Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tiết 1: Công sự của vua A Dục

05/01/201202:25(Xem: 1902)
Tiết 1: Công sự của vua A Dục

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm

Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG IV

A DỤC VƯƠNG VÀ ĐẠI THIÊN

TIẾT I. CÔNG SỰ CỦA VUA A DỤC

- Sự phân biệt của Phật giáo và vua A Dục.

Phật giáo sau khi trải qua lần kết tập thứ hai, về thái độ đối với giới luật, tuy đã phân thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, nhưng về giáo nghĩa và giáo đoàn vẫn chưa xảy ra hiện tượng đối lập nổi bật. Nhưng đến thời vua A Dục, thì tự việc Luật chế mà phát triển thành tranh chấp, và đều thông qua việc dùng lý nghĩa để luận biện. Kết quả, Đại Chúng Bộ chiếm ưu thế tại trung Ấn Độ, nhờ thái độ tự do tiến bộ.

Theo ghi chép của luận Đại Tỳ Bà Sa (quyển 99) của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ(1), lấy việc vua A Dục yêu sách phải tiến bộ, và cho là vua A Dục kết phe nhóm với “tặc trú Tỳ kheo”, một phái của Đại Thiên, và không chú ý đến ý kiến của những vị Thượng tọa trưởng lão. Vì vậy, mới có chuyện bức áp chư vị Thượng tọa phải đi đến Ca Thấp Di La để cùng với phái tiến bộ của Trung Ấn chia thành cương thổ để giáo hóa. Tuy ở đây chỉ nói về Hữu Bộ Thượng Tọa. Nhưng phải khảo sát sâu hơn, khi thấy địa phương Ma Kiệt Đà thỉ chung vẫn là môi trường thích hợp đối với vấn đề tự do tư tưởng, nên có khả năng phái bảo thủ không được nhiều người hoan nghênh tại Ma Kiệt Đà. Đấy cũng là việc thông thường về mặt tình lý.

- Vương Thống của Ấn Độ.

Vua A Dục, tức vua A Luân Ca (Asoka), ông là vị quân vương thứ ba của vương triều Khổng Tước (Maurya Bynasty). Từ rất sớm Ấn Độ đã là một nước văn minh. Ấn Độ có những niên đại khả tín và có thể khảo cứu được, chẳng hạn như việc mở đầu vương triều Khổng Tước của vua A Dục. Nhân giới thiệu về vua A Dục, trước hết xin giới thiệu về lịch đại vương thống của đất nước Ấn Độ, dù chỉ là cái nhìn lướt qua các sự kiện và diễn biến của lịch sử Ấn Độ.

1. Vương thống Ma Ha Tam Ma Đa:

Đây là vương triều sớm nhất của Ấn Độ, vương triều này được đọc thấy trong chín bộ Kinh, Luật của Phật giáo như: Hữu Bộ Luật, Phá Tăng Sự, Tứ Phần Luật, Phật Bản Hạnh Tập Kinh, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh, Khởi Thế Kinh, Trường A Hàm Kinh, Chương Sở Tri Luận v.v... Duy có điều danh hiệu của các vị vua kế truyền có tính bất nhất, vì không ghi rõ thời gian.

2. Vương Thống Nguyệt Thống (Candravasal):

Xem Tứ Thư trong thần thoại Ấn Độ.

3. Vương Thống Nhật Thống (Suryavansa):

Xem Tứ Thư trong thần thoại Ấn Độ.

4. Vương Thống Tô Tu Na Già (Saisunnàga Dynasty):

Vương triều này liền trước vương triều Khổng Tước, nơi đây là nước Ma Kiệt Đà, cũng được đưa vào “Khải Mông Chánh Sử”, khoảng sáu, bảy trăm năm, hoặc bốn, năm trăm năm trước Công nguyên. Điều đó tìm thấy trong kinh Phật với mười sáu nước lớn đều thuộc về thời đại này, riêng có điều niên đại của mỗi vị vua khó có thể biết hết.

5. Vương triều Khổng Tước (Maurya Danasty):

Khoảng từ thế kỷ thứ tư đến thế kỷ thứ hai trước tây lịch. Đây là thời kỳ Phật giáo đại định.

6. Vương thống Huân - Gia (Sanga Dynasty):

Trước Công nguyên ước khoảng 180 năm đến 80 năm, vào năm đầu của vị vua thứ tư của vương triều này là vua Bồ Sa Đà La, Phật giáo tại trung Ấn Độ bị pháp nạn, nhưng tại bắc và nam Ấn Độ, Phật giáo chuyển sang thời thịnh.

7. Vương thống Ca Nạp Bà (Kanva Dynasty):

Còn có tên là vương thống Khương Ngõa, vương thống Ca Ân Bà, vương triều chỉ tồn tại có bốn mươi năm.

8.Vương thống Án Đạt La (Andhrabhritya Dynasty):

Trước Công nguyên hai mươi bảy năm, cho đến sau Công nguyên hai trăm ba mươi sáu (236) năm.

9. Vương thống Quí Sương (Kusam - Dynasty):

Vào thời này ở nam Ấn Độ thuộc vương triều Án Đạt La. Vương thống Quí Sương là một bộ tộc của tộc Đại Nguyệt Thị. Tộc này có vị vua rất nổi danh về đường lối cai trị nhân hậu, đó là vua Ca Nị Sắc Ca. Những bậc danh đức của Phật giáo như Mã Minh, Long Thọ, Đề Bà, Đạt Ma Đa La, Ha Lê Bạt Ma, Di Lặc v.v... tất cả đều xuất hiện ở thời đại này. Vương triều Quí Sương được kiến lập trước Công nguyên mười năm và kéo dài sự tồn tại đến cuối thế kỷ thứ ba sau công nguyên.

10. Vương thống Cấp Đa (Gupta Dynasty):

Vương triều Cấp Đa hưng khởi từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI tây lịch. Những vị như: Vô Trước, Thế Thân, La Thập, Giới Hiền, Kiên Huệ, Giác Âm v.v... đều thuộc về thời kỳ này. Chùa Na Lan Đà cũng được tạo dựng vào thời kỳ này. Đây là thời đại Phật giáo Mật tông bắt đầu tiến đến hưng thịnh. Ngài Pháp Hiển của Tung Quốc đến Ấn Độ cũng ở thời kỳ này. Đây cũng là giai đoạn xuất hiện những vị như An Huệ, Trần Na, Thanh Biện, Hộ Pháp v.v...

11. Vương thống Giới Nhật (Vardhana Dynasty, dịch âm Hán ngữ là Phạt Đàn Na):

Vương thống này ước vào khoảng đầu thế kỷ thứ VI cho đến hậu bán thế kỷ thứ VIII tây lịch. Thời này có ngài Long Trí làm hưng vương Mật giáo. Ở trung Ấn Độ có ngài Nguyệt Xứng hoằng truyền “Không tông”. Đường Huyền Trang của Tung Quốc tây du Ấn Độ cũng ở thời này, và một lần nữa, ngài Pháp Xứng chấn hưng Nhân Minh học.

12. Vương thống Ba La (Pala Dynasty):

Vương triều Ba La không phải là trực tiếp kế thừa vương triều Giới Nhật, nhưng cũng là vương triều có phần tín ngưỡng Phật giáo. Mật giáo đặc biệt thịnh hành ở thời này.

Các vương thống vừa nêu, phần lớn đều lấy Ma Kiệt Đà làm trung tâm để giới thiệu về vương triều của mình.

Vì rằng các vương thống của Ấn Độ rất ư là phồn tạp, bởi vậy ở đây chỉ nêu lên những nét chính.

Từ sau vương triều Giới Nhật, Ấn Độ qui tụ lại thành lập vương bang, và có nhiều vương triều hưng khởi. Đến thế kỷ XII tây lịch, Hồi giáo xâm nhập Ấn Độ và tiêu diệt các vương triều Ấn Độ. Phật giáo tại Ấn Độ nhân đấy cũng bị Hồi giáo tuyệt diệt. Sự kiện này diễn ra tương đương với thời nam Tống của Tung Quốc - năm Tống Ninh Tông, Phật giáo khởi nguyên tại Ấn Độ, và tồn tại được một nghìn sáu, nghìn bảy trăm năm thì bị diệt vong. Nguyên nhân vì sao? Xin sẽ trình bày ở chương XII của tập sách này.

- Con người của vua A Dục.

Hệ thống các đời trước thuộc vương triều Khổng Tước không được rõ lắm; nhưng chẳng có gì phải ngờ khi nói rằng vương triều này không hoàn toàn là giống người Aryan thuần chủng. Có người cho rằng tổ mẫu của vua A Dục xuất thân từ giai cấp tiện dân. Vua Chiên Đà La Quật Đa (Candrogupa) là tổ phụ của vua A Dục và là người khai sáng vương triều Khổng Tước, đời thứ hai của vương triều là vua Tần Đầu Sa la (Bindusàra), đời thứ ba là vua A Dục, ông lên ngôi vào năm 268 trước công nguyên. Điều này là căn cứ theo ghi chép của Nam truyền, qua các bộ kinh, sử như: luật Thiện Kiến, Đảo Sử, Đại Sử và tuyền thuyết từ Phật giáo Miến Điện. Duy có điều mãi đến nay, niên đại lên nôi của vua A Dục, các học giả vẫn còn nỗ lực khảo đính. Truyền thuyết kể rằng, lúc vừa sinh ra đời vua A Dục vốn có hình dạng rất xấu xí, tính cách thì ngu dốt, kém cỏi nên chẳng mấy khi được vua cha yêu mến, khi trưởng thành cũng là lúc ở địa phương Đức Xoa Thi La (Takkasilà) ở bắc Ấn Độ có xảy ra biến loạn; vua cha là Tần Đầu Sa La liền phái ông đến đó bình loạn. Chủ ý của phụ vương ông là nhân đấy mà tống ông đến chỗ chết, do đó mà trang bị vũ khí cho đoàn quân của ông rất sơ sài. Cứ ngỡ bấy giờ vua A Dục chưa lớn đủ, cũng chẳng có trí dũng gì. Nhưng nào ngờ ông lại hoàn thành nhiệm vụ, và được cử làm tổng đốc tại đấy, kế tiếp ông nhận được sự ủng hộ của triều thần. Đến khi phụ hoàng ông băng hà, ông liền giết chết nhiều anh em ruột thịt, và tự tay nắm chính quyền. Đại khái vì lúc bấy giờ tình hình nội bộ không mấy ổn định; và tình hình đó kéo dài đến bốn năm sau cái chết của vua Tần Đầu Sa La. Đồng thời, lúc này vua A Dục cũng tròn hai mươi lăm tuổi, và ông chính thức cử hành lễ đăng quang. Truyền thuyết kể là vua A Dục có đến một trăm lẻ một người anh em cùng cha khác mẹ. Trong số đó bị ông giết đến chín mươi chín người, chỉ còn mình ông Đế Tu là chưa bị giết. Nhưng theo lời răn dạy dân của vua A Dục được khắc vào bia đá của thời ông đương tại vị, thì không thấy nói gì đến tình hình giữa anh em nhà ông. Như vậy cho thấy truyền thuyết không hẳn là đúng và đáng tin.

Truyền thuyết còn chép là phụ vương ông bị ông bức hiếp mà chết, và khi lên chấp chính ông mới tiến hành cuộc tận diệt những người anh em. Ông còn tạo tội hình địa ngục để xử trí người dân. Đồng thời ông cũng xua quân chính phạt nước Yết Lăng Già (Kalinga) nay là tỉnh A Lý Sa (Orìssa) thuộc Ấn Độ. Tại đây ông tàn sát vô số người, vì thế ông có xú danh là “bạo ác A Dục vương”.

Theo nghiên cứu, thì việc vua A Dục qui y Phật giáo cách đó một năm, tức sau khi chinh phạt nước Yết Lăng Già, ông tận mắt chứng kiến thảm trạng sát hại sinh linh do chính cuộc chinh phạt của ông gây ra, và ông sinh lòng “đại hối”. Nên chỉ lúc hồi triều ông thân cận Tăng Già, qui y và tu trì theo Phật pháp. Ông tự hứa sẽ dùng đường lối cai trị theo lý tưởng Luân Vương. Đó là dùng chánh sách hòa bình để kiến thiết quốc gia, đem lại phồn vinh an lạc cho xã hội. Gần đây nhờ phát hiện được “Đại Ma Nhai Pháp”, chương mười ba là chương được dùng để dạy răn người dân. Trong đó chép rõ việc vua A Dục “y thắng pháp, thị vi tối thắng” (phép trị dân tốt nhất, ấy là nương theo chánh pháp của đức Phật).

- Vua A Dục với Phật giáo

Từ khi vua A Dục qui y Tam Bảo, thì mọi ngôn hành của ông đều có liên quan đến Phật giáo. Nghiên cứu tư liệu viết về vua A Dục, ngoài cuốn “A Dục Vương Thí Dụ” được viết bằng Phạn Văn (Asokavadàna), và cuốn “A Dục Vương Kinh” bản Hán dịch, cùng những truyện tích về ông, gần đây các học giả còn chú trọng đến:

1. “Đại Ma Pháp Sắc”(2) Thất xứ”. Và chia thành giáp thiên có mười bốn chương, ất thiên có hai chương.

2. Thạch Trụ Pháp Sắc Lục Xứ, giáp có sáu chương, ất có một chương, bính có hai chương.

3. Tiểu Thạch Trụ Pháp Sắc Tứ Xứ, có bốn thứ.

4. Tiểu Ma Nhai Pháp Sắc, giáp có bảy xứ ba thứ, ất có một xứ một thứ, bính có một xứ một thứ.

5. Thạch bản.

Từ sau năm 1356 (tây lịch), những cổ vật lần lượt được phát hiện, đến năm 1837 trở lui, được ông J. Prinsep liên tục phát hiện, căn cứ ngữ nguyên học và sự hiệp sức của các học giả Phạn ngữ để dịch tất cả sang Anh văn. Căn cứ Đại Ma Nhai Pháp Sắc, từ chương một đến chương bốn, chương mười một, và Thạch Trụ Pháp Sắc chương thứ năm, chương thứ bảy chép rằng. Sau khi lên ngôi, vua A Dục đã từng có hai mươi lăm lần đặc xá tù nhân, mỗi năm mở Vô Giá hội thí một lần. Ngoài các việc trên, vua A Dục còn cấm sát sinh, khuyến khích hạnh bố thí, trồng cây xanh, đào giếng, tu sửa đường xá, tạo Phật tự, kiến lập tháp Phật. Những việc như vậy được thực hiện trên khắp cả nước. Vua A Dục cho thiết lập “Chánh pháp Đại Quan” (Dharma - Màhamtras), có nhiệm vụ đi đến các địa phương để tuyên dương chánh pháp, rộng thi hành chánh sách nhân trị, thương yêu và giúp đỡ người dân, không phân biệt thân sơ, giàu nghèo. Vua A Dục cũng tự thân hành thăm viếng và đảnh lễ các Phật tích, tại mỗi Phật tích, ông đều cho dựng trụ đá, trên mỗi trụ đá đều có khắc ghi lại sự tích để kỷ niệm. Những trụ đá này hiện vẫn còn, tuy có bộ phận nào đó bị hư hoại. Hiện nay chính phủ Ấn Độ coi những trụ đá này là trân bảo của nền văn vật cổ của quốc gia, và cho qui tập về viện bảo tàng để lưu giữ. Vua A Dục rất yêu thương và bảo vệ động vật do đời trước lưu lại, nhờ đó những động vật này hiện nay tại Ấn Độ vẫn còn.

Lại nữa, theo sắc lệnh thành văn được khắc trên đá chứng thực rằng, vua A Dục đã từng sai phái Chánh Pháp Đại Quan đi đến các nước ngoài để hoằng hóa Phật pháp, điều này được đọc thấy trong sắc lệnh đề cập đến năm vương quốc Hy Lạp, đó là: Tự Lợi Á, Ai Cập, Mã Kỳ Đốn, Khắc Lai Nại, Ái Tỳ Lao Tư. Đây là các khu vực mà sau này Gia Tô giáo và Hồi giáo phát triển rất mạnh. Phật giáo bị ảnh hưởng hai tôn giáo này như thế nào, có thể suy nghiệm được. Về phía đông, vua A Dục cũng phái Chánh Pháp Đại Quan đến tận Giản Bộ Trai để hoằng pháp. Việc rộng truyền bá Phật giáo của vua A Dục chủ yếu là đem giáo nghĩa của đức Phật tuyên dương một cách hòa bình, nhằm thăng tiến tính thân thiện quốc tế.

Việc làm trên của vua A Dục được các nhà sử học sau này đem sánh với việc vua Constatinhe của La Mã ủng hộ Cơ Đốc giáo, và cho là tương tự. So sánh như thế có phần nào đúng, nhưng hoàn toàn bất xứng. Bởi việc vua Constatine ủng hộ Thiên chúa giáo vừa là một thủ đoạn chính trị, vua không dung nạp các tôn giáo khác. Trong khi sắc lệnh của vua A Dục được khắc nơi bia đá có ghi rõ cho dân biết là “không được bài xích và chê cười tín ngưỡng của người khác”. Thời vua A Dục, Ấn Độ có bộ “Ma na Pháp Điển” rất nổi tiếng được thành lập. Theo đó, thì sự độ lượng, bao dung được coi là đương nhiên phải có của tôn giáo. Việc hoằng dương Phật pháp của vua A Dục chỉ thuần bày tỏ lòng kính tin những điều Phật dạy, thực hiện việc phụng hành chánh pháp bằng cách yêu thương mọi người và các loài động vật.

Dưới thời vua A Dục, bản đồ nước Ấn Độ là rất lớn, có thể nói trên thế giới không nước nào lớn bằng. Biên giới ở đông bộ Ấn Độ giáp với Mãnh Gia Lạp Ô, bắc Ấn Độ bao gồm cả hai tiểu vương quốc là Ni Bạc Nhĩ và Khách Thập Mễ Nhĩ, cương giới ở nam bộ Ấn Độ kéo dài đến sông Ba Na (Panna River), nay là sông Cát Tư Đặc na, thuộc phía nam tỉnh Hải Đức Lạp Ba, tây Ấn Độ giáp với A Lạp Bá, tây bắc Ấn Độ đến tận Để Đạt, nay là một bộ phận thuộc nội cảnh của Afghanistan.

Theo luật Thiện Kiến quyển hai(3), thì vua A Dục lên ngôi được mười bảy năm. Ông thỉnh ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Ta làm Thượng tọa, và nhờ ngài đứng ra triệu tập một nghìn vị trưởng lão vân tập về tại thành Hoa Thị. Chính nhờ sự kiện này mới diễn ra cuộc kết tập lần thứ ba, và kéo dài đến chín tháng. Nhưng theo thuyết của “Luận Sự” (Katthàvatthu) thuộc tạng Ba Lị của Nam truyền thì nói đấy là thành quả cụ thể của cuộc kết tập tại thành Hoa Thị.

Sau cuộc kết tập, vua A Dục phái nhiều đoàn truyên giáo nối tiếp nhau chia ra để đến nhiều địa phương hoằng truyền Phật pháp, luật Thiên Kiến quyển hai(4), có liệt kê danh tánh của các vị lãnh đạo các đoàn truyền giáo, cũng như tên các địa phương mà đoàn đi đến.

1. Ngài Mạt Xiển Đề (Mejjhàntika) được phái đến Kế Tân, và Kiền Đà La Tra (Ikasmìra Gandhara)¸, nay thuộc các địa phương ở Khách Thập Mễ Nhĩ ở bắc Ấn Độ.

2. Ngài Ma Ha Đề Bà (Mahàdeva - tức ngài Đại Thiên) được phái đến Ma Ê Bà Mạt Đà La (Mahisaka Mandala), nay là các địa phương thuộc Mai Sách Nhĩ ở vùng nam Ấn Độ.

3. Ngài Lặc Khí Đa (Rakkhita) được phái đến Bà Na Bà Tư (Vanavàsi), tên vùng đất này hiện nay không rõ ở đâu, hoặc có thể là ở nam Ấn Độ.

4. Ngài Đàm Vô Đức (Yonaka - Dhammarakkhita), được phái đến A Ba Kan Đa Ca(Apurantaka), nay là vùng đất phía bắc Tô Khố Nhĩ ở tây Ấn Độ.

5. Ngài Ma Ha Đàm Vô Đức (Mahadhammarkkhita) được phái đến nước Ma Ha Lặc Tra (Mahàrattha) nay là địa khu Mãnh Mãi ở nam Ấn Độ.

6. Ngài Ma Ha Lặc Khí Đa (Mahàrakkta) được phái đến Du Na Thế Giới (Yonakaloka), nay là địa vực thuộc phía tây A Phú Hãn (Afghanistan).

7. Ngài Mat Thị Ma (Majjhima), ngài Ca Diếp Ba (Kasyapa - còn có tên là Ca Diếp Suy), được phái đến vùng biên của núi Tuyết Sơn (Himavantapadesa) nay là dọc theo dải Nepali - Ni Bạc Nhĩ.

8. Ngài Tu na Ca (Sonaka) ngài Uất Đa La (Utttra) được phái đến nước Kim Địa (Suvanabhùmi), nay là nước Miến Điện.

9. Ngài Ma Sẫn Đà cùng nhiều vị khác được phái đến nước Sư Tử (Tambapannidìpa) nay là nước Tích Lan Sri-Lanka.

Như những gì vừa nêu cho thấy dưới thời vua A Dục, Phật Giáo đã trở thành tôn giáo mang tính quốc tế. Vua A Dục chủ tâm dùng giới luật của đức Phật để giáo hóa khắp vùng châu Á, châu Phi, và giáp biên giới châu Âu. Đây được coi như vua Dục đảm nhiệm sứ mệnh mang lại hòa bình thế giới. Thậm chí có người dựa vào “Lịch Đại Tam Bảo Ký”(5) cho rằng dưới thời Tần Thỉ Hoàng có Sa môn Thích Lợi Phồng cả thảy mười tám người từ Tây Vực đến được Trung Quốc. Tuy truyền thuyết trên không đủ chứng cứ, nhưng thời đại vua A Dục tương đương với thời Tần Thỉ Hoàng, cũng có khả năng đây là một nhánh truyền giáo do vua A Dục phái đi và bị đi lạc vào Trung Quốc(6) cũng nên.

Đối với việc rộng truyền bá Phật Giáo, thì công đức của vua A Dục là cực kỳ to lớn, đối với lịch sử Ấn Độ, thì sự cống hiến của vua A Dục là vô cùng vĩ đại. Do đó, ông được người đời xưng tụng với mỹ danh là “Chánh pháp A Dục Vương” (Dharma Asoka). Điều đáng tiếc là những ngôi tự viện do ông kiến lập hiện nay không tìm thấy. Những Phật tháp được kiến tạo dưới thời vua A Dục, khi ngài Huyền Trang đến Ấn Độ - thế kỷ thứ VII tây lịch - ông trông thấy được là không dưới năm trăm tháp. Nhưng hiện tại chỉ mới phát hiện được có hai nơi; một là nhóm tháp Tang Khư (Sãnchi), và hai là tháp Bà Nhĩ Hô Đặc (Bharhut). Còn thạch trụ và thạch tràng do vua A Dục kiến lập khi Huyền Trang đến Ấn Độ, ông ghi nhận là có mười sáu nơi, nhưng hiện chỉ còn có chín.

- Hai vua A Dục.

Theo sự truyền thừa của Nam truyền thì sau Phật diệt độ khoảng trăm năm, tại thành Tỳ Xá Ly diễn ra cuộc Thất Bách kết tập vào thời vua Ca La A Dục (Kàtasoka), và từ cuộc kết tập này mới đưa đến việc phân chia Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Còn lần kết tập thứ ba diễn ra sau Phật Niết bàn khoảng hai trăm hai mươi năm dưới thời Chánh Pháp A Dục Vương. Nguyên do của lần kết tập này là để giải quyết cuộc khởi tranh của hàng tặc trú Tỳ kheo. Cũng từ sau cuộc kết tập này dẫn đến việc Đại Chúng Bộ lại chia ra thành sáu bộ, như Đông Sớn Bộ v.v...

Nhưng theo sự ghi chép của Bắc truyền, thì lần Thất Bách kết tập xảy ra sau Phật nhập diệt ước khoảng trăm năm, nhưng vị quốc vương ủng hộ lần kết tập này là ai không rõ. Sau Phật diệt độ một trăm mười sáu năm(7)). Vua A Dục thống lãnh vùng đất Diêm Phù Lợi, nhân việc khởi tranh luận của Đại Thiên về “Ngũ Sự”, từ đó mới đi đến phân chia thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Và cũng dưới thời vua A Dục; sau Phật diệt độ hai trăm năm, nhân việc tranh cãi về “Ngũ Sự” của Đại Thiên mà Đại Chúng Bộ chia thành ba bộ, như Bộ Đông Sơn v.v.. Do sự kiện trên mà Nam truyền nói là có hai vua A Dục, trong khi Bắc truyền chỉ có một vua A Dục. Niên đại vua Ca La A Dục của Bắc truyền được nói đến trong “Thập Bát Bộ Luận”. Vua A Dục thứ hai của Nam truyền là nhân vật trung tâm của lần kết tập thứ ba. Lần kết tập thứ ba cũng xuất phát từ sự ghi chép của Nam truyền, thì vua A Dục này là nhân vật trung tâm, so ra vua A Dục này của Nam truyền sau vua A Dục của Bắc truyền cả trăm năm.”Đại Tỳ Bà Sa Luận” quyển 99(8), cũng nói rất rõ: vào thời quốc vương A Luân Ca (tức vua A Dục), do vua nghe theo Đại Thiên (Mahàdeva) nên muốn sát hại các Thánh tăng của Thượng Tọa Bộ, do đó các Thánh tăng mới đến ngụ tại nước Ca Thấp Di La. “Đại Đường Tây Vực Ký” quyển ba(9) của Huyền Trang cũng ghi tương tự về vấn đề trên. Cả hai thuyết vừa nói đều cho rằng sự việc trên xảy ra sau Phật nhập diệt một trăm năm. Do đó, sự thật về sự kiện trên, đứng về mặt lịch sử Phật Giáo quả là vấn đề rất khó thanh lý.

Cũng từ vấn đề trên nếu gia tâm khảo sát tường tận, thì thật sự dưới thời vua A Dục có xảy ra cuộc tranh luận về “Ngũ Sự”, nhưng không hẳn vua A Dục nghiêng về Đại Thiên - một phái có tư tưởng tiến bộ. Theo ghi chép của luật Thiện Kiến(10), thì bấy giờ vua A Dục thỉnh mời ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu làm Thượng tọa đứng ra tuyển chọn nghìn vị Tỳ kheo có đủ tư cách nhất tham gia bình nghị xem trong cuộc tranh luận nay ai đúng ai sai. Ngài Đế Tu được đón từ trung tâm núi A Kiệt hà, ông thuộc đông hệ Ba Lị - nhân vật phân chi của Thượng Tọa Bộ. Ông đứng trên lập trường Thượng Tọa Bộ, nhưng lại đồng tình với tư tưởng cực đoan của Thượng Tọa Bộ. Đấy chính là cái đích được nhắm tới của cuộc bình nghị này. Đối với tư tưởng của Đại Chúng Bộ, ông có phần chấp nhận, tất nhiên đấy là sự thật. Lần kết tập này kéo dài đến chín tháng, thiết nghĩ về mặt giáo nghĩa cần nên có các cuộc thảo luận về những dư thiếu. Nhưng về niên đại của lần kết tập này không được tỏ rõ, nhưng thuyết của Nam truyền ghi chép là diễn ra khoảng hai trăm hai mươi năm sau Phật diệt độ. Nhưng do đâu có sự ghi chép như vậy? Theo Bắc truyền là do sau Phật diệt độ hai trăm năm, trong Tăng đoàn có xảy ra cuộc tranh luận “Ngũ Sự”.

Còn như việc Nam truyền chia vua A Dục thành hai, một là vua Ca La A Dục, nghĩa là “Hắc A Dục vương” chữ “Hắc” được dùng trong Phật Giáo là chỉ cho “ác tác” (làm điều xấu, nghĩ suy xấu), giống như nói hắc nghiệp và bạch nghiệp. Do đó, Nam truyền dùng Ca La A Dục vương, ngụ ý nói một ông vua A Dục bạo ác khi ông chưa qui y Tam Bảo (điều này trong “A Dục Vương Kinh” của Bắc truyền gọi là Chiên Đà A Dục Vương), đấy là nói một ông vua A Dục đại biểu cho tính thực tiễn sau khi ông đã qui hóa thành chánh pháp A Dục Vương. Nếu thuyết này khả tín, thì đúng là vì cách nhau cả trăm năm nên có sự nhầm lẫn giữa hai vua A Dục. Xét thấy cần nêu vấn đề này ra ở đây để tiện khảo chứng.

Cách kiến giải trên là của Địch Nguyên Văn Lai Thị, người Nhật Bản, và pháp sư Ấn Thuận của Trung Quốc có đọc đến, nhưng vấn đề có khả tín hay không cần có thêm sự nghiên cứu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn