước người ta chưa phát hiện có mối liên hệ nào về tượng Phật, hoặc di vật biểu thị cho nghệ thuật Phật giáo. Ấy vậy, nhưng trong những kinh, luật được truyền thừa bởi bộ phái Phật giáo, đều xác nhận là ở thời đại đức Phật đã có xuất hiện tượng Phật. Xin đơn cử một số kinh, luật:

1. Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển hai mươi tám(14) chép:

Việc đức Phật lên cõi trời Ðao Lợi thuyết pháp cho mẫu hậu, hàng tứ chúng đệ tử ở nhân gian trông ngóng mong được gặp lại Ngài với niềm khái niệm phi thường. Trong đó, vua Chơn Ðiền là người nhớ Phật thâm thiết nhất; ông nghĩ quả như ông không nhìn thấy Phật mà ông lại chết đi thì sao. Nhân đó mà vua nhận được kiến nghị của quần thần là hãy mời thợ điêu khắc tài giỏi dùng gỗ Chiên đàn để khắc chạm thành một tượng Phật tôn quí, cao năm thước. Tiếp đó, vua Ba Tư Nặc biết được biện pháp này, ông cũng mời thợ điêu khắc tài khéo dùng Tử Ma Kim thuần túy để tạo thành tượng Phật, cũng cao năm thước.

2. Căn bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da(15), thì thuật rằng:

Nhân lúc đức Phật ngồi thuyết giảng giữa đại chúng, thì hàng đệ tử ai ai cũng oai nghi chỉnh túc. Nhưng lúc không có đức Phật, chúng đệ tử không mấy người được oai nghi. Vì thế, ông trưởng giả Cấp Cô Ðộc thỉnh thị đức Phật chuẩn hứa cho ông tạo một tượng Phật, và coi tượng Phật như là đại biểu cho Ngài ở trong đại chúng, khi vắng Ngài. Ðức Phật đáp “tùy ý tương tác, trí ư chúng thủ” (tùy ý mà làm, nên đặt ở chỗ cao ngang đầu).

3. Cũng trong Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da, quyển bốn mươi lăm(16), có chép:

Về việc Ảnh Thắng của nước Ma Kiệt Ðà muốn họa một tượng Phật để gởi vua Tiên Ðạo ở thành Thắng Ân xa xôi. Nhà vua hướng về đức Phật để xin chỉ dạy. Phật đáp: “lành thay diệu ý, này đại vương, có thể họa một tượng Phật gởi đến vua kia”. Vả lại còn đưa ra qui định về cách thức họa tượng.

Từ các dẫn chứng trên, tuy là tứ thánh điển thuộc Phật giáo Bộ phái, nhưng chúng ta không thể nói Phật giáo chủ trương không lễ cúng tượng Phật. Lúc Phật tại thế, Ngài dùng thân giáo và ngôn giáo, sau khi Phật nhập diệt, thì lấy tượng giáo làm trung tâm tín ngưỡng. Phàm khi Phật giáo đã có hình tượng Phật có công dụng “hóa thế diệu tục” (giáo hóa thế gian, dẫn dắt người đời), đã thế thì không điều gì là không thuộc phạm vi tượng giáo.

II. SỰ XUẤT HIỆN TƯỢNG PHẬT.

Nếu căn cứ vào những phá hiện khảo cổ học cận đại, thì tượng Phật được phát hiện sớm nhất tại Ấn Ðộ là ở địa phương Tát Ðặc Na thuộc nam Ấn. Ðây là tác phẩm điêu khắc được tạo vào thời gian sau vua A Dục lên ngôi khoảng một trăm rưỡi năm (tức 100 năm trước Công nguyên), ở thời đại vua A Dục tuy đã có tháp Phật, trụ đá và bia đá còn lưu lại, nhưng chưa thấy xuất hiện tượng Phật được điêu khắc. Việc lập tượng Phật tại địa phương Tát Ðặc Na tuy thuộc về nghệ thuật Phật giáo, nhưng đó là phỏng theo hình tượng Dạ Xoa. Hình tượng Dạ Xoa này vốn là thần của thổ dân thuộc dân tộc Ðạt La Duy Trà ở nam Ấn Ðộ, về sau thần được qui hóa thành vị thần hộ pháp của Phật giáo.

Phật giáo xưa nay vẫn luôn coi trọng việc kiến thiết nhân cách con người trong chiều sâu tinh thần nội tại. Và không mấy chú tâm đến việc sùng bái mang tính hình thức, chính vì thế mà Phật giáo nguyên thỉ không hề có nghi thức tế tự nào, cho nên không tạo ngẫu tượng để sùng bái. Tinh thần này được thiền tông Tung Quốc tôn trọng. Nhân vậy mới có câu chuyện thiền sư Ðan Hà lấy tượng Phật gỗ bửa làm củi để sưởi ấm. Sau này, trong nhiều thiền đường của Tung Quốc cũng không thờ cúng tượng Phật. Bởi Phật vốn ở tại tâm, ngoài tâm không có Phật, tinh thần này cùng việc bài báng cho rằng Phật giáo chuyên sùng bái ngẫu tượng để nhằm so sánh việc sùng bái mộc đầu của Cơ Ðốc giáo. Thực thì không có cách nào để tỉ dụ là tín đồ Cơ Ðốc giáo không sùng bái ngẫu tượng, nhưng họ dùng thập tự giá thay cho ngẫu tượng và quỳ trước thập tự giá mà cầu nguyện. Như vừa trình bày trên, Phật giáo đồ vốn không thiết lập ngẫu tượng, nhưng càng về sau do khu vực giáo hóa của Phật giáo càng phát triển và mở rộng, nhân đó tiếp xúc với nhiều dân tộc có nền văn hóa khác nhau. Chẳng hạn như dân tộc Ðạt La Duy Trà ở nam Ấn Ðộ, người Hy Lạp và người Nguyệt Thị xâm nhập vào bắc Ấn Ðộ, họ đều là những dân tộc sùng bái tượng thần. Khi dân tộc Trung Hoa tiếp thụ tín ngưỡng Phật giáo cũng kéo theo nhu cầu sùng bái tượng Phật. Như vậy ở thời kỳ đầu tại nam Ấn Ðộ, Phật giáo phỏng theo tượng thần Dạ Xoa để tạo tượng Phật cho nên trên đỉnh đầu tượng Phật không có nhục kế, và phần lớn là dùng sư tử làm tòa; về sau tại tây bắc Ấn Ðộ, Phật giáo phỏng theo tượng thần của người Hy Lạp để tạo tượng Phật, thì trên đỉnh đầu tượng Phật mới có tướng nhục kế, và dùng hoa sen làm tòa, tượng còn có cả râu tóc. Việc này diễn ra trước sau tây lịch bốn trăm năm, vì đó là thời kỳ thịnh hành nên nền nghệ thuật điêu khắc mang tên Kiền Ðà la.

- Nghệ thuật điêu khắc của Phật giáo Ấn Ðộ 

Ðại loại có thể chia nghệ thuật của Phật giáo Ấn Ðộ thành bốn thời kỳ.

1. Từ vua A Dục đến vương triều Án Ðạt La.

Không nghi ngờ gì, kỹ thuật điêu khắc của Ấn Ðộ vào thời đại đức Phật là đã có rồi. Nhưng nói về những di vật còn lưu lại đến ngày nay, thì những điêu khắc trên vách đá, trên trụ đá có từ thời vua A Dục được coi như những tác phẩm điêu khắc đầu tiên của Phật giáo Ấn Ðộ, kỹ thuật điêu khắc dưới thời vua A Dục là cực kỳ tinh xảo. Chẳng hạn như trụ đá được vua A Dục cho dựng tại vườn Nai (Lộc dã uyển), mà đầu trụ hiện nay còn lưu giữ tại Bác Vật Quán - Lộc Dã Uyển của Ấn Ðộ. Trụ cao bảy thước(17), đầu trụ là bộ điêu khắc bốn con sư tử, dưới sư tử là một cái trống, vành trống có phù điêu chạm hình bốn con thú là voi, ngựa, nai và sư tử, bốn đầu sư tử và bốn con thú trông rất có thần và cực kỳ sinh động. Chúng được mài dũa rất nhẵn, và đối với lịch sử nghệ thuật của thế giới, thì trụ đá này chiếm vị trí rất cao.

Hơn trăm năm sau thời vua A Dục, ước khoảng thế kỷ thứ hai trước Công nguyên có Bà Nhĩ Ha Ðặc (Bhàrhut) và cửa thép Tang Khư (Sànõchi) mà đường nét điêu khắc trên trụ và lan can hiện vẫn còn. Cho thấy những chạm khắc sư tử, lực sĩ Kim Cang, Dạ Xoa và các nhân vật trong truyện tích xưa của Phật giáo v.v... là hết sức tinh xảo, thẩm mỹ.

Dù vậy, nhưng thời kỳ này vẫn chưa chính thức thấy xuất hiện tượng Phật, mới chỉ thấy hoa sen tượng trưng cho sự đản sinh của đức Phật, cây Bồ Ðề tượng trưng cho sự thành đạo của đức Phật, lấy Luân Bảo tượng trưng cho sự thuyết pháp của Phật, và lấy Tháp Ba (Stùpa) tượng trưng cho Phật Niết bàn. Những điều vừa nêu trên thuộc về điêu khắc Phật Giáo của nam Ấn Ðộ.

2. Những điêu khắc tại địa phương Kiền Ðà La:

Kiền Ðà La nay thuộc A Phú Hãn (Afghanistan) và là địa khu của một tỉnh ở vùng tây bắc Ấn Ðộ. Tại khu vực này còn lưu lại nhiều di tích điêu khắc tượng Phật. Về tổng thể, nền điêu khắc tại khu vực này đã được thai nghén ước khoảng bốn trăm năm trước tây lịch, nhưng mãi đến thế kỷ thứ hai sau tây lịch nó mới được người Ðại Nguyệt Thị dưới thời vua Ca Nị Sắc Ca của vương triều Quí Sương đưa đến cực điểm thịnh đạt. Nghệ thuật điêu khắc của thời kỳ này lấy tượng Phật, tượng Bồ tát làm chủ đề. Sử dụng kỹ thuật điêu khắc của người Hy Lạp để biểu hiện tín ngưỡng Phật giáo. Do đó, nếu lấy hình tượng của tượng Phật mà nói, thi người Hy Lạp là giống người có sống mũi cao, để nhiều râu tóc, dệt lông thú dày làm y sức. Như chúng ta biết, tinh thần cơ bản của Sa Môn là cạo bỏ râu tóc; tại lưu vực sông Hằng của Ấn Ðộ, Sa Môn cũng không được mặc áo dệt bằng lông thú để ngự hàn - chống rét.

Vương triều Án Ðạt La là do người nam Ấn Ðộ kiến lập, và vương triều Quí Sương là do tộc người Ðại Nguyệt Thị xâm nhập vào vùng tây bắc Ấn Ðộ sáng lập, nên lịch sử Ấn Ðộ gọi thời này là thời Nam - Bắc triều.

Chính là do hai nền văn hóa của các dân tộc ở bắc và nam kích hoạt khiến làm xuất hiện nghệ thuật điêu khắc Lan thuẫn(18) của đại tháp A Ma La Bà Ðề (Amaràvat) ở trung Ấn Ðộ. Nghệ thuật điêu khắc Lan thuẫn này chịu ảnh hưởng của điêu khắc Kiền Ðà La, nhưng vẫn giữ được thủ pháp thuần túy của Ấn Ðộ ở thời kỳ thứ nhất đến thế kỷ thứ hai tây lịch.

3. Ðiêu khắc của vương triều Cấp Ða:

Nền điêu khắc này mang sắc thái Hy Lạp pha trộn với văn hóa bản địa của Ấn Ðộ mà thành. Có được điều đó là nhờ sự bảo hộ và cổ vũ của vương triều Cấp Ða, và rồi đạt đến đỉnh điểm, thời gian là từ năm 300 đến 640 tây lịch. Ðây là thời khai thác kỹ thuật điêu khắc tượng Phật của Kiền Ðà La, và phát huy nguyên tắc điêu khắc của Ấn Ðộ cổ đại, cho nên nét đặc trưng của tượng điêu khắc trong thời kỳ này là có mặc y rất mỏng phụ thêm vào thân thể nhưng vẫn để lộ đường nét trạng thái bên trong rõ ràng qua việc sử dụng các đường gấp cực mảnh (mỏng), cả hai bên trái bên phải tượng đều khắc họa nếp gấp đường nết lộ rõ trên thân; nếu so với cách điêu khắc của Kiền Ðà La vẫn có nhiều điểm khác nhau, như tượng điêu khắc ở thời kỳ thứ hai thì lưng tượng nhẵn, tròn đơn điệu chỉ như tấm ván tròn, gốc của thời kỳ này là lưng tròn hình vỏ đậu có phụ thêm hoa văn. Ðầu và tóc của tượng Phật của thời kỳ này đa phần có hình xoán ốc; để có được tướng bạch hào, và tay chân có khuỷu, có mắt (mắt cá chân) cũng như ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, biểu lộ tính từ ái một cách đoan chính, trang nghiêm thì thời kỳ thứ hai chưa thể có được. Ðiều đó phải chờ đến sự biểu thị tinh thần Ðại thừa, giàu lý tưởng lợi tha. Chẳng hạn như tượng đức Phật chuyển pháp luân ở Lộc dã uyển, và tượng Phật được điêu khắc để thờ tại tịnh xá Ðộng Quật ở A Khương Tha (Ajantà, còn gọi là A Xà Ân Ðà) thuộc tây nam Ấn Ðộ, đấy là những tác phẩm điêu khắc đại biểu của thời kỳ này.

4. Nền điêu khắc Mật giáo:

Vào cuối thế kỷ thứ tám sau công nguyên, có vương triều Ba La tại địa phương Thiên An ở đông Ấn Ðộ ủng hộ Phật pháp và hết lòng tin Mật giáo. Tình hình đó kéo dài được năm trăm năm. Ở thời kỳ này tượng Phật, tượng Bồ Tát đều căn cứ theo giáo lý Mật giáo. Ðối với tượng ngồi, tượng kiết ấn, tượng phóng quang, tượng mặc y phục, và các thứ dùng để trang sức để tượng thêm phần trang nghiêm, đều phải tuân theo qui định và tỷ suất nhất định. Một cách đại để thì hai mắt phải hướng lên như lưỡi câu, bộ hàm phải vuông rộng và hơi nhọn một chút. Ðặc trưng nhất là tượng có nhiều mắt, nhiều tay.

Lại còn có quy định tùy theo (trong mỗi) nghi quĩ tu mật pháp như thế nào, thì dùng tượng Phật, tượng Bồ Tát sao cho phù hợp với đàn pháp đó.

Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo lớn nhất tại Ấn Ðộ còn lưu giữ đến nay, tọa lạc tại một bang thuộc tây bộ Ấn Ðộ đó là chùa Thạch Quật ở Hải Ðức Lạp Ba thuộc địa phương A Khương Tha. Chùa được phát hiện vào đầu thế kỷ mười chín bởi một học giả người châu Âu là Kiệt Mỗ Tư (James Fegusson). Tại đây có cả thảy mười chín hang động, về niên đại khai mở của những điêu khắc tại các hang động này có thể chia làm ba thời kỳ:

1. Trước Công nguyên hai thế kỷ, cho đến sau Công nguyên từ 150 đến 200 năm.

2. Từ thế kỷ thứ IV cho đến nửa cuối thế kỷ thứ VI sau Công nguyên.

3. Hậu bán thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên.

Trong cả ba thời kỳ này, bao quát có các thể loại được điêu khắc bằng đá như: tượng Phật, cửa đá, trụ đá v.v... Các học giả Nhật Bản và phương tây rất chú tâm nghiên cứu những tác phẩm điêu khắc trong các hang đá này.

- Phật Giáo Ấn Ðộ với nghệ thuật Kiến trúc.

Nền điêu khắc của các thời kỳ được tồn tại là nhờ kèm theo đó là các công trình kiến trúc. Nhân chỉ có di vật kiến trúc thời thượng cổ, tuy còn trong sự hư nát, và không biết dựa vào đâu để phục chế lại cho hoàn thiện như diện mạo vốn có của nó. Còn nói nhờ khảo cổ khai quật phát hiện, thì cũng chỉ có được cái gốc gác mà thôi. Kiến trúc Phật giáo đại loại có thể chia làm ba:

1. Tháp Bà (Stùpa):

Tháp Bà hay còn gọi là Tốt Ðổ Ba (Stùpa). Từ tháp là cách gọi giản đơn, sự cấu thành của tháp có bốn bộ phận tính từ dưới lên, đó là: Cơ Ðàn, Phúc Bát, Bình Ðầu, Can tản v.v... Hình dáng của tháp còn tùy vào thời đại trước thời đại sau nên không giống nhau. Có tháp ở tại chu vi Bình đầu tạo thành một khán thờ Phật, có tháp lại đặt tượng Phật ở mặt trước Phúc Bát; có tháp lại lấy tầng thứ hai, hoặc tầng thứ ba làm mái lợp tròn, bên trên tạo thành Can Tản nhằm biểu lộ ý sùng kính. Có tháp lấy Cơ Ðàn làm thành ba tầng hoặc năm tầng. Sau cùng mới xuất hiện công trình kiến trúc kết hợp tháp với Lan thuẫn. Cách xây tháp Phật của Nhật Bản và Trung Quốc là đến từ đây. Ngày nay các quốc gia theo Phật giáo nam truyền vẫn gìn giữ và xây dựng tháp theo phong cách của hình thái nguyên thỉ.

Hiện nay tại Ấn Ðộ, di tích tháp cổ tìm thấy được là tháp Bà Nhĩ Ha Ðặc, cách A Lạp Hiệp ba (Allahabad) một trăm hai mươi dặm Anh về hướng tây nam, và tháp Tang Khư nằm cách vị trí trung ương của châu (bang) Bà Nhĩ Sa (Bhilsa) sáu dặm về hướng nam. Những điêu khắc nền cửa tháp và Lan thuẫn của tháp Bà Nhĩ Ba Ðặc hiện được lưu giữ ở Bảo vật quán Gia Nhĩ Các Ðáp của Ấn Ðộ. Tháp Tang Khư có đường kính một trăm hai mươi thước Anh. Cơ Ðàn ở độ cao mười bốn thước Anh, và độ cao bốn mươi hai thước Anh đặt một Phúc Bát hình bán cầu, trên Phúc Bát còn có Bình - đầu và Tản Cái. 

Gần đây tháp Tang Khư được tu bổ lại. Ðây là ngôi tháp mang đậm bản sắc nghệ thuật kiến trúc cổ và đẹp nhất của Ấn Ðộ - đẹp từ thấp lên cao. Cũng có một truyền thuyết nói về tháp Tang Khư nhưng được chép ở hai nơi khác nhau. Ngoài ra, tại địa phương Ma Thâu La có ngôi đại tháp A Ma La Bà Ðề với qui mô to lớn, cao đẹp.

Lại nữa, theo truyền thuyết, vua Ca Nhị Sắc Ca từng kiến tạo một ngôi đại tháp thờ Phật tại Phú Lâu Sa Bổ La, tháp cao hơn bốn mươi trượng, trang nghiêm nhất trên toàn Ấn.

2. Chi Ðề (Caitya):

Còn có tên là Chế đa, chữ Chi Ðề, Chế đa đều có nghĩa là Tháp. Về sau là nơi dùng để chư tăng tụ hội được đặt là Chế đa đường.

Chế đa đường chủ yếu là nơi cứ mỗi nửa tháng chư Tỳ kheo tụ hội để bố tát tụng giới. Cấu tạo của Chế đa đại thể, bên trong là hình chữ nhật, bức tường sau ở khoảng giữa, phía bên trong tạo ra nửa hình tròn ở giữa Chế đa. Chế đa hiện vẫn còn tuy đã bị hư hoại nhưng rất nổi tiếng, nổi tiếng hơn cả là Ca Lị (Karli), Na Tây Khắc (Nàsik) và viện Thạch Quật động ở A Khương Tha ở nam Ấn Ðộ. Ðây là những di tích Chi đề cổ xưa nhất.

3. Tỳ Ha La (Vihàra):

Chi Ðề là nơi tụ hội. Tỳ Ha La nơi nơi ngủ nghỉ, hay còn gọi là tăng phòng. Tỳ Ha La được tạo thành bởi nhiều tiểu thất. Nhưng cả một quần thể tăng phòng, tiểu thất tập trung lại thì gọi là Tăng Già Lam(Samghàràma), đơn độc chỉ có tăng phòng mới gọi là Tỳ Ha La. Nhưng tập hợp cả nhà ăn, tăng phòng, giảng đường, thiền đường v.v... tất cả được xây dựng tại một trú xứ nhất định, thì gọi là Tăng già lam. Vì thế, nên giá trị đích thực của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo là Tăng già lam. Như tịnh xá Kỳ Viên, tịnh xá Trúc Lâm được nhắc tới trong kinh, luật chẳng hạn. Nói về qui mô của các tịnh xá, hay Tăng già lam đều vô cùng trang nghiêm thanh tịnh. Tiếc một điều, tuy các nơi này đúng là kỳ quan khi đức Phật còn tại thế, nhưng hiện nay chẳng biết dựa vào đâu để khảo cứu. Thời gian gần đây di chỉ các tịnh xá Kỳ Viên, Trúc Lâm được phát hiện và khai quật tại các địa phương ở Ấn Ðộ, còn vườn Nai và chùa Nan Lan Ðà đều được hậu nhân tu bổ và xây dựng thêm, nên cũng không còn giữ được diện mạo ban đầu.

- Nghệ thuật hội họa.

Bên trong chùa thờ Phật có bích họa. Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự(19), quyển mười bảy chép là: lúc ban đầu đức Phật cho phép ông Cấp Cô Ðộc được vẽ bích họa trong chùa, chỉ rõ cách vẽ như thế nào và vẽ ra làm sao. Từ môn ngạch đến miếu sở, không một nơi nào được vẽ bích họa.

Ghi chép này có liên quan đến bối cảnh thời đại của Hữu Bộ Luật. Giống như các phân tích ở phần trước - nói về điêu khắc. Ngày nay sở dĩ còn biết đến nền hội họa của Phật giáo, cũng là nhờ sự phát hiện trong cùng một hệ thống điêu khắc Kiền Ðà La. Lệ như, tại địa phương Phạm Diễn Na (Bamian), thuộc phía tây Kiền Ðà La, bên trong khám thờ Phật rất lớn có vẽ một bức bích họa - hình thiên nữ.

Ðịa chỉ Di Lan (Miran) Phật tự ở phía đông nước Thiện Thiện, người ta phát hiện một di phẩm bích họa cũng cùng hệ thống Kiền Ðà La, được vẽ khoảng thế kỷ thứ ba tây lịch. Trong hang động tại Ba Cổ (Bàgh) cũng phát hiện được các tác phẩm bích họa vô cùng tinh mỹ, được vẽ vào cuối vương triều Cấp Ða (thế kỷ thứ bảy tây lịch).

Bích họa trong động A Khương Tha tại nam Ấn Ðộ - mới là đại biểu cho nền hội họa Ấn Ðộ. Về niên đại chế tác bích họa A Khương Tha là một sáng tác trường kỳ, tính từ một thế kỷ trước tây lịch cho đến thế kỷ thứ bảy tây lịch. Vách đá bên trong động cứ men theo hình thể vòng cung của đá núi mà khắc họa, mở ra hai chín tòa hang động, trong đó đếm được mười sáu hang động có bích họa và hiện đang vẫn còn. Ðề tài khắc họa, ban đầu được lấy từ Bản Sinh Ðàm và Phật truyện cũng như miêu tả cảnh sinh hoạt của các quí nhân đương thời. Ðứng về phương diện phong tục và y phục v.v... mà xét thì điều kiện vật chất thời ấy chưa cao, nhưng về mặt nghệ thuật thì những bích họa trên vách đá là những tác phẩm chiếm vị trí cực cao trong nền hội họa Ấn Ðộ.

- Tác phẩm Văn học:

Thánh điển Phật giáo ở thời kỳ đầu khí vận văn nghệ không mấy nồng ấm, phần nhiều sử dụng phương thức văn học như kinh Bát Nhã là biểu hiện pháp phủ định, kinh Pháp Hoa, kinh Duy Ma, kinh Hoa Nghiêm được sử dụng biểu hiện pháp tượng trưng, kinh Ðại Vô Lượng Thọ biểu hiện pháp cảm giác, Minh chú của Mật giáo dùng cách biểu hiện thanh âm.

Về Phật truyện; như Phật Sở Hành Tán của Mã Minh thì lại dùng lối thơ cách điệu tươi đẹp mang tính cung đình để viết, trong khi Bản Sinh Ðàn thì dùng phương thức cố sự của dân gian nhằm ngụ ý về Phật giáo. Trong Kệ Tụng (Geyya - Kỳ Dạ) và Trùng tụng (Gàthà - Già Ðà) của cửu phần giáo (chín bộ kinh), trừ những bài tụng của Luận Bộ, còn thì tất cả đều sử dụng sắc thái văn học vô cùng phong phú. Thông thường đa phần là dùng Cơ Lạc Ca (S’loka) điệu. Cơ Lạc Ca điệu qui định một câu phải có đủ tám âm, bốn câu mới thành một bài tụng. Loại văn vần này về sau được dịch ra Hán văn, tuy phần nhiều không ăn vần, nhưng cũng không quá khó hiểu.

Trong các tác phẩm của Mã Minh, ngoài các phẩm Phật Sở Hành Tán, còn có tác phẩm Tôn Ðà Lợi Nan Ðà Thi, và Xá Lợi Phất Hí Khúc. Sau Mã Minh có ngài Ma Hí Lí Chế Tra (Matrceta) mà niên đại không rõ ràng, sáng tác Tứ Bách Tán, Nhất Bách Ngũ Thập Tán Phật Tụng. Hai tác phẩm này theo ghi chép của Nghĩa Tịnh trong Nam Hải Ký Qui Nội Pháp Truyện, quyển bốn(20) thì ở Ấn Ðộ phàm đã là người học vấn thì phải học cách tạo tán tụng, và không ai là không học tập; người xuất gia, bất luận là Ðại thừa hay Tiểu thừa, sau khi đã học tụng được năm giới và mười giới đều phải tụng, học hai tác phẩm trên. Ðiều đó cho thấy địa vị trọng yêu của nhị táng.

Tiền bán thế kỷ thứ bảy có vua Giới Nhật (Silàditya) - vị lãnh tụ ở bắc Ấn Ðộ, ông muốn nhấn mạnh quan niệm từ bi của Phật giáo nên sáng tác thành vở ca kịch Long - Hỷ Ký (Nàgànanda) gồm năm màn (hồi). Vua Giới Nhật vị quân vương kiền thành tín Phật, đồng thời ông cũng là nhà văn hóa của đương thời. Ngoài ra ông còn sáng tác các vở ca kịch như: Hỷ Kiến Ký và Anh Lạc Ký, về thi tập, ông có cuốn Ca Ðan Ba Lê tập.


(1) thanh tín sĩ: Ưu abf tắc.

(2) Ðại Chánh tạng-27, giữa trang 655.

(3) Ấn Ðộ Thông Sử - của Chu Tường Quan - trang 100.

(4) Ðại Chánh Tạng-51, giữa trang 883 đến đầu trang 887.

(5) Ðại Chánh Tạng-50, dầu trang 189. Bà Nậu Bàn Ðậu là Bồ Tát Thế Thân.

(6) Ðại Chánh Tạng-50, đầu trang 189.

(7) Ðại Chánh Tạng-51, giữa trang 887.

(8) Ðại Chánh tạng-24, trang 252.

(9) Ðại Chánh tạng-23, trang 811.

(10) Ðại Chánh tạng-24, cuối trang 445.

(11) Ðại Chánh tạng-1, từ trang 114 đến 149.

(12) Ðại Chánh tạng-2 đầu trang 674.

(13) Ðại Chánh tạng-2, trang 674.

(14) Ðại Chánh tạng-2, đầu trang 706.

(15) Ðại Chánh tạng-23, giữa trang 782.

(16) Ðại Chánh tạng-23, đầu trang 874.

(17) Xích = thước: tương đương 95,2cm.

(18) Lan thuẫn = lan can và thành trụ lan can.

(19) Ðại Chánh Tạng-24, trang 283.

(20) Ðại Chánh Tạng-54, giữa trang 227.

TIẾT III. LƯỢC KHÁI QUÁT LUẬN CU XÁ.

Phẩm Mục của Cu Xá.

Ðại luận sư Thế Thân, người nước Kiền Ðà La sau đến nước Ca Thấp Di La học luận Ðại Tỳ Bà Sa, lúc hồi hương ông viết ra yếu nghĩa với sáu trăm bài tụng, và gởi sáu trăm bài tụng này trở lại nước Ca Thấp Di La. Bấy giờ có luận sư Ngộ Nhập của Hữu Bộ cho rằng sáu trăm bài tụng của Thế Thân trái nghịch với giáo nghĩa chính thống nên yêu cầu Thế Thân viết thích nghĩa cho sáu trăm bài tụng do ông viết ra. Nhân đó, Thế Thân liền viết thích luận mà thành bộ A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá Luận (Abhidharmakosa Sàstra) đọc giản lược là Cu Xá Luận. Bộ luận này hiện vẫn còn bản luận sớ Phạn văn, và một số thứ loại chú sở của Ấn Ðộ được dịch ra Tạng văn. Gần đây tại Trung Quốc có pháp sư Diễn Bồi viết cuốn Cu Xá Luận Tụng Giảng Ký. Ðây là tư liệu có thể tham khảo.

Luận Cu Xá là bộ luận chỉnh lý, thống nhất phê phán và tổ chức lại tư tưởng cực kỳ vụn vặt của Hữu Bộ để thành bộ luận vô cùng xảo diệu. Xin liệt kê những phẩm mục của Luận Cu Xá như sau:

lichsuphatgiaoando-06-04

Phương pháp để dễ ghi nhớ cá phẩm mục trong Luận Cu Xá, xưa nay người ta có một bài kệ tóm gọn như sau:

“Giới nhị căn ngũ thế gian ngũ.

Nghiệp lục tùy tam Hiền thánh tứ.

Trí nhị định nhị phá ngã nhất.

Thị danh (Cu Xá) tam thập quyển”.

- Cu Xá với Bảy Mươi Lăm Pháp.

Luận cu Xá đem tất cả các pháp chia thành pháp hữu vi và pháp vô vi. Phàm cái gì được tạo tác bởi nhân duyên, chịu sự dịch chuyển, sự tác động bởi thời gian, có sự sai biệt về nhiễm tịnh, tức tất cả mọi hiện tượng của thế gian đều thuộc pháp hữu vi. Thoát ly tính chất pháp hữu vi, xa lìa tất cả trạng thái của tác dung, bao hàm cả cái nghĩa ba khoa là”Khôi thân diệt trí” của Niết bàn, đều thuộc pháp vô vi. A Tỳ Ðạt Ma phần nhiều lấy ba khoa làm ngũ uẩn, mười hai nhân duyên và mười tám giới làm chuẩn rồi theo đó phân loại pháp. Luận Cu Xá dựa vào cách phân loại này, nhưng có thêm sự nghiên cứu về sắc pháp, Tâm pháp, tâm sở hữu pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp từ bộ luận Phẩm Loại Túc. Tuy nhiên việc xác định bảy mươi lăm pháp là do sau này ngài Phổ Quang nêu ra trong bộ Cu Xá Luận Ký do ông trước tác. Nhân vì trong Luận Cu Xá vẫn chưa lấy các pháp bất định như ố tác, thùy miên, tầm, tư trong tâm sở hữu pháp làm số lượng. Còn nguồn bảy mươi lăm pháp xuất thân từ luận Cu Xá thì không phải nghi ngờ gì.

Xin liệt kê danh xưng bảy mươi lăm pháp như sau:

lichsuphatgiaoando-06-05

- Quả nhân duyên.

Luận Cu Xá tóm thu tất cả các pháp qui thành bảy mươi lăm pháp. Nhưng bảy mươi lăm pháp này không tồn tại một cách cá biệt và độc lập, mà tồn tại trong mối quan hệ hỗ tương và liên quan với nhau một cách mật thiết, đấy là Nhân duyên luận (xin đọc Tiểu thừa Phật Giáo tư tưởng luận - của Mộc Thôn Thái Hiền, thiên II, chương sáu). Nhân và duyên ràng buộc với nhau thành ra quả. Thông xưng gồm có: sáu nhân, bốn duyên và năm quả, như biểu đồ sau:

lichsuphatgiaoando-06-06

- Pháp Thế Gian.

Pháp nhân quả, gom cả thế gian pháp và xuất thế gian pháp. Nhưng các pháp thế gian và xuất thế gian cũng cần có thêm sự phân loại. Phẩm Thế Gian, Phẩm Nghiệp và Phẩm Tùy Miên của Luận Cu Xá là dùng để phân tích Quả, Nhân, Duyên thuộc mê giới. Mê giới lại được chia thành hữu tình thế gian và khí thế gian. Ðịa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, nhân, thiên thuộc hữu tình thế gian, đứng về mặt không gian mà an lập tầng thứ thì sự lưu chuyển sinh tử của hữu tình được chia làm bốn trạng thái là; sinh hữu, bản hữu, tử hữu và trung hữu. Còn y vào mười hai duyên khởi thì có ba đời với lưỡng trùng nhân quả, đấy là nói về mặt thời gian mà an lập thứ tự. Dục giới, sắc giới và vô sắc giới, ba giới này làm khí thế gian. Lại lấy bốn kiếp là: thành, trụ, hoại, không, chi phối sự tuần hoàn sinh diệt của khí thế gian (đồ chứa đựng gọi là khí), đây là nói thứ tự khí thế gian được an lập về mặt thời gian.

Song nếu không có pháp xuất thế gian thì sự an lập pháp thế gian bất luận đó là hữu tình thế gian, hay khí thế gian, kết cục vẫn cứ mãi quay vòng mà không có điểm dừng lại, thành ra vô thỉ vô chung, vì cứ nối tiếp nhau làm nhân rồi lại làm duyên tương tục không dứt.

Sở dĩ chúng sinh không thoát khỏi được sinh tử, đó là do tạo nghiệp, tạo nghiệp thị thọ quả báo. Do đó, Phẩm Nghiệp của luận này đặc biệt dành để phân tích thuyết nói về Nghiệp. Nghiệp được chia thành “tư nghiệp” và “tư dĩ nghiệp”. Nghiệp thuộc về ý gọi là tư nghiệp, nghiệp thuộc về thân và ngữ gọi là tư dĩ nghiệp. Lại lấy hai nghiệp thân và ngữ, mỗi nghiệp như thế lại chia thành “biểu nghiệp” và “vô lậu nghiệp”. Chúng sinh tạo nghiệp là do “hoặc” (mê mờ) sai sử, do đó Phẩm Tùy Miên của luận này là nhằm khai thông vấn đề “hoặc”. Tùy miên là do hoạt động của nghiệp mà dẫn dến khổ quả, ý vị của tùy miên trong đó có phiền não. Phiền não được phân ra thành căn bản (sáu thứ hoặc mười thứ) và chi mạt (có mười chín thứ). “Hoặc” có “kiến hoặc” - mê về lý, và “tư hoặc” - mê về sự; kiến hoặc là do mê muội không thấu rõ lý Tứ đế, kiến hoặc phối hợp cả trong tam giới mà thành tám mươi sử. “Tư hoặc” là bốn thứ: tham, sân, si, mạn trong căn bản phiền não, cọng cả thảy trong tam giới có mười thứ; trong đó dục giới có bốn, còn sắc giới và vô sắc giới ngoại trừ không có tham, còn thì mỗi giới đều có ba thứ, lại còn có một trăm lẻ tám phiền não, tức tám mươi tám sử thuộc kiến hoặc, mười thứ thuộc “tư hoặc” cộng với mười trên mà thành (108). (Các danh tướng vừa nêu xin đọc thêm Pháp số).

- Xuất thế gian.

Mục đích của việc phân chia pháp thế gian là nhằm tiến đến con đường xuất thế gian của thánh đạo. Phẩm Hiền Thánh, Phẩm Trí, Phẩm Ðịnh của Luận Cu Xá là để thuyết minh: quả, nhân, duyên thuộc thế giới chứng ngộ. Trí ở đây chỉ cho nghĩa quyết đoán, và được chia thành hữu lậu trí và vô lậu trí. Bốn thứ huệ là: sinh đắc huệ, văn huệ, tư huệ và tu hệ thì gọi là hữu lậu trí; hai thứ là pháp trí và loại trí, thì gọi là vô lậu trí. Công năng của trí là đoạn trừ kiến hoặc. Nói về định, cũng chia thành sinh đắc định và tu đắc định, hai định này mỗi định có bốn sắc giới định (tứ thiền) và bốn vô sắc giới định, mỗi định lại phân ra cận phần định và căn bản định. Do công năng của trí và định mà có thể thứ lớp chứng nhập quả vị hiền thánh. Quá trình đoạn hoặc chứng chơn là trải qua nhiều giai đoạn và quả vị vô cùng phồn phức. Xin lược qua như sau:

1. Hiền Vị thất gia (bảy bậc) và chia ra hai loại:

a) Tam hiền - Ngũ đình tâm, biệt tướng niệm trụ, tổng tướng biệt trụ.

b) Bốn thiện căn - Noãn thiện căn, đảnh thiện căn, nhẫn thiện căn (nhẫn thiện căn lại có thể tế phân ra làm: hạ, trung thượng ba phẩm), thế đệ nhất pháp.

2. Hai loại thánh vị, chia thành “tam đạo bát bối” (ba đường tám nhóm):

a) Hữu học vị chia làm Dự Lưu - hướng thuộc kiến đạo, Dự Lưu quả thuộc kiến đạo, Nhất Lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, A la hán hướng.

b) Vô học vị thuộc vô học đạo, tức là quả A la hán. Những quả vị thanh văn này chỉ có khi thế gian có Phật. Khi đời không có Phật xuất hiện, tự mình có thể quán mười hai nhân duyên mà ngộ nhập Thánh quả, thì gọi là Ðộc giác, và tiếng Phạn là Bích Chi Ca Phật (Pratyekabuadha). Kiếp trước và hiện kiếp khi đức Thích Tôn chưa chứng đắc Phật quả, Ngài được xưng là Bồ tát. Trước tiên Bồ tát phải nỗ lực tu lục độ vạn hạnh, trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, lại còn phải trải qua trăm kiếp để gieo trồng “tướng hảo chi nghiệp” (nghiệp thiện để thành tướng hảo), sau rốt mới chứng Ðẳng Chánh Giác (thành Phật). Sau cùng là Phẩm Phá Ngã. Ðây là phẩm xiển minh lý vô ngã của Phật giáo, đồng thời dùng lý nghĩa này để phá bỏ ngoại giáo, và thuyết hữu ngã dị chấp.

(1) Ðại Chánh tạng-49, cuối trang 15.

(2) Một tên gọi khác để chỉ chúng sinh.

(3) Một tên gọi khác để gọi chúng sinh.

(4) Vô học: Ðạo học viên mãn, không phải tu học nữa thì gọi là vô học.

(5) Yết Lạt Lam Ka Lai,còn gọi là Ca La La v.v... dịch là ngưng hoạt, tạp uế v.v... tinh khí của cha mẹ khi mới hòa hợp ngưng kết, là thời kỳ thai nhi từ lúc thọ sinh cho đến 7 ngày sau. Từ Ðiển Phật Học - Hà Nội xuất bản 1994.

(6) Quyển 14 Ðại Chánh tạng-22, cuối trang 340.

(7) Quyển 32 Ðại Chánh tạng-22 cuối trang 501.

(8) Quyển 39, Ðại Chánh tạng-22, trang 536.

(9) Ðại Chánh tạng-24, giữa trang 676.

(10) Xin tham khảo luận thư của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, và sự nghiên cứu của các Luận sư của Bộ này - Pháp sư Ấn Thuận - trang 37.

(11) Ðại Chánh tạng-25, trang 192.

(12) Ðại Chánh tạng-25, giữa trang 192.

(13) Ðại Chánh tạng-25, đầu trang 70.

(14) Vọng Nguyệt Phật Giáo Từ Ðiển - cuối trang 903.

(15) Nước Ca Thấp Di La naylà bang Kamira của Ấn Ðộ, thuộc vùng tây bắc - chú của người dịch.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn