Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

14. Ý Nghĩa Của Việc Ăn Chay Trong Phật Giáo

29/12/201112:00(Xem: 1176)
14. Ý Nghĩa Của Việc Ăn Chay Trong Phật Giáo
PHẬT GIÁO
TRONG THẾ GIỚI TÂN TIẾN NGÀY NAY
Hoang Phong biên soạn và chuyển ngữ
(ấn bản thứ hai)

Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĂN CHAY TRONG PHẬT GIÁO
Hoang Phong

anchaytrongphatgiao-01Đã có rất nhiềusách vở, bài viết đề cập đến về vấn đề ăn chay. Mở lại chủ đề này có vẻ như đẩymột cánh cửa đã mở rộng, vì vậy bài viết ngắn này chỉ ước mong được đóng gópthêm vài ý kiến về ý nghĩa của việc ăn chay, giới hạn trong một vài quan điểmPhật giáo mà thôi.

Ăn chay thực sự không phải là một điểm đặc thùcủa đạo Phật vì nhiều tôn giáo khác cũng chủ trương ăn chay, thí dụ như trườnghợp đạo Ja-in của Ấn độ. Nhiều người không theo Phật giáo hoặc bất cứ một tôngiáo nào cả nhưng họ vẫn ăn chay rất nghiêm túc, trong số này có nhiều ngườiTây phương. Trái lại một số người Phật giáo thì lại ăn thịt cá. Như vậy ý nghĩathực sự của việc ăn chay theo tinh thần Phật giáo là gì?

Phần thứ nhất của bài sẽ điểm quavấn đề ăn chay dưới khía cạnh hiểu biết khoa học. Phần thứ hai nêu lên vài quanđiểm đại cương về việc ăn chay theo kinh sách Phật giáo và các học phái Phậtgiáo khác nhau. Phần thứ ba sẽ lạm bàn về vấn đề ăn chay một cách cởi mở hơn.

1. Ăn chay dướikhía cạnh khoa học

Con người là một sinh vật ăn chayhay ăn thịt? Khoa học cho biết một cách minh bạch rằng từ nguyên thủy con ngườilà một sinh vật ăn hoa quả, rễ, lá, củ và thân thực vật. Bộ răng của con ngườikhông phải là răng dùng để ăn thịt, nghĩa là không có nanh nhọn và dài. So vớikích thước của thân thể thì bộ ruột của con người quá dài, trung bình 18m. Đólà đặc tính của loài sinh vật ăn cỏ, vì ruột dài giúp hấp thụ các chất dinhdưỡng thấp trong thực vật hiệu quả hơn.

Tổ tiên loài người sống trên cây,sau đó thích ứng với đời sống dưới đất, và từ đó bắt đầu ăn thêm côn trùng bắtđược dưới những tảng đá, trong cỏ hay hốc cây… Khoa học gọi lối ăn này là lốiăn tạp, có nghĩa là ăn bất kể thứ gì. Thích ứng với đời sống dưới đất thì phảicanh chừng thú dữ chung quanh, vì thế mà tổ tiên con người phải tập đứng nhóntrên hai chân để nhìn thấy xa hơn, và nếu muốn thoát thân thì phải chạy bằnghai chân, vì chạy bằng hai chân sẽ nhanh hơn bốn chân. Đó là một vài trong sốrất nhiều lý do khác thúc đẩy sự tiến hoá của giống người.

Khi tổ tiên con người dần dần biếtđứng trên hai chân thì vị trí của đầu đối với xương sống cũng thay đổi, giúpcho sọ phát triển dễ dàng hơn về phía sau, tạo cho con người có bộ óc lớn hơn.Nhờ vào bộ óc phát triển lớn và hai tay được tự do nên con người biết sáng chếra dụng cụ như đá đẽo, cung tên…dùng vào việc săn bắt những con thú lớn và khônlanh hơn những loại côn trùng hay sinh vật nhỏ bé nấp dưới các tảng đá hay hốccây. Từ đó lối ăn tạp cũng biến đổi đi và con người bắt đầu ăn thịt nhiều hơn.

Theo dòng tiến hoá, con người biếttạo ra những dụng cụ ngày càng tinh xảo, giết được các con thú to lớn và hungdữ. Trong số những dụng cụ tinh xảo đó phải kể đến súng đạn và bom hạt nhânngày nay. Tiếc thay những khí cụ nguy hiểm này không còn dùng để săn bắn nữa,vì thú vật ngày càng trở nên quá ngây ngô và khờ khạo so với con người. Nhữngvũ khí ấy lại được con người mang ra dùng để giết hại lẫn nhau với mục đíchtranh giành và bảo vệ miếng ăn, mặc dù các nước hùng mạnh sản xuất được các khígiới ấy cũng đã có dư thừa thực phẩm.

Cũng nhờ vào bộ óc mà con người sángchế ra ngôn ngữ. Ngôn ngữ gồm nhiều loại khác nhau và ngày càng trở nên phứctạp hơn. Con người biết suy nghĩ về những vấn đề rắcrối và trừu tượng hơn, biết dùng những hình ảnh và biểu tượng để diễn đạt suytư của mình để rồi sáng tạo ra văn chương, thi phú, và cả…triết học. Con ngườibiết tìm ra mọi thứ thức ăn và ăn không chừa một thứ gì, lại còn sáng chế rathật nhiều món ăn thật cầu kỳ bằng da thịt của những sinh vật đủ loại.

Tuy nhiên thì những công trìnhnghiên cứu khoa học và thống kê y khoa, một sản phẩm khác của con người, đồngthời lại khẳng định là những người ăn chay có sức khoẻ tốt hơn, ít bịnh tậthơn, nhất là các bịnh về tim mạch và ung thư, và họ sống lâu hơn những người ănthịt. Nhờ vào những hiểu biết khoa học, rất nhiều người Tây phương cũng đã ănchay để tránh bớt ô nhiễm cho thân xác và hạn chế bớt sự tàn phá môi sinh, bớtđưa vào cơ thể những độc tố và lượng dinh dưỡng quá cao từ thịt và mỡ thú vật.Những bài viết về ăn chay theo chiều hướng này rất nhiều, lại được kèm thêmnhững chứng minh bằng thống kê, bằng những giải thích về y khoa, phân tích vềsinh hoá, sinh lý học v.v…

2. Ăn chay theoKinh sách nhà Phật và các Học phái Phật giáo

Tại sao phần lớn những người Phậtgiáo lại ăn chay? Đức Phật có bảo thẳng ta phải ăn chay hay không? Những lờikhuyên dạy đó được ghi chép trong kinh sách nào? Những kinh sách đó có đíchthực hay không? Và thắc mắc cuối cùng mà một vài bài viết đã nêu lên là ĐứcPhật có… ăn chay hay không? Bất cứ mộtquan điểm khẳng định nào cũng đều có thể đưa đến những cuộc tranh luận bất tận,do đó phần trình bày dưới đây không có chủ đích trả lời trực tiếp các câu hỏitrên mà chỉ nêu lên và khai triển một vài khía cạnh của vấn đề mà thôi. Ngườiđọc sẽ tự tìm lấy những câu giải đáp thích nghi cho mình, dù rằng câu giải đápđó theo chiều hướng này hay chiều hướng khác.

Thật sự ra thì việc ăn chay do đạoJa-in chủ trương đã có từ thế kỷ thứ VI trước Tây lịch tức là trước hoặc cùngmột thời kỳ với Đức Phật. Ngoài ra khi Phật giáo Bắc tông được tái lập và bànhtrướng vững chắc vào thế kỷ thứ II sau Tây lịch và chủ trương một cách khẳngđịnh việc ăn chay thì tập tục này cũng đã được phổ biến rộng rãi trong dân gianrất lâu trước đó ngay từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch, bằng cớ là hoàng đếA-Dục (Asoka, 304-232 trước TL) cũng đã ăn chay, cấm giết hại thú vật và khuyêndân chúng nên ăn chay.

Kinh sách nhà Phật thật phong phú,nhưng vấn đề khuyến cáo trực tiếp và chi tiết về việc ăn chay thì không hề thấyđề cập đến nhiều, có thể vì việc này là một điều quá đương nhiên đối với ngườitu Phật hay chăng? Kinh sách chỉ thường xuyên nhắc đến việc cấm sát sinh. Tuynhiên nếu nhìn trên một bình diện khác, ta cũng không nên chờ đợi và căn cứ mộtcách đơn giản và duy nhất vào kinh sách để chọn một cách xử thế thích hợp chota và môi sinh chung quanh ta. Ta không thể và cũng không nên tự ghép mình theokinh sách một cách từ chương. Kinh bảo thế nào thì làm thế ấy, còn nếu không bảothì tự do làm gì thì làm. Chúng ta cũng đã thấy cái tai hại của một vài truyềnthống mà các tín đồ tự buộc chặt vào những giáo điều bất di dịch.

Theo thống kê thì có tất cả là 58000 bộ kinh ghi chép những lời giảng huấn của Đức Phật. Con số khá lớn, dù choĐức Phật đã thuyết giảng trong bốn mươi lăm năm liền đi nữa. Đó là chưa kể đếnsố kinh sách bị mất mát, chẳng hạn như hàng triệu quyển kinh đã bị người Hồigiáo đốt sạch, thí dụ như trường hợp của thư viện Phật giáo tại Vườn Lộc Uyển(Sarnath) mà ngày nay chỉ còn sót lại một nền gạch mà thôi.

Có tất cả ba lần kết tập kinh điểnchính, lần thứ nhất xảy ra tại thành Vương Xá (Rajagrha) một năm sau khi ĐứcPhật tịch diệt. Lần thứ hai được tổ chức tại Vệ-xá-li (Vesali), 110 năm sau khiĐức Phật tịch diệt. Trong lần kết tập thứ hai đã thấy có nhiều bất đồngchính kiến giữa các tăng đoàn, nói chungthì có hai hệ phái khác nhau đã được nêu lên trong dịp này. Lần kết tập thứ balại còn rắc rối hơn nữa. Theo kinh điển tiếng Pa-li (Nam tông) thì lần kết tậpnày diễn ra tại Hoa-thị-thành (Pataliputra) vào năm 137 sau khi Đức Phật tịchdiệt. Theo kinh sách Bắc tông thì lần kết tập thứ ba được tổ chức chậm hơn, tứclà vào năm 160 sau khi Đức Phật tịch diệt, và theo các tài liệu này thì địađiểm kết tập cũng không phải ở Vệ-sá-li mà ở Ja-lan-đa-ra (Jalandhara, thuộcvùng Cachemire ngày nay). Trong lần kết tập thứ ba, đã thấy xuất hiện 18 hệphái và có bốn ngôn ngữ khác nhau được sử dụng để ghi nhớ những lời giảng huấncủa Đức Phật. Vì tính cách phức tạp và phong phú của kinh sách và giáo lý chonên trong lần kết tập thứ ba này có thể Tam tạng kinh gồm Kinh Luật, Kinh Tạngvà Kinh Luận đã được ghi chép bằng chữ viết (?), tuy nhiên không có dấu tích gìhay bằng chứng cụ thể nào lưu lại. Theo các học giả Tây phương thì các kinhđiển Nam Tông ghi chép bằng chữ viết chỉ bắt dầu xuất hiện từ thế kỷ thứ Itrước Tây lịch cho đến giữa thế kỷ thứ I sau Tây lịch; kinh sách Bắc tông thìcũng được ghi chép vào giữa thế kỷ thứ I trước Tây lịch và tiếp tục kéo dài chođến thế kỷ thứ VI đối với một số kinh sách xuất hiện muộn. Nói như thế để hiểurằng trên phương diện kinh sách ghi chép bằng chữ viết thì không thể khẳng địnhgiữa kinh sách Nam tông và Bắc tông thì kinh sách nào lâu đời hơn hay đích thựchơn. Trước đó, người xuất gia cũng như người cư sĩ tất cả đều phải học thuộclòng kinh điển để truyền khẩu cho nhau, hết thế hệ này sang thế hệ khác, hàngtrăm năm trước khi được ghi chép hẳn hoi trên lá bối. Lý do chính yếu là vàothời kỳ bấy giờ, những lời truyền khầu được xem như mang tính cách sinh động,thiêng liêng và tôn kính, hơn hẳn những gì khô khan ghi chép bằng chữ viết. Dođó việc truyền khẩu cũng là một hình thức tu tập, vì người xuất gia trước hếtphải học thuộc lòng kinh điển và người thế tục ít ra thì cũng phải trực tiếpnghe giảng và ghi nhớ.

Phương tiện truyền khẩu và sự xuấthiện muộn của kinh sách gián tiếp nhắc nhở chúng ta phải thận trọng và không nên căn cứ một cách từ chương và quácâu nệ vào kinh điển. Phật giáo Nam tông cho rằng không có giới luật nào trongPhật giáo ngăn cấm tín đồ không được ăn thịt. Trong số các kinh sách này thì cótập Trung bộ kinh(Majjhima-Nikaya), một trong năm tậpthuộc Kinh Tạng trong Tam tạng kinh, có kể câu chuyện về Đề-bà-đạt-đa(Devadatta), em họ và cũng là đệ tử của Đức Phật tự đứng ra chủ trương lối tukhổ hạnh. Người này xin Đức Phật ban giới cấm bắt buộc hàng tỳ kheo tuyệt đốikhông được ăn thịt, Đức Phật không chấp thuận và dạy rằng : « Ăn thịt có thể coi như trong sạch trong batrường hợp, người ăn không thấy, không nghe, không có lòng hoài nghi con vật bịgiết riêng cho mình». Tiểu sử về Đề-bà-đạt-đa do kinh sách ghi chép lạicũng khá rắc rối, đấy là một người có vẻ khá cực đoan và đã nhiều lần muốn ámhại Đức Phật.

Như vậy thì ta phải hiểu thế nào vềnhững luận cứ vừa kể trên đây? Ta biết rằng Đức Phật dạy ta phải giữ giới, vàđiều thứ nhất trong giới luật là cấm sát sinh. Khi còn tại thế thì Đức Phậtcũng đã tổ chức cách sinh hoạt của tăng đoàn sao cho phù hợp với Đạo Pháp vàmôi sinh, chẳng hạn như việc an cư kiếthạ. Mùa mưa ở Ấn độ là mùa hồi sinh của thiên nhiên và vạn vật, đấy là mùamà cây cỏ, côn trùng và muôn thú đều vươn lên sức sống, sinh sôi và phát triển.An cưđể tránh không vô tình tàn pháthiên nhiên và dẫm đạp lên những sinh vật nhỏ bé dưới chân. Phật dạy phải an cư, chẳng lẽ Phật lại cho phép ănthịt cá khi các đồ đệ của Ngài "khôngthấy, không nghe, không có lòng hoài nghi con vật bị giết cho riêng mình"?

ĐứcPhật thường nhắc đi nhắc lại câu sau đây trong kinh sách : "Các con phải cẩn thận, phải cảnh giác vàcanh chừng tâm thức của các con. Tâm thức luôn luôn tìm cách đánh lừa cáccon...". Tiếp tục ăn miếng thịt, khi không thấy, không nghe, không hoài nghivề nguồn gốc của miếngthịt, tức là cố tình mượn tâm thức của mình để tự đánh lừa mình đấy. Khái niệmvề tương liên, tương tác và tương tạo của Đạo Pháp cho biết rằng mỗi hành động,mỗi tư duy trong tâm thức và mọi hiện tượng chung quanh ta đều liên hệ và tươngtác với nhau một cách chặt chẽ. Sự kiện "không biết, không nghe, không hoài nghi" có thể tháo gỡ đượcquy luật tương liên của vạn vật hay chăng? Nếu như luật nhân quả cũng lỏng lẻonhư thế thì còn có giá trị gì nữa?

Chẳng hạn khi ta ăn thịt heo, tuyrằng ta không thấy, không nghe, khônghoài nghi con vật bị giết cho ta và vì ta,thì mỡ heo vẫn có thể làm nghẽntim mạch của ta, và nếu con heo bị sán lãi thì ta cũng có thể bị sán lãi nhưthường. Nói chung là ta sẽ gánh chịu trực tiếp hậu quả từ việc ăn thịt. Xungnăng thúc đẩy ta muốn ăn thịt, sự thèm khát đó chuyển thành hành động cụ thể đểmang lại nghiệp không tốt cho ta. Nghiệp nguyên nghĩa của nó là "hànhđộng" và "hành động" ăn một miếng thịt bắt buộc phải có một sinhvật đứng ra gánh chịu sự đau đớn và cái chết, sự đau đớn và cái chết ấy lànguyên nhân và động lực mang lại nghiệp không tốt cho ta, nhưng chỉ vì vô tâmmà ta không hề hay biết mà thôi.

Tuy nhiên vấn đề ẩm thực của Phậtgiáo nguyên thủy, nếu giữ đúng theo ý nghĩa và nghi thức được ghi trong kinhsách Nam tông thì thật là tốt : chỉ ăn một lần trước ngọ để giới hạn sự tham ănvà ăn quá nhiều ; khất thực và ăn bất cứ gì để tránh cho tâm thức không vướngmắc và lo âu vì miếng ăn ; ăn nguội lạnh và lẫn lộn mọi thứ thức ăn của ngườithế tục cúng dường trong bình bát để không xem đó là một nguồn thích thú, khôngkích động sự thèm khát, kén chọn hay bám víu. Kinh sách thuật chuyện về mộttrong mười sáu vị La-hán là ngài Tân-đồ-la Bạt-la-nọa-xà (Pindola Bharadvaja)như sau : vị La-hán này đã bốc ăn một cách bình thản ngón tay cái của một ngườimắc bịnh cùi hiến dâng thực phẩm và đã vô tình đánh rớt ngón tay lở loét củamình trong bình bát. Nhưng tiếc thay, ngoại trừ trường hợp của những vùng nôngthôn thuộc các quốc gia Nam tông ra thì việc khất thực không còn thích nghi vớitổ chức xã hội nơi đô thị ngày nay nữa. Hầu hết các chùa chiền ngày nay đều cóbếp núc để phục vụ tăng đoàn, chẳng lẽ các tỳ kheo lại không hề hay biết chuyệnấy để "cố tình" không bao giờ ghé vào bếp để không thấy, không nghe, không biết

Người Phật giáo Bắc tông ăn chaynghiêm túc hơn, nhưng lại ăn quá nhiều, ăn đến hai hoặc ba bữa và có khi ăn rấtcầu kỳ, bắt chước gần như thật các món ăn bằng thịt cá của thế tục : nhìn giốngnhư đúc, kể cả mùi vị cũng giống. Đó cũng có thể là một cách đánh lừa tâm thứcmình, nuôi nấng sự thèm khát và bám víu của mình. Vì thế người tu hành dù làngười xuất gia hay thế tục đều phải thật cảnh giác trong từng hành động củachính mình. Ý nghĩa trong hành động ăn chay quan trọng hơn là thực phẩm dùngvào việc ăn chay. Trong trường hợp mà ta không còn cưỡng lại được trước mộtmiếng thịt hay một miếng cá thì ta cũng nên nghĩ đến thân xác của một sinh vậtphải gánh chịu sự đau đớn và cái chết để mang lại sự thích thú cho ta và nuôidưỡng thân xác tứ đại của ta. Đồng thời khi đang nhai thịt của một sinh vật thìta cũng nên ý thức rằng thân xác của ta cũng vô thường như thế đó.

Đến đây có lẽ người đọc cũng đã tựtìm thấy câu trả lời cho các câu hỏi được nêu lên trước khi khai triển phânđoạn thứ hai này. Tuy nhiên, câu hỏi "Đức Phật có ăn chay hay không?" được nêu lêntrong một số bài viết thường thấy là một câu hỏi rất tế nhị đáng cho chúng taphải suy nghĩ cẩn thận. Hỏi như thế tức là ta muốn so sánh hành vi của ta vớihành vi của Phật, so sánh sự hiểu biết nhị nguyên, công thức và quy ước của tavới sự hiểu biết siêu nhiên, nhất nguyên và vô phân biệt của Phật, so sánh tấmmàn vô minh của ta và Trí Tuệ thức tỉnh của Phật, so sánh tâm thức vướng mắccủa ta với Tâm thức Giác ngộ của Phật. Nêu lên câu hỏi đó tức là ta tự đồng hoáta với Phật, tự so sánh ta và Phật. Vì thế, theo thiển ý, đây là một câu hỏiđặt sai và đã là một câu hỏi đặt sai thì không thể có một câu trả lời đúngđược.

Đức Phật từ bỏ cung điện và mọi thứcao lương mỹ vị để chọn một cuộc sống khổ hạnh và quyết tâm ấy nhất định khôngnhắm vào mục đích tìm kiếm miếng ăn ngon. Tu khổ hạnh thì nhiều khi chỉ đượcphép ăn một hạt mè mỗi ngày. Tuy rằng sau đó thì Đức Phật đã ý thức được lốiluyện tập sai lầm ấy nhưng không phải vì thế mà Ngài quay ra tìm những món caolương mỹ vị. Đức Phật sống còn để ban cho chúng ta Đạo Pháp cũng chỉ đơn giảnnhờ vào một bát cơm do một người tớ gái trong một ngôi làng gần đó hiến dâng.Vì vậy thiển nghĩ ta không nên thắc mắc về việc Đức Phật đã dùng những thựcphẩm gì mà trái lại ta nên tự hỏi rằng ta có đủ sức để hiểu được những lờigiảng huấn của Đức Phật hay không.

Đại-bátniết-bàn kinh(Mahaparinibana-sutta)kể về bữa ăn cuối cùng của Đức Phật và một món ăn không biết rõ là gì : thịtheo hay nấm heo ? Nhiều người Tây phương đã bỏ công nghiên cứu và tìm hiểu ngônngữ thời bấy giờ để sau cùng đã quả quyết cho rằng đấy là một loại nấm gọi lànấm heo. Nấm có tên gọi như thế vì người ta phải nhờ đến khứu giác bén nhạy củaheo để tìm ra loại nấm này, giống như hiện nay người Âu châu vẫn dẫn heo và chóđánh hơi để đi tìm loại nấm gọi là truffe rất quý mà người ta thường gọi là"kim cương đen" vì rất đắt tiền. Có người lại nghiên cứu thẳng về cácloại nấm trong vùng nơi Đức Phật tịch diệt để xem đích thực là loại nấm nào, kểcả việc tìm tòi các món ăn cổ truyền dùng đến nấm. Có người lại dựa vào các thổngữ xưa vùng Bắc Ấn độ để quả quyết đấy là một loại thịt heo khô xay nhỏ (?),có lẽ như loại thịt bông của ta (?)… Kết quả là ngày nay có nhiều bài viết xoayquanh vấn đề vừa kể. Đây là một thí dụ điển hình của sự câu nệ, buộc chặt ta vào kinh điển đã trải qua hàng nhiều trăm nămtruyền khẩu, và cũng là một trường hợp tiêu biểu chứng minh sự vướng mắc rất thô thiểncủa tâm thức tamà thôi. Vướng mắc vào một chữ không rõnghĩa để nghiên cứu, tranh cãi… để rồi chính mình cũng có thể tự buộc vào tâmthức mình một chút hoài nghi vô ích, nếu không muốn nói là nguy hiểm.

Nhằm mục đíchgiải thích thêm quan điểm trên đây, chúng ta có thể nhìn vào một thí dụ nhưsau, mặc dù có thể không hoàn toàn đúngvới những gì trong Đạo Pháp nhưng có tính cách cụ thể và dễ hiểu. Với sự hiểubiết thông thường mang tính cách quy ước, công thức và nhị nguyên của ta thì tagọi đây là một miếng thịt, đây là một cái nấm. Tuy nhiên đối với một người tutập, dù ở cấp bậc thấp đi nữa thì cũng có thể sử dụng cách nhìn như sau : xemhai thứ ấy chỉ là những kết hợp từ những hạt nguyên tử do nhiều cơ duyên tạora. Nếu nhìn trên phương diện kết hợpnguyên tử thì miếng thịt hay cái nấm không khác gì nhau vì những hạt nguyên tửkết hợp để tạo ra hai thứ ấy đều tương tợ như nhau, nghĩa là mỗi nguyên tử gồmcó phần hạt nhân và những electron xoáy lộn trong một khoảng không gian trốngrỗng mà thôi. Tóm lại với tư cách của một người tu tập thì ta phải chọn chomình những loại thực phẩm nào bây giờ? Như đã được trình bày trên đây thì tấtcả các loại thực phẩm đều giống nhau vì đấy chỉ là những thứ "trống rỗnggồm các hạt nguyên tử kết lại với nhau", nếu phải chọn thì người tu tậpchỉ nên chọn nếu có thể được những "cấu hợp nguyên tử" dưới nhữngdạng thể nào không gây ra khổ đau cho các chúng sinh khác và không tạo thêm cơduyên mang lại cho mình những nghiệp tiêu cực mới.

Tóm lại thì việc tu tập không nêndừng lại ở những vướng mắc nhỏ nhặt mà nên nhìn xa hơn, hướng tâm thức cao hơn,nhắm thẳng vào bản chất sâu kín của mọi hiện tượng, khai mở lòng Từ bi, pháthuy Trí tuệ để mang lại sự Giác ngộ và Giải thoát, chứ đừng nghĩ đến miếng ănmột cách quá đáng, đừng thắc mắc là phải ăn cái gì và không nên ăn cái gì.

3. Lạm bàn về ýnghĩa của ăn chay

Phân đoạn này cũng xin được mở đầubằng những câu hỏi. Người đọc có bao giờ ăn chay hay chưa ? Nếu có ăn chay, thìăn chay từ bao giờ, ăn chay tùy hứng, theo định kỳ nhất định hay là ăn chaytrường? Đối với trường hợp những người hoàn toàn không ăn chay bao giờ cả thìchủ đề bản bàn thảo và những gì được trình bày dưới đây sẽ có thể không phải làmột mối quan tâm cho họ. Trái lại, đối với những người có ăn chay thì các câuhỏi sau đây rất quan trọng : Ta ăn chay trong trường hợp nào? Lý do gì đã khiếnta ăn chay?

Có khá nhiều người ăn chay và việc ănchay của họ được thúc đẩy bởi nhiều nguyên nhân và mục đích khác hẳn nhau. Tuynhiên chúng ta có thể tạm phân chia thành ba trường hợp như sau :

- Trường hợp thứ nhất :người ăn chay nhắm vào mục đích bảotồn sức khoẻ, muốn tránh mọi bịnh tật ngặt nghèo. Đó là lối ăn chay đã đượctrình bày trong phần một, có nghĩa là ăn chay dưới khía cạnh khoa học. Y khoavà khoa học đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề ăn chay. Có nhiều người Phật giáolà bác sĩ y khoa, dược sĩ, dinh dưỡng học, sinh lý học… đã từng trình bày vàkhai triển chủ đề này. Các bài viết đó chứng minh sự lợi ích của việc ăn chaytrên lãnh vực sức khoẻ. Nêu lên mục đích của việc ăn chay trong chiều hướng đócũng tốt, nhưng thật ra thì không có gì gọi là Phật giáo cả. Đó chỉ là cáchkhuyến khích việc cố gắng bám víu vào xác thân tứ đại và vô thường của ta bằngcách ăn chay, và trên một khía cạnh khác thì đấy cũng là một cách gián tiếp đểcủng cố thêm ảo giác của cái « ngã ».

Người tu Phật chỉ biết ăn chay màthôi, không chờ đợi gì cả, hậu quả về sức khoẻ là một việc thứ yếu hoặc đươngnhiên, dù sao thì sức khoẻ của ta còn tùy thuộc vào vô số nghiệp và cơ duyênkhác nữa. Người ăn chay trường vẫn có thể bị ung thư hay bị nghẽn tim mạch nhưthường vì trong những trường hợp như thế, tuy rằng đã ăn chay nhưng việc ănchay vẫn không đủ sức hoá giải những nghiệp khác quá mạnh. Ngoài ra cũng cónhiều người miễn cưỡng phải ăn chay vì truyền thống hay vì bị gia đình ép buộc,hoặc chỉ vì rơi vào một hoàn cảnh nào đó chẳng hạn như bệnh tật mà tự bắt buộcphải ăn chay…Bài viết này xin không bàn xa hơn về tất cả những trường hợp nhưvừa kể.

- Trường hợp thứ hai :ngườiăn chay được thúc đẩy bởi một điều gì đó sâu xa hơn. Xin kể ra trường hợp mộtnhà vô địch hạng nặng về nhu đạo của Pháp, đã nhiều lần đạt chức vô địch Âuchâu, vô địch Thế vận hội và vô địch Thế giới. Một lần bị tai nạn xe mô-tô, bắpchân của ông bị rách toạc ra, ông thấy thịt mình đỏ lòm giống như một miếngthịt bít-tết, mùi máu rất tanh, và thế là từ đó ông không ăn thịt bít-tết nướngcòn máu nữa. Một thi dụ tinh tế và sâu xa hơn là trường hợp của thi hào Phápthuộc thế kỷ XIX tên là Alphonse de Lamartine. Ngày còn nhỏ, một lần theo mẹ đingang một lò sát sinh, ông thấy máu chảy lênh láng ra đến tận đường đi, mùi tửkhí và mùi máu hôi tanh không chịu nổi. Khi về đến nhà thì ông xin mẹ được ănchay.

Những câu chuyện vừa kể không cóchút màu sắc Phật giáo nào cả, nhưng ta cũng thấy có một cái gì đó trong tâmthức của những người trong câu chuyện đã thúc đẩy và kích động họ một cách kínđáo. Điều ấy chưa hẳn là từ bi, nhưng có thể là một chút từ tâm nào đó đã hé lộtrong tâm thức họ, mặc dù còn rất mơ hồ. Đó là một thứ xúc cảm phát lộ khi tâmthức tiếp xúc và bị kích động trước cảnh khổ đau của chúng sinh hay đồng loại.Những trường hợp như thế xảy ra rất nhiều, biến dạng tùy theo hoàn cảnh vàtrường hợp. Nếu chú ý thì chúng ta cũngsẽ thấy những cảnh khổ đau ấy một cách dễ dàng trong cuộc sống hằng ngày chungquanh chúng ta, chẳng hạn như khi thấy cảnh thọc huyết heo, cắt cổ gà, thấy tainạn xe cộ, hay một con vật bị cán chết trên đường cái. Đứng trước những cảnhtượng đó thì ta xúc động nhưng khi vừa rời khỏi nơi ấy thì ta lại quên ngay.Chẳng qua hạt mầm của lòng từ tâm trong ta vẫn còn bị che lấp ít nhiều bởi"cái ngã" hay sự ích kỷ chỉbiết có ta mà thôi: con vật bị giết, bị xe cán bẹp hay một người bị thương máume chảy ra đường không phải là ta. Những xúc động tích cực và từ bi vừa hé lộấy rất dễ đi vào quên lãng, nếu chúng ta không đủ sức để nhận biết đấy chính làcác hạt giống thật quý cần phải được chăm sóc và chúng ta có bổn phận phải vunxới giúp cho chúng vươn lên và lớn lên như những gốc cổ thụ, vì những hạt giốngấy là một chút gì đó tượng trưng cho Phật tính trong lòng chúng ta.

Có lẽ cũng không nên luận bàn xa hơntrong trường hợp "ăn chay" do những kích động "mơ hồ" nơimỗi người. Những kích động như thế tuy rằng có thể đưa đến việc ăn chay, nhưnglại không có liên hệ mật thiết gì đến ý nghĩa ăn chay trong Đạo Phật.

- Trường hợp thứba :những người Phật giáo ăn chay và ý thức một cách rõ rệt quyếttâm ăn chay của mình. Đối với những người ấy thì ý nghĩa của hành động ăn chaylà gì? Phần này sẽ được trình bày chi tiết hơn với một số thí dụ cụ thể cho mỗitrường hợp :

Thí dụ thứ nhất: Một số ngườichỉ ăn chay khi nào có nhu cầu mà thôi. Chẳng hạn như khi có con sắp đi thi thìngười ấy cầu khẩn chư Phật một cách hết sức thành tâm và kính cẩn, xin cho conmình thi đậu và nguyện là nếu đứa con thi đậu thì họ sẽ ăn chay ba tháng. Sauđó đứa con thi đậu thật, và người này ăn chay ba tháng. Trong trường hợp nàythì ý nghĩa của việc ăn chay nằm ở chỗ nào? Chẳng những hành động ấy không cómột chút gì gọi là Đạo Pháp mà đúng hơn chỉ là một sự mua bán và mặc cả với chưPhật mà thôi. Người tu Phật phải hiểu rằng đứa nhỏ thi đậu hay thi rớt là donơi trí thông minh và sự cố gắng của nó… tức là những gì liên hệ mật thiết vàtrước hết với nghiệp của chính nó, dù rằng xuyên qua hiện tượng tương liên thìnghiệp của nó cũng ít nhiều liên hệ với nghiệp của chính mình, nhưng đấy chỉ lànhững hậu quả thứ yếu. Hành động quyết tâm ăn chay ba tháng của một người khác,tức là cha mẹ là một việc hoàn toàn không bắt buộc phải liên hệ trực tiếp vớiviệc thi đậu của đứa con.

Câu chuyện nguyện ước trên đây còncó thể xoay chuyển tệ hại hơn. Trong trường hợp đứa nhỏ thi rớt thì người nàylại có thể trách chư Phật đã bất lực và vô tình trước sự cầu khẩn chân thànhcủa họ. Hoặc câu chuyện có thể lại biến chuyển theo một chiều hướng khác nữa.Chẳng hạn đứa nhỏ thi đậu và người nguyện ước bắt đầu ăn chay, nhưng chỉ saumột tháng thì chịu hết nổi, vừa ăn chay vừa đếm từng ngày chờ cho đủ ba thángsẽ mua tất cả những gì mình thèm để ăn cho thoả thích. Vừa đếm từng ngày lạivừa hối tiếc đã ra giá quá cao với chư Phật, và nghĩ rằng con mình dù sao cũnghọc giỏi, phải chi ra giá một tháng ăn chay thì nó cũng dư sức thi đậu! Hoặccảnh huống cũng có thể biến chuyển tệ hại hơn như thế nữa tức là sau khi ănchay được một tháng thì người này không còn chịu đựng được nữa, bèn thắp hươngxin tạ lỗi với chư Phật để ngưng ăn chay, tự nhủ rằng dù sao đứa nhỏ cũng đãthi đậu rồi!

Qua những thí dụ trên đây thì việcăn chay chẳng những không có gì gọi là Phật giáo cả mà lại còn là một cực hình.Chư Phật luôn thương xót chúng sinh và không bao giờ bày ra những thứ cực hìnhnhư thế. Đấy là vô minh đã kích động ta và xúi dục ta tự chọn lấy sự đau khổcho chính mình mà thôi.

Thật sự thì màn vô minh hiển hiện ởmọi thể dạng. Chẳng hạn như dù cho người ăn chay xem lời nguyện của mình là mộtviệc phấn khởi đi nữa thì họ sẽ ăn chay với lòng hân hoan để trả nợ chưPhật và để giữ trọn lời hứa của mình. Sau ba tháng người này thấy nhẹ nhõm vàsung sướng. Cái nhẹ nhõm đó, cái sung sướng đó là do nơi tâm thức tạo ra để lừaphỉnh ta, đó là cái sung sướng phù du, vô nghĩa và sai lầm. Tóm lại và nói mộtcách khác thì tất cả những thứ cảm thọấy, dù đấy là khổ thọhay lạc thọ,thì cũng đều do vô minh tạo racho ta mà thôi, hoàn toàn không có ý nghĩa gì trên phương diện Đạo Phápcả.

Thí dụ thứ 2 : Trường hợp xảy ra đối với hai người ăn chay đúng theo tinh thần Phậtgiáo, tức là ăn chay rất nghiêm túc mỗi tháng hai lần vào ngày rằm và ngày mùngmột. Một người bán cá và một người đi chợ mua cá. Người bán cá ở chợ đang chặtđầu ếch lột da và ném vào một cái thau cạnh bên. Người mua bước đến chọn mộtcon cá lóc. Người bán vẫn tiếp tục chặt đầu ếch và ra giá. Ngã giá xong, ngườibán cân cá và sau đó nắm lấy đầu cá, hai ngón tay luồn vào hai mang cá để giữcon cá cho thật chặt và sau đó lấy một khúc cây đập lên đầu cá nhiều lần thậtmạnh, con cá giẫy giụa, tiếp theo người bán cá vừa cầm dao gọt da và vẩy cá,vừa hàn huyên với người mua. Con cá chưa chết hẳn, khi gọt da, nó lại dẫy dụa,cơ quan xúc giác của cá tập trung vào hai đường dài dọc theo hai bên lườn củathân cá, khi lưỡi dao cắt vào đấy sẽ làm đau đớn lắm. Vì con cá vẫn còn dẫydụa, người bán cá không gọt vẩy được lại phải cầm khúc cây đập thêm vài cái nữavào đầu nó. Gọt vây xong, người bán cá chặt bỏ hai mang cá, chặt đuôi, chặtvây, chặt mõm cá gần tới vị trí của hai mắt, lưỡi cá lòi ra khỏi miệng, sau đóbỏ cá vào một cái bao và đưa cho người mua. Trong khi chờ người mua đếm tiềnthì người bán lại tiếp tục chặt đầu ếch. Trong thau, những con ếch mất đầu vàbị lột da vẫn co giật vì hệ thống thần kinh của ếch không tập trung hết ở nãomà còn phát triển dọc theo tủy xương sống để giúp vào việc điều hợp cử động củatứ chi được hiệu quả hơn.

Ăn chay để phát lộ lòng từ bi, nhưngtrước cảnh những con vật đang bị hành hạ và chịu đau đớn mà cả người mua lẫn kẻbán không hề tỏ lộ một chút xúc cảm nào cả. Chẳng qua cũng chỉ vì những hìnhảnh đó đã trở nên quá quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày khiến họ không cònnhìn thấy những đau đớn mà các sinh vật phải gánh chịu. Vì cuộc sống, nếu bắtbuộc phải bán và phải mua, thì ít ra ta cũng giữ yên lặng để nhìn thấy cái khổđau và chịu đựng của những sinh vật đang bị hành hạ trước mắt ta, đấy là tháiđộ tối thiểu của một người tu Phật. Ăn chay đối với hai người vừa kể trên đâykhông có một ảnh hưởng gì trong thái độ và hành vi của họ. Vô minh đã che lấp tâmthức họ mất rồi. Vô minh trong trường hợp này phát sinh từ thói quen, vô tâm vànhững hiểu biết quy ước không suy xét, từ giáo dục và lối sống trong xã hội màhọ đã hấp thụ từ nhỏ. Để phá vỡ thứ vô minh này ta phải tỉnh thức, quán xét vàphân tích những hiện tượng chung quanh ta. Tóm lại hành vi ăn chay của haingười vừa kể trên đây, tuy rằng có phần nào chân thật, nhưng không có một ýnghĩa gì về Phật giáo, hay ít ra cũng không có một lợi ích gì cho họ cả. Có thểxem đấy như là một thứ cảm thọtrunghoà, tức xả thọhay vô cảm.

Thí dụ thứ 3: Đây là trường hợp những người biết giữ giới, ăn chay trường theotinh thần Phật giáo, chẳng hạn như tăng đoàn nơi chùa chiền và một số cư sĩ tạigia. Ăn chay đối với họ là một việc tự nhiên. Ăn chay trường giúp cho họ khôngsuy nghĩ gì và không thắc mắc gì nữa về sự chọn lựa món ăn, không tìm cách ănngon, không lo nghĩ tìm kiếm nhà hàng nào có món ăn đặc biệt, các món đặc sảnđể thưởng thức… Kinh sách Bắc tông thường đưa ra hình ảnh sau đây : một người Bồ-tát không thể nghĩ đến việc ănthịt một sinh vật, cũng như một người mẹ không thể nào nghĩ đến việc ăn thịtđứa con do chính mình sinh ra. Ý nghĩ ăn thịt thoát ra ngoài tâm thức củahọ, nói một cách khác tâm thức của họ đã được giải thoát khỏi một phần nàođó những vướng mắc trùng trùng điệp điệpcủa thế gian này.

Những người ăn chay trong trường hợpthứ 3 trước hết có mục đích giữ giới, sau đó là vì lòng từ bi. Phải giữ giới vìPhật đã dạy như sau trong Lăng già kinh(Lankavatara-sutra) : "Không đúng khi cho rằng hợp lý và có quyềnăn thịt một con vật không phải do chính ta [là một người tu hành]đứng ra giết nó, hay không phải do chính tasai kẻ khác giết nó (…). Có thể rồi sau này cũng có người (…) dưới ảnh hưởngcủa sự ham thích ăn thịt sẽ dựng lên hàng loạt những luận chứng phức tạp để bàochữa cho hành vi ăn uống của mình (…), ăn thịt dù dưới hình thức nào, bằng cáchthức nào hay bất cứ nơi nào, dứt khoát phải tuyệt đối cấm đoán, không có mộtngoại lệ nào cả (…). Ta không cho phép bất cứ ai ăn thịt, Ta cấm hẳn việc ănthịt, và Ta sẽ còn vĩnh viễn cấm việc ấy (…)". Những lời trên đây củaĐức Phật được trích dịch lại từ một quyển sách của Philip Kapleau, một thiền sưPhật giáo người Mỹ (A buddhist case for vegetarism, Ed. Rider, London, 1983,tr. 29).

Lục tổ Huệ Năng, sau khi thừa kế tổHoằng Nhẫn phải bỏ trốn và sinh sống với những người thợ săn, đã kể chuyện lạinhư sau trong Kinh Pháp Bảo đàn : "Khi nấu ăn, họ [tức những người thợ săn]nấu chung rau cải với thịt trong một nồi. Khi họ mời tôi ăn, tôi nói vớihọ rằng trong đĩa thức ăn tôi chỉ ăn rau mà thôi". Việc cấm sát sinhđược nhắc đi nhắc lại trong nhiều kinh điển Phật giáo chẳng hạn như trong Luật tạng(Vinaya-Nikaya), Tăng nhất bộkinh(Anguttara-Nikaya), Tương ưng bộ kinh(Samyuttara-Nikaya), v.v…Giới luật là một thành phần của Đạo Pháp,Đạo Pháp vô Giới luật sẽ không còn phải là Đạo Pháp. Nếu Phật giáo không chủtrương ăn chay thì Phật giáo có thể sẽ không còn là Phật giáo nữa, và biết đâuPhật giáo cũng không còn tồn tại đến ngày nay.

Sự kiện ăn chay còn có ý nghĩa caohơn là một hành động giữ giới. Phật giáo tập cho chúng ta nhận thức được sự khổđau cùng khắp trong thế giới luân hồi. Ăn chay để làm giảm bớt đi những khổ đauđó cho chúng sinh, tập cho chúng ta trở thành những người " bất bạo động". Người ăn chay theo ýnghĩa của Phật giáo là một người "thậtcan đảm", "bất hợp tác","đứng ra ngoài cuộc" để"không tự trói mình" trongchuỗi dài bất tận của thèm khát và giết chóc. Tuy nhiên chúng ta cũng cần chú ýrằng nếu người ăn chay cố chấp vào việc ăn chay của mình, câu nệ từng li từngtí, "không đụng chén đụng đũa với người ăn thịt", thì đó cũng là mộthình thức của sự bám víu, đi ngượcvới giáo lý nhà Phật.

Xintrở lại một điều đã nêu lên trong phần nhập đề, tức cái cảm giác đẩy một cánhcửa đã mở rộng khi nêu lên chủ đề ăn chay. Hầu hết những gì thường viết haygiảng về vấn đề ăn chay cũng đều giống như một cánh cửa đẩy ra phía bên ngoài,hướng tâm thức ta vào phần thân xác của riêng mình và sự sống của các sinh vậtvật khác, hoặc phóng tâm thức ta xa hơn và rộng hơn vào môi sinh chungquanh : nói chung có nghĩa là ăn chay để giữ giới, bảo vệ cho thân xácđược tinh khiết, thực thi lòng từ bi... Mặc dù cánh cửa đã được mở rộng nhưthế, nhưng thiết nghĩ ta cứ nên bạo dạn tiếp tục đẩy cánh cửa thêm nữa, nhưnghãy đẩy nó vào phía bên trong, mở thẳng nó vào tâm thức của chính mình để thửquán xét sự tương liên của tâm thức và hành động của chính mình về việc ăn chayxem sao?

Thật vậy, ăn chay không phải đơngiản chỉ để giữ giới, không phải để cầu mong cho thân xác được tinh khiết, hoặccũng không phải là để cứu vớt một số chúng sinh khỏi chết… Dù ăn chay trườngnhưng ta cũng không cứu vớt được bao nhiêu sinh linh trước sự tàn phá của vôminh và bản năng tham ăn và thích ăn của con người. Nếu ý nghĩa ăn chay dừng ởmức độ như vừa kể trên đây thì thực sự là ta vẫn còn vướng trong sự trói buộccủa vô minh. Việc ăn chay chắc chắnlà phải có một ý nghĩa cao cả hơn và tích cực hơn như thế nữa.

Ăn chay là một phương thức tu tậphằng ngày của ta, luôn luôn nhắc nhở ta về lòng từ bi. Ăn chay là để cải thiệnchính tâm thức ta, giúp cho tâm thức ta an bình hơn, từ bi hơn, một tâm thứctrong sáng, rộng lớn và bén nhậy trước những khổ đau của chúng sinh. Khi lòngtừ bi được phát huy đến cực độ thì sẽ đưa tâm thức đến Trí tuệ và Trí tuệ tứclà Giác ngộ. Lòng từ bi như thế mới chính thực là Từ bi của Phật giáo. Ăn chaynhư thế mới gọi là ăn chay theo Phật giáo. Đó là một hành động tích cực, cao cả, can trườngbất bạo động. Thức ăn chay là thực phẩmnuôi dưỡng lòng Từ bi, và Từ bi là mảnh đất giúp cho Trí tuệ nẩy mầm và pháttriển. Một vị Bồ-tát tham thiền trong một hang động trên núi cao, chịu lạnh,chịu đói, không phải để cứu vớt một vài con vật trong lò sát sinh, nhưng đểphát lộ và khai triển lòng Từ bi vô biên, trải rộng lòng Từ bi đó ra tám phươngtrời, mười phương Phật, để đến gần với từng sinh vật nhỏ bé trong bốn miềnkhông gian.

Ăn chay phải tích cực và ta phảibiết sử dụng việc ăn chay như một phương pháp tu tập để biến cải tâm thức. Ănchay mà vô cảmhay xả cảmthì chỉ là một việc vô ích màthôi. Từ điểm này chúng ta hãy thử lạm bàn xa hơn nữa, cao hơn nữa, đưa tâmthức vượt lên trên mọi khái niệm nhị nguyên của ăn chay và không ăn chay, vượtlên trên mọi gò bó, bám víu, câu nệ của giới luật, của tích lũy đạo hạnh, củatừ chương trong kinh sách và vượt lên trên tất cả những gì đã được trình bàytrên đây. Chủ đề này khá rộng nên sẽ xin được trình bày trong một phân đoạn mớisau đây.

4. Ăn chay, môi sinh và sự sống

Dù có mở rộng cánh cửa ăn chay hướngvào phía trong để bước thẳng vào tâm thức mình, nhưng nếu ta vẫn còn phân biệtbên trong và bên ngoài, phân biệt tâm thức ta với ngoại cảnh, với môi sinh,phân biệt giữa sự sống của ta và của những sinh linh khác thì như thế tức làcòn cảm nhận và bám víu vào ý tưởng về "sự sống của chính ta". Đểnuôi dưỡng cho sự sống đó ta quyết định "ăn hay không ăn"sựsống của những sinh linh khác và phân biệt như thế tức là một cách bám chặt vàocái ngã. Như vậy thì đâu là vị trí vàsự tương quan của thân xác, tâm thức và sự sống của chính mình đối với sự sốngnói chung của tất cả chúng sinh trong cái thế giới ta bà này?

Một vài tác giả Phật giáo viết bàibênh vực chủ trương ăn thịt cá của mình bằng cách lý luận rằng những người ănchay khi luộc rau cũng đã sát hại vô số sinh linh nhỏ bé trong rau cỏ và trongnước. Nhận xét này rất đúng, vì ta không thể hoàn toàn tránh hết mọi sự hungbạo và ngược đãi đối với tất cả chúng sinh, dù vô tình hay cố ý, dù chủ trươngbất bạo động hay tu khổ hạnh cũng vậy. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, khimà loài người chưa có kính hiển vi thì Đức Phật đã dạy rằng trong một giọt nướccũng có vô lượng chúng sinh. Khi uống một ngụm nước, khi tắm rửa… là ta đã đưasự sống của ta va chạm và làm thiệt hại đến sự sống của những sinh linh khác.Nhưng ta cũng nên hiểu rằng, sự sống của những vi sinh vật ấy còn thô sơ lắm,chưa có những xúc cảm, chẳng hạn như lo sợ hay thương yêu, giống như những sinhlinh có giác cảm tiến hoá hơn.

Như vậy thì chúng sinh và sự sốngthật sự là gì? Kinh sách phân chia thế giới luân hồi thành ba lãnh vực hay cõi,gọi là tam giới(tridhatu) : dục giới, sắc giớivô sắc giới.

Cõi dục giới(kamadhatu) gồmcó sáu loại chúng sinh phân bố theo sáu cấp bậc tiến hoá từ thấp lên cao :địa ngục, quỷ đói (preta), súc sinh,con người, chư thần (asura) và thiênnhân (hay chư thiên, deva). Tuynhiên, riêng trong một cấp bậc con người cũng có thể xảy ra những cảnh địangục, chẳng hạn như bị tù tội, đọa đày, bệnh tật, rơi vào hoàn cảnh đói khổ, bịngược đãi, hà hiếp và nô lệ, hoặc những trường hợp hung dữ, tham lam và nhamhiểm giống như quỷ đói, hoặc đần độn và khờ khạo như hàng thú vật, hoặc nhữngtrường hợp cao cả như chư thần, chư thánh hay thiên nhân. Đặc tính chung củanhững sinh linh có giác cảm như vừa kể trong cõi dục giớimuốn ăn,muốn dâm sợ chết. Đó là những bản năng sâu kín và tiêu biểu nhất của chúngsinh nơi cõi luân hồi, và đó cũng là những động cơ mãnh liệt và khuấy động nhấtbuộc chặt chúng sinh trong chu kỳ bất tận của tái sinh và hiện hữu. Những bảnnăng đó là nguồn gốc của vô minh nguyênthủy.Ăn chay là một phương pháp góp phần để hoá giải bản năng muốn ănsự bám víu mù quáng vào sự sinh tồn của chính ta. Muốn dâmsợ chếtđòi hỏi các phương pháp hóa giải khác không thuộc vào chủđề ăn chay.

Sinh linh trong cõi dục giớimang mười chín khả năng mà kinhsách xem chúng mang bản chất "ô nhiễm", đó là : a) sáu khả năng giáccảm (ngũ quan và tâm thức, Phật giáo xem tâm thức là giác cảm thứ sáu) ;b) khả năng sinh tồn (sự sống) ; c) hai khả năng dục tính (tính dục nam vànữ) ; d) năm khả năng tạo nghiệp gồm các khả năng mang đến sự sảng khoái(sukhendriya), sự đau khổ(duhkhendriya), sự thích thúsaumanassyendriya),những khổ đau tinh thần(daurmanasyendriya), và sự vô tâm(upeksendriya) ; e) năm khả năng đưa đến đạo hạnh gồm có lòng tin(sraddhendriya), sự cần mẫn(viryendriya), tinh tấn(smrtindriya), thiền định(samadhindriya), và sự hiểubiết minh bạch(prajnendriya).(

Để giúp cho bảng phân loại trên đâyđược đầy đủ hơn, chúng ta có thể điểm qua thêm những đặc tính thuộc hai cõikhác của tam giới, ấy là các cõi sắc giớivà cõi vô sắc giới. Cõi Sắc giớilà cảnh giới của chư thần chư thánh, tức là những sinh linh còn mang hình tướng(đặc tính của vật chất), tuy nhiên những sinh linh này chỉ mang mười lăm khả năng, tức bớt được bốn khảnăng so với mười chín khả năng của các sinh linh nơi cõi dục giới, bốn khả năng ấy là khả năng dâm tính và ba trong tổng sốnăm khả năng tạo nghiệp.

Cõi vô sắc giớilà cảnh giới của những vị đại thiên, những sinh linhvượt ra khỏi hình tướng vật chất và chỉ còn giữ lại tám khả năng: bớt được bảy khả năng về hình tướng (năm khảnăng giác cảm và hai khả năng dục tính, chỉ còn lại khả năng tâm thức), đồngthời cũng bớt thêm được bốn trong số năm khả năng tạo nghiệp.

Trên đây là những gì mà kinh sách đãmô tả và phân loại chúng sinh trong cõi ta-bà. Trên thực tế, trong cõi dục giới, ta nhận biết dễ dàng các loạisinh linh sống chung đụng và sát cánh với nhau trong nhiều cấp bậc, từ địa ngụccủa ngạ quỷ (những cảnh đọa đày), quỷ đói (những người nham hiểm và ác độc),súc sinh và những sinh linh đần độn và khù khờ (súc vật), trên đó là con ngườivà trên nữa là những sinh linh tinh khiết và cao cả. Hai cõi sắc giớisắc giới thì cao hơnvà tinh tế hơn so với cõi dục giới,vượt ra khỏi sự nhận biết nhị nguyên và quy ước của chúng ta, kể cả khoa học.Những sinh linh trong hai cảnh giới này vẫn còn chung đụng với chúng ta trongthế giới luân hồi, nhưng chỉ có một số nhỏ trong chúng ta có tâm linh bén nhậyvà vi tế nhờ vào sự tu tập lâu dài thì mới cảm nhận và tiếp xúc được với cácsinh linh hiện hữu trong hai cảnh giới đó. Biết đâu trong giây phút này chúngta đang "tiếp xúc" với những sinh linh tinh khiết và cao cả trong cõisắc giớinhưng chúng ta không hề haybiết, họ là những « con người » thật từ bi và rộng lượng, ngay thậtvà nhân từ. Có thể là chúng ta đang đi bên cạnh họ hay đang sống chung với họnhưng chúng ta không « nhìn thấy » được họ chỉ vì tâm thức bị vô minhche lấp khiến cho ta cứ tưởng họ tầm thường như những kẻ khác. Đối với các sinhlinh trong cõi vô sắc giớihoàn toànkhông còn mang các khả năng vật chất nữa (tức đã vượt khỏi năm giác cảm) chỉcòn giữ lại phần tâm thức mà thôi, thì sự nhận biết và tiếp xúc với những sinhlinh ấy lại còn khó khăn cho chúng ta hơn nhiều vì cần phải có một tâm thứcthật tinh khiết và bén nhạy.

Trên phương diện khoa học thì cõi dục giớicủa chúng ta được mô tả như thếnào? Khoa học chia cõi này thành ba giới : giới khoáng vật, giới thực vậtvà giới động vật. Giới khoáng vật nói chung là giới vật chất không hàm chứa sựsống. Tuy nhiên giới đó cũng biến động, thoái hoá và tạo tác không ngừng tùythuộc vào các điều kiện vật lý. Chẳng hạn như nước dưới không độ C sẽ đôngcứng, trên 100° C sẽ bốc thành hơi. Muối ăn hòa tan trong nước, ta không trôngthấy muối, nhưng khi nước bốc hơi, độ đậm đặc trở nên cao hơn và muối sẽ kếtthành tinh thể. Những biến dạng này khá đơn giản, lệ thuộc vào một vài điềukiện vật lý và khá dễ cho ta nhận thấy. Tuy nhiên, giới vật chất thật ra cònphức tạp và biến động một cách "tinh vi" hơn thế rất nhiều, khoa họccho thấy ranh giới giữa vật chất và năng lượng không thể phân biệt được mộtcách minh bạch, đối với thế giới cực vi (vật lý lượng tử) hay cực đại (thiênvăn học) phải dùng những máy móc tối tân hoặc toán học để chứng minh hay phỏngđoán những gì không thể hiểu hay quan sát trực tiếp được, cũng như ánh sáng cóthể xem là những hạt photon hay là những làn sóng. Tất cả những biến động đó,từ thô thiển đến vi tế của thế giới vật chất được Phật giáo gọi chung là sự tạotác bằng điều kiện, vì thật sự không có một vật thể nào hay một hiện tượng nào,dù là vi tế hay thô thiển, tự nó có thể độc lập được, kể cả không gian và thờigian, tất cả đều tùy thuộc vào điều kiện. Một phần những vật thể biến động ấytạo ra tứ đạicủa thân xác con người,hoặc nói rộng hơn là « thân xác » của tất mọi chúng sinh trong cõiluân hồi. Vì vậy tất cả mọi sinh linh, sự sống, tâm thức phát sinh từ sự sống,cho đến hành động, nghiệp báo…, đều phát xuất từ những tạo tác bằng điều kiện.

Ngoài giới khoáng vật vừa được mô tảtrên đây thì còn lại hai giới thực vật và động vật. Thông thường chúng ta chỉnhìn thấy hai giới này ở thể dạng đa bào (nhiều tế bào kết hợp, chẳng hạn nhưnhững sinh vật khá lớn thấy được bằng mắt thường). Đối với thế giới của nhữngsinh linh cực thô sơ như siêu trùng (virus), vi khuẩn kể cả thực vật và độngvật đơn bào thì cần phải dùng các phương pháp và dụng cụ khoa học để quan sát,như kính hiển vi chẳng hạn. Vì chúng quá nhỏ nên chúng ta không nhìn thấy trựctiếp được chúng bằng mắt thường, nhưng thật sự ra thì chúng hiện diện ở khắpmọi nơi trong không gian, trong những môi sinh khắt khe nhất, trên thân xác ta,trong ngũ tạng của ta, trong miệng, trong mũi, trong nách, trong háng, tronghậu môn của ta… Chúng tạo ra lợi ích cũng có mà tai họa cũng có: chúng làthành phần cơ bản của thức ăn cho sinh vật đa bào, và cũng là nguồn gốc củabịnh tật, tai ương, truyền nhiễm và có thể giết hại vô số những sinh linh khác.

Các sinh vật đơn bào thuộc vào haigiới thực và động vật không khác nhau nhiều, các nhà sinh học cho biết ranhgiới phân chia giữa hai giới này rất mong manh ở thể dạng đơn bào. Nhưng khikết hợp để tạo ra những sinh vật đa bào thì khác, động vật có nhiều khả nănghơn. Kinh sách cho biết trong cõi dụcgiớicủa chúng ta, các sinh linh "hữu tình" (đúng hơn thì nên gọilà sinh linh có giác cảm) có 19 khảnăng : giác cảm, sinh tồn, dục tính, tạo nghiệp v.v., như đã kể ra trong phầntrên đây. Trong khi ấy, trong giới thực vật thì các khả năng trên đây không đầyđủ, hoặc tiềm năng tác động của chúng rất thấp. Chính là dựa vào điểm then chốtnày mà người ăn chay chỉ ăn thực vật mà thôi. Tuy nhiên, trong giới thực vật,sự sống lắm khi cũng khá phức tạp. Chẳng hạn như cây mắc cỡ, còn gọi là cây xấuhổ hay gọi một cách văn hoa là cây trinh nữ, cũng biết cách tự vệ trước nguyhiểm bằng cách co rúm lá và cuống khi có một vật khác chạm vào chúng. Đây lànhững phản ứng thô sơ do sự teo nhỏ hay trương nở của các tế bào ở nách lá vàcuống lá gây ra bởi hiện tượng rút thêm nước hay dồn nước sang các tế bào khác.Khám phá khoa học mới nhất và gần đây về thực vật cho biết rễ của vài loại câycó thể tiết ra một độc tố giết hại các cây khác chung quanh để tranh giành vàbảo vệ môi trường sống riêng cho chúng. Có những thí nghiệm cho thấy khi trồngcây và đồng thời vặn nhạc êm dịu thường trực thì cây cối sẽ xanh tốt và maulớn, những hiện tượng này khoa học có thể ghi nhận nhưng không giải thích được.Trên đây là một vài thí dụ nhỏ cho thấy sự sống khá tinh tế của thực vật.

Sự sinh sản của cả hai phái thực vàđộng vật ở thể đơn bào có thể xảy ra bằng cách chia cắt tế bào làm hai (vôtính), hoặc bằng cách phối hợp hai tế bào đực và cái (dục tính). Hoa đực và hoacái là dục tính khá phức tạp của thực vật. Nhân giống vô tính (clonage) rấtthông thường trong giới thực vật (giâm cây, chiết cây, cấy mầm… không cần đếnhạt giống là sản phẩm của dục tính), ngày nay khoa học cũng có thể nhân giốngđộng vật tiến hoá (trường hợp con trừu Dolly).

Trướcsự phức tạp đó của sự sống thì việc ăn chay đứng vào vị trí nào và phảiđược định nghĩa như thế nào? Nếu cố chấp vào việc ăn cái này là chay, ăn cáikia không phải là chay, thì nhất định ta sẽ gặp nhiều trường hợp bối rối. Tómlại, ranh giới giữa động vật và thực vật không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối, màchỉ là tiêu chuẩn tốt nhất để định nghĩa việc ăn chay. Mặt khác như đã đượctrình bày trên đây nếu muốn nhận định vị trí và sự tương liên của ta đối vớicác sinh linh khác trong cõi dục giớinói riêng và toàn thể cõi ta bàhay luân hồinói chung quả thật là khó. Tuynhiên và đồng thời thì việc nhận định vị trí và mối tương liên của chúng tagiữa sự sống này dựa theo những tiêu chuẩn khoa học cũng không phải là chuyệndễ : vì tất cả mọi hình thức của sựsống liên hệ với nhau, liên kết với nhau, hỗ tương cho nhau và hủy hoại lẫnnhau. Trong bối cảnh tương liên như thế, xác định việc ăn chay cũng rất tếnhị. Ta có nên vượt lên trên sự gò bó của ăn chay, ăn cái này không ăn cái kia,để đạt đến một thể dạng hoàn toàn hội nhập với sự sống hay chăng? Sự hội nhậpấy biết đâu có thể là một lối thoát : quên cái ngã của ta và đem sự sống của riêng ta để hội nhập với sự sống củatất cả muôn loài chúng sinh? Khi ý thức và hình dung hành động ăn chay trênchiều hướng đó thì ta sẽ hiểu rằng ăn chay có nghĩa là kính trọng và yêu thươngsự sống của muôn loài giống như yêu thương và kính trọng sự sống của chínhmình. Thực sự ra thì trong sự sống của tất cả muôn loài có cả bóng dáng của sựhiện hữu của chính ta trong đó nữa, dù rằng trong sự sống đó sự hiện diện củata chỉ tượng trưng cho một phần rất nhỏ, có thể nói là vô nghĩa và rất khiêmnhường.

Ernst Haeckel (1834-1919), một nhàđộng vật học và phôi học nổi tiếng người Đức, khi nghiên cứu quá trình hìnhthành của bào thai (phôi) của một hài nhi chẳng hạn, đã nhận thấy rằng quátrình đó bắt đầu từ dạng thể đơn bào và sau đó là dạng thể kết hợp đa bào củamột sinh vật thô sơ, tiếp theo là dạng thể cá của thai nhi trong một bọc nướcvới mang và đuôi, kế tiếp là đặc tính của ếch nhái, bò sát và sau cùng thai nhimang các đặc tính tiến hoá của loài có vú. Sự hình thành của thai nhi lập lại tất cả quá trình tiến hoá của giớiđộng vật. Ernest Haekel đã đưa ra một câu tuyên bố nổi tiếng trong giớisinh học : "Sự hình thành củaphôi là cách tóm lược ngắn gọn từ sự hình thành của cả chủng loại" (L’ontogénèse est une courte récapitulationde la phylogénèse – Ontogenesis is a short recapitulation of phylogenesis). Nếu đúng như thế thì một cá thể cũng liên hệmật thiết với quá khứ và suốt quá trình tiến hoá của chủng loại kể cả sự sốngnói chung. Quá trình tiến hoá đó kéo dài hàng tỷ năm, từ một vi sinh vật thô sơcho đến những động vật phức tạp như giống người ngày nay trên địa cầu. Nhận xétcủa E. Haeckel cũng là một phản ảnh triết lý của khái niệm tương liên trongPhật giáo, sự tương liên này bao hàm cả quá khứ, hiện tại và tương lai của sựsống của tất cả mọi sinh linh.

Tóm lại, khi nhận định được nhữnghiểu biết trên đây, ta sẽ hiểu rằng cách cư xử thân thiện, yêu thương, tránhmọi hung bạo một cách vô ích đối với tất cả mọi sinh linh, từ bỏ cái ngãcủa ta, hội nhập một cách hài hoàvới tất cả mọi hình thức của sự sống chung quanh ta, từ một cánh hoa đến mộtcọng cỏ, từ con người đến thánh nhân, cho đến những côn trùng trong cỏ dại,kính trọng và yêu thương mọi dạng thể của sự sống trong quá khứ, trong hiện tạivà trong tương lai, thì đấy mới chính thực là cách cư xử của một người tu Phật.Cách cư xử phóng khoáng và rộng lớn như thế sẽ vượt lên trên khái niệm đơn giảnxoay quanh cách định nghĩa thông thườngcủa việc ăn chay.

5. Lời kết

Việc ăn chay dựa vào những hiểu biếtvà các khám phá khoa học trong mục đích giúp cho thân xác ít bịnh tật hơn thì không có gì gọi là Phật giáo cả. Dù cho khoẻ mạnh đếnđâu thì thân xác đó sớm muộn gì cũng gặp vấn đề, vì nó không thể tránh khỏibịnh tật và cái chết. Xem ăn chay như một hình thức mua bán hay trao đổivớichư Phật là tự tạo cho mình một món nợ hay một cực hình và như thế chẳngnhữngkhông phải là Phật giáo mà thật ra còn rất nguy hại cho thân xác và cả tâmthức. Ăn chay nhưng hoàn toàn vô tâmtrước khổ đau của chúng sinh là một hành động vô ích. Ăn chay để phát lộ lòngTừ bi, kiến tạo một mảnh đất cho Trí tuệ mới đích thực là ăn chay trong tinhthần Phật giáo. Nếu ăn chay nhưng đồng thời vượtlên trên ý niệm của ăn chay và không ăn chay, để hội nhập một cách hài hoàgiữa tâm thức và thân xác mình với tất cả những sinh linh khác dù nhỏ bé cáchmấy, dù vô hình hay hữu hình, thuộc quá khứ hay vị lai, dù đần độn và đángthương, dù hung dữ như quỷ đói, hay hiền hoà và cao thượng như chư thiên và chưthánh trong ba cõi dục giới, sắcgiớivô sắc giới, thì như thế lại còn tốt hơn nữa.

Để góp thêm vào phần kết luận ngườiviết xin được ghi lại một bài thơ. Những vần thơ này thật ra đã được viết từlâu và chỉ xin ghép thêm vào bài viết này trong mục đích nêu lên hai chủđề : Thứ nhất là khái niệm về sự tương liên, tương tác, tương tạo của mọivật thể và mọi biến cố trong thế giới chung quanh chúng ta, và thứ hai là tínhchất biến động, tạo tác và hủy hoại liên tục của mọi hiện tượng và sự sống nóiriêng. Trong sự biến động liên tục đó chúng ta không thấy cái ngã của mình ở đâu cả. Kết luận của bàithơ là nụ cười của Phật, tượng trưng cho sự Giác ngộ.

Bức tượng gỗ

Trên bệ, bức tượng Phật ngồi im,
Tôi nghe âm vang trong từng thớ gỗ,
Có tiếng chim trong rừng,
Cả tiếng rì rào của lá,
Thì thầm, tiếng hẹn hò của sâu.
Trên đường vân mặt gỗ,
Tôi thấy màu xanh trên cành,
Ửng ánh hồng màu mây.
Trên vết gân kẻ nứt, có nắng ấm mặt trời,
Mạch tế bào hơi thở.
Trên hình thù nét mặt, có bóng hình người thợ.
Trong ánh mắt hiền hòa, có bàn tay người khắc.
Thấm trong từng mạch gỗ,
Dòng nhựa cây từ đất,
Mạch nước nguồn từ sông.
Trong hương thơm, Tượng ngồi im trên bệ.
Trong khói mê, tôi ngồi im trên chiếu.
Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng gặm nhấm,
Của mối mọt trong cây ?
Của sâu bọ trong chiếu ?
Trong xác thân tôi, vi sinh vật nhiều như cát của sông Hằng,
Chúng cũng đang sống, sinh sôi và gặm nhấm.
Giật mình trong hốt hoảng,
Ngước nhìn lên qua làn khói mỏng,
Hiền hòa và nhân hậu,
Tượng mỉm cười trong hương.

Các nhà khoa học nói rằng trên mỗiphân vuông của thân thể ta có khoảng 200 000 vi sinh vật thuộc loài sâu bọ,loại ve (acariens), sinh sống nhờ hơi ẩm của mồ hôi, hơi ấm của da thịt và nhờlớp da chết đào thải dùng làm thức ăn. Trong miệng, mũi, tai, mắt, nách, háng,hậu môn, cơ quan sinh dục... có vô số vi sinh vật sinh sống. Trong ruột, baotử,... hàng triệu vi trùng sống chung với ta, vừa ký sinh vừa giúp đỡ ta trongviệc tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng,... Nếu không có chúng thì thân xác tacó tồn tại được chăng? Chúng gắn liền với sự hiện hữu của xác thân này. Ngoàira cũng còn có những con vi trùng khác đang chờ đợi hoặc đang âm ỉ tàn phá ta.Vậy thì xác thân này là nhà của ta hay là đất của chúng? Hay chỉ là mảnh đấtchung mà thôi. Thương chúng tất thương ta, thương ta hóa ra là thương chúng.

Đang ngồi im trên chiếu, bỗng tôigiật mình và hoảng hốt, một luồng chấn động lan truyền khắp mạch máu và tế bàotrong cơ thể tôi. Nhìn lên, trong cái bất động của Pho tượng gỗ, tôi thấy sứcsống của cả vũ trụ này, liên đới và buộc chặt với sự tồn vong và hạnh phúc củatừng vi sinh vật trong xác thân tôi, và trong cái sâu thẳm của yên lặng mênhmông nơi gương mặt của Pho tượng gỗ, tôi chợt thấy một Nụ cười.

Tôixin quỳ xuống và úp mặt lên chiếu, ước mong vạn vật bất cứ ở hình thức nào, từhạt cát, cọng cỏ, cho đến những sinh vật bên trong và bên ngoài xác thân tôi,dù nhỏ nhoi cách mấy, hữu hình hay vô hình, trong lòng đất sâu, trên mặt địacầu hay bên ngoài vũ trụ, ngạ quỷ hay thánh nhân, nơi a tì hay thượng giới, tấtcả đều được an vui và hạnh phúc. Mong lắm thay, ước mơ lắm thay.

Tôi xin được ngàn năm úp mặt xuốngchiếu để gần gũi với cái hạnh phúc của muôn loài sinh vật quanh tôi, trên thânthể tôi và trong xác thân tôi. Chúng tôi xin nhường nhịn nhau, chia sẻ với nhautừng hơi thở ấm áp cho đến những rung cảm mong manh phát sinh trên mảnh đấtchung vô nghĩa và nhỏ nhoi này, và tôi chỉ dám ước mơ cầu xin được giữ lại chotôi một nụ cười.

Bures-Sur-Yvette(Pháp quốc), 17.02.07
Đọc lại và sửa chữa, 21.02.08
HoangPhong
CHUẨN BỊ NHƯ THẾ NÀO
CHO CÁI CHẾT CỦA MÌNH
Dagpo Rimpoché
(Hoang Phong chuyển ngữ)

DagpoRinpoche-02Lời giới thiệu của người dịch :

Khi vừa mới một tuổi thì Dagpo Rimpoché đã được Đức Đạt-Lai Lạt-Mathứ XIII xác nhận là vị hóa thân (toulku) của Ngài Mã-nhĩ-ba (Marpa, 1012-1097)một vị Đại sư của Tây tạng và là thầy của Đại sư Mật-lặc Nhật-ba (Milarepa, 1052-1135).Dagpo Rimpoché sinh năm 1932, vào chùa từ lúc sáu tuổi, học tại các tu viện đạihọc danh tiếng nhất ở Tây tạng, tốt nghiệp tiến sĩ Phật học. Ngài rời Tây Tạngvượt sang Ấn vào năm 1959 và sau đó thì lưu trú tại Pháp từ năm 1960. Hiện nayDagpo Rimpoché là một gương mặt lớn của Phật giáo Tây tạng tại Âu châu.

Bài chuyển ngữ dưới đây được trích từ một tài liệu ghi chép lạibuổi thuyết trình của ông ngày 19 tháng 9 năm 2003 tại một ngôi chùa Tây tạngtrên đất Pháp. Thông dịch viên : Marie-StelleBoussemart. Ghi chép : LaurenceHarié, Michel Langlois, Cathérine Baguet, Marie-Stella Boussemart.

Trong số quý vị đến đây hôm nay tôinhận ra một vài người đã đến nghe tôi thuyết giảng tại Genève cách đây khoảng haihay ba năm. Các vị khác thì có lẽ mới đến nghe lần đầu. Ngoài ra tôi cũng được gặplại vài người bạn cũ mà từ nhiều năm nay tôi chưa có dịp gặp lại. Thật vô cùngvui sướng cho tôi được tiếp xúc tối nay với từng vị một.

Thật là một niềm hân hoan khi đượctiếp xúc với quý vị. Tuy nhiên nếu tôi chỉ biết hân hoan khi gặp lại bạn cũ và đượcquen thêm bạn mới thì e rằng điều đó chưa tương xứng với tầm quan trọng của buổihội ngộ hôm nay. Tất nhiên là quý vị đã phải cố gắng rất nhiều để đến đây thamdự, như vậy để có thể bù đắp được phần nào cho sự cố gắng ấy thì tôi phải làm gìđây để mang lại một chút gì thiết thực mà quý vị có thể đem ra áp dụng vào đờisống thường nhật, hoặc biết đâu cũng có thể áp dụng được ngay tối nay.

Chúng ta sẽ bàn luận với nhau về mộtvài quan điểm. Tuy nhiên điều quan trọng hơn hết vẫn là niềm ước mong quý vị cóthể rút tỉa được từ cuộc bàn luận này một vài ứng dụng trong đời sống gia đình,trong sự giao tiếp với bè bạn, đồng nghiệp... Nếu những quan điểm mà chúng ta sắptrao đổi rồi đây sẽ có thể góp phần tích cực để cải thiện phần nào cuộc sống hằngngày giúp cho quý vị giao tiếp dễ dàng hơn với những người chung quanh thì thậtlà không có gì mong mỏi hơn.

Muốn thực hiện được những mong mỏinày thì chúng ta phải hội đủ một số điều kiện cần thiết nào đó. Tuy nhiên dùcho chúng ta có khả năng hội đủ được những điều kiện tất yếu ấy đi nữa thì trướchết và ngay trong lúc này quý vị và cả tôi phải tạo ra một "thể dạng tâm thức lợi ích". (état d'esprit bénéfique)

Vậy thì thế nào là một " thể dạng tâm thức lợi ích" ?Thể dạng tâm thức đó không nhất thiết phải được thực hiện trong khuôn khổ của mộttôn giáo hay một tín ngưỡng nào cả. Tuy nhiên nếu có thể hình dung được trong lãnhvực của một tín ngưỡng thì vẫn tốt hơn, mặc dầu cũng có thể đặt thể dạng tâm thứcđó vào một bối cảnh tổng quát và toàn cầu hơn. Trong trường hợp có thể giới hạnnó trong khuôn khổ của một tôn giáo thì một người Phật tử đương nhiên sẽ phải hiểurằng tạo ra một thể dạng tâm thức đúng như mong muốn có nghĩa là tạo ra một dòngtư duy thật minh bạch. Những người Phật giáo đang ngồi trong gian phòng này tấtnhiên sẽ hiểu tôi muốn nói đến điều gì. Các vị khác có thể là người Thiên Chúagiáo hoặc cũng có thể không theo một tôn giáo nào cả, nhưng dù trong bất cứ trườnghợp nào thì tất cả đều có thể tự tạo ra cho mình một thể dạng tâm thức lợi ích,tức là một tâm thức biết quan tâm đến hạnh phúc của mọi người và của cả ta nữa.Chúng ta tự nhủ rằng : "Trong lúc này đây tôi đang được hưởng mọi sự an lành,vì thế trong lúc mà những điều kiện tốt đẹp đang hội đủ thì tôi cũng muốn nhânđấy mà làm được một điều gì ích lợi cho thật nhiều người và cả cho tôi". Mộtngười Phật giáo sẽ phải nghĩ rằng : "Tôi vẫn hằng ước mơ giúp đỡ người khácmột cách thiết thực vì thế mà tối hôm nay tôi cố gắng đến đây nghe giảng để biếtđâu nhờ đó mà tôi sẽ thực hiện được những gì tôi ước mơ". Suy nghĩ như thếtức là biết tự đặt mình vào một thể dạng tâm thức lợi ích. Thể dạng tâm thức ấysẽ mang lại những thành quả cụ thể và hết sức lớn lao cho quý vị.

Vậy thì mỗi người trong chúng ta trướchết nên tạo ra cho riêng mình một thể dạng tâm thức lợi ích. Sau đó thì chúngta sẽ cố gắng tìm hiểu nhau, vì nếu tôi chỉ biết nhắm mắt thuyết giảng những điềutối mịt rồi chẳng ai hiểu gì cả thì thật là hoài công cho quý vị và cho cả tôi.Vì thế chúng ta nên thảo luận với nhau như thế nào để mỗi vị đều có thể hiểu đượcmột cách minh bạch từng điểm một, vì sẽ thật đáng tiếc là nếu ngày mai đây khi quývị gặp bạn bè và nói với họ rằng : "Tôi hôm qua tôi có đi dự một buổi diễnthuyết, người ta giới thiệu diễn giả là một vị lạt-ma Tây tạng, nhưng thật ra thìsuốt một tiếng hay một tiếng rưỡi đồng hồ ông ta nói cho có nói vậy thôi. Xin đừnghỏi tôi rằng ông ấy nói gì vì tôi chẳng nhớ gì hết. Chỉ toàn là những chuyện mơhồ chẳng có ai hiểu gì cả". Nếu đúng như thế thì quý vị đã đánh mất thì giờmột cách vô ích.

Tôi xin đề nghị ngay với quý vị các phươngpháp giúp chúng có thể bàn thảo với nhau một cách hiệu quả. Trước hết chúng tanên tìm cách tránh bớt những tình trạng bất lợi, chẳng hạn như tôi cứ nói, ngườithông dịch cứ dịch, quý vị thì cứ nghe, nhưng thật ra thì chẳng có gì lọt vàotai quý vị. Như thế thật đáng tiếc, và để khỏi rơi vào tình trạng đó, trước hếttôi sẽ trình bày một số quan điểm và sau đó thì xin quý vị cứ mạnh dạn phát biểuvà nêu lên các thắc mắc. Nếu đủ sức trả lời thì tôi sẽ rất vui mà trả lời ngay.Nếu các thắc mắc của quý vị vượt quá tầm hiểu biết của tôi thì tôi cũng sẽ xinthành thật thú nhận. Ngoài ra hôm nay cũng thật may mắn cho chúng ta là có mộtvài người Tây tạng cùng tham dự trong gian phòng này nếu cần thì tôi cũng có thểnhờ họ giúp được.

Ngoài ra tôi cũng muốn nói rõ thêm lànếu như quý vị không có câu hỏi nào để đặt ra thì tôi cũng sẽ có nhiều câu hỏiđể nêu lên với quý vị đấy.

Vậy thì chúng ta hãy đi thẳng vào vấnđề : ta phải chuẩn bị cho cái chết củachính mình như thế nào?Thật ra thì chuẩn bị cho cái chết lại có nghĩa là phảitập sống thế nào để tạo ra cho kiếp nhân sinh này được tốt đẹp hơn và để kiếp sausẽ tái sinh trong những hoàn cảnh hạnh phúc hơn. Thiết nghĩ rằng nếu muốn trìnhbày thỏa đáng một chủ đề bao quát như thế thì bắt buộc chúng ta phải tìm hiểu cặnkẽ toàn bộ những lời giảng huấn của Đức Phật. Vì thế trong phạm vi một buổi nóichuyện như hôm nay chúng ta đành phải tóm lược và đơn giản vấn đề đi rất nhiều.

Nếu vậy thì chúng ta hãy đặt lại câuhỏi ngắn gọn hơn : tại sao người ta lạichết ? Câu trả lời thật là đơn giản : chỉvì người ta đã được sinh ra, chỉ có thế thôi. Nói một cách khác và bằng nhữngthuật ngữ khác thì sẽ là : chúng sẽ phảichết bởi vì chúng ta là những hiện tượng cấu hợp, tạo ra từ sự kết hợp của nhiềuthành phần, sự kết hợp ấy liên hệ đến một số nguyên nhân và điều kiện nào đó. Trong từng giây phút một, các cấu hợp biếnđổi không ngừng, và các biến đổi ấy một lúc nào đó sẽ kết thúc bằng một hiện tượngmà người ta gọi là cái chết.

Cách nay khoảng 2700 năm, Đức PhậtThích-ca Mâu-ni đã giảng rằng bất cứ một hiện tượng cấu hợp nào cũng đều là vôthường. Đức Phật đã khám phá ra quy luật đó nhờ vào sự suy nghiệm trong tri thứccủa Ngài, căn cứ vào những gì Ngài quan sát được và các kết quả suy tư của Ngài.Ngày nay thì khoa học và kỹ thuật có thể sử dụng các phương pháp thực nghiệm đểchứng minh điều đó một cách dễ dàng.

Chúngta không thể làm gì khác hơn là phải chết bởi vì chúng ta đã được sinh ra. Như vậy đối với Phật giáo thì sinh đươcđịnh nghĩa như thế nào ? Sinh có nghĩa là giây phút xảy ra thụ thai : đó là lúchai tế bào của cha và của mẹ kết hợp lại và đồng thời thâm nhập vào đó một dòngtiếp nối liên tục tâm thần (continuum mental) hay tri thức (conscience-conciousness).Tóm lại thụ thai hay sự sinh xảy ra khi dòng tiếp nối liên tục tâm thần thâm nhậpvào sự kết hợp giữa hai tế bào của cha và của mẹ.

Theo quan điểm Phật giáo thì bất cứ mộtvật thể nào cũng đều được cấu tạo bởi vô số các thành phần kết hợp lại vớinhau. Đúng vào giây phút thụ thai tức là giây phút mà bào thai được cấu tạo thìnăm thứ cấu hợp (1) cũng xuất hiện và dựa vào đó một cá thể cũng được hình thành.Từ sự kết hợp đó phát sinh ra sáu cơ sở hiểu biết (2) và bốn thành phần (3). Tấtcả gồm có hai mươi bốn chất liệu vật chất tạo ra cơ sở chuyển tải dòng lưu chuyểncủa tri thức, và dòng tri thức lại bám víu vào cơ sở chuyển tải ấy và xem đấy làcủa nó. Đấy là căn bản sơ khởi tạo ra một cá thể. Cái cá thể ấy lại tiếp tục biếndạng, lớn lên và phát triển thêm. Nhờ vào cơ sở vật chất dòng tiếp nối liên tụccủa tri thức cũng phát triển theo để đảm trách những sinh hoạt ngày càng phức tạphơn. Đấy là gì mà người ta gọi là sự sống, nó tương ứng với khoảng thời gian màdòng tiếp nối liên tục tâm thần còn sử dụng một cơ sở vật chất để chuyển tải nó.

Tuy nhiên các thành phần vật chất cũnglà những cấu hợp, vì thế không những chúng biến đổi trong từng giây phút một màchúng còn phải gánh chịu hiện tượng già nua và hao mòn. Sau một khoảng thờigian nào đó có thể dài hay ngắn thì các thành phần kết hợp lúc thụ thai sau khiđã phát triển trong suốt cuộc sống sẽ bắt đầu suy thoái. Các thành phần vật chấtsuy thoái dần và khả năng chuyển tải dòng tiếp nối liên tục tâm thần của chúngcũng theo đó mà suy giảm đi. Dòng tiếp nối liên tục tâm thần vì thế cũng trở nên"thu hẹp" hơn và mất đi một số tính năng, và các tính năng này cũng sẽtiếp tục tan biến dần. Cuối cùng thì đến một lúc nào đó cơ sở vật chất sẽ suythoái đến độ không còn đủ sức chuyển tải dòng tiếp nối liên tục tâm thần nữa.Dòng tiếp nối tâm thần bắt buộc phải rời bỏ cơ sở vật chất của nó, và chính vàothời điểm ấy thì cái chết sẽ đến với sự sống hiện tại này.

Vậy thì cái chết là sự tách rời giữatri thức (hay dòng tiếp nối liên tục tâm thần) và cơ sở vật chất. Theo quan điểmPhật giáo thì dòng tiếp nối liên tục đó không chấm dứt. Dù nó không thể tiếp tụclưu trú trong cơ sở vật chất thô thiển nữa nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại. Tùytheo trường hợp, nó có thể chuyển sang một thể dạng trung gian gọi là bardo(trung ấm) hay là không. Dầu sao đi nữa thì nó sẽ hướng vào một sự tái sinh mới.Nó hướng vào một cơ sở vật chất mới, thâm nhập vào đấy và làm phát sinh ra mộtsự thụ thai mới, tức là điểm khởi đầu của một cuộc sống mới. Cuộc sống mới ấy sẽkéo dài một thời gian nào đó và rồi cũng sẽ chấm dứt, và cứ tiếp tục như thế.Người ta gọi đấy là chu kỳ của những sự hiện hữu phát sinh do điều kiện, nghĩalà do nghiệp mà ra (4). Thật ra thì nhữnggì xui khiến dòng tiếp nối liên tục của tri thức hướng vào một cơ sở vật chất cábiệt nào đó không tùy thuộc vào quyết tâm của một cá thể - ít ra thì đây cũng làtrường hợp của những cá thể bình thường - mà duy nhất do sự tác động của nghiệp mà cá thể ấy đã tích lũy từ trước.

Đối với một người chấp nhận sự táisinh thì khi cái chết gần kề sẽ hiểu rằng tâm thức của mình sẽ rời bỏ cơ sở vậtchất của nó. Dòng tiếp nối liên tục tâm thần của mình sẽ tiếp tục tồn tại, vậytrong giây phút đó những gì quan trọng hơn hết ? Có phải là thân xác mình, củacải, gia đình, danh vọng hay uy quyền...? Tất cả những thứ ấy không có một giátrị nào cả, vì người sắp ra đi sẽ bỏ lại tất cả những thứ ấy.

Chỉcó dòng tiếp nối liên tục tâm thần là tồn tại và những gì mà nó có thể mangtheo là những vết hằn (của nghiệp) đã in sâu vào nó. Những gì tiếp tục tồn tạivà kéo dài từ kiếp sống này sang kiếp sống khác trên dòng liên tục tâm thần chínhlà nghiệp của chúng ta. Dù đấy là nghiệp tốt hay nghiệp xấu thì cũng đều gomlại thành một tổng hợp các vết hằn hay là các tiềm năng hay xu hướng mà dòng tiếpnối tâm thần sẽ mang theo với nó. Đối với quý vị nào trước đây chưa hề hiểu nghiệplà gì thì cũng xin giải thích thêm đấy là những xu hướng tích tụ trên dòng tiếp nối liên tục tâm thần. Những xuhướng ấy mang tính cách "tích cực" khi chúng có khả năng mang lại nhữnggiác cảm hạnh phúc, những cảm nhận về hạnh phúc. Ngược lại thì những nghiệp"tiêu cực" là những vết hằnhay những tiềm năng lắng đọng trong tâm thức mà chúng sẽ mang lại những cảm nhậnkhổ đau.

Chủ đề buổi nói chuyện tối nay là"Chuẩn bị cho cái chết". Vậychúng ta hãy đi thẳng vào chủ đề đó. Chúng ta hãy xét xem điều gì có thể giúpích cho chúng ta khi hấp hối và khi phải hướng vào một sự tái sinh mới. Có rấtnhiều phương pháp kể cả một lô các phương pháp đặc thù của Phật giáo. Tuy nhiênkhông cần bắt buộc phải là một người Phật giáo mà chỉ cần tin có sự tái sinh thìcũng đủ để hiểu rằng cái chết không phải là một sự chấm dứt vĩnh viễn vì sau đósẽ còn phải hướng vào một sự tái sinh mới, và trong trường hợp đó thì bất cứ aicũng đều hiểu rằng cái thể dạng tâm thức cuối cùng đúng vào lúc sắp chết sẽ giữmột vai trò vô cùng quan trọng. Nếu vào giây phút đó ta tạo ra cho mình một thểdạng tâm thức tốt thì nó sẽ giúp ta hướng vào một sự tái sinh thuận lợi.

Nói một cách khác là ta phải làm thếnào để gợi lên cho ta một thể dạng tâm thức lợi ích đúng vào lúc mà ta sắp chết.Phương pháp ấy có thể áp dụng cho bất cứ ai, không nhất thiết phải là người Phậtgiáo mới làm được. Bất cứ ai cũng có thể là một người tốt được, dù cho họ theomột tín ngưỡng nào cũng vậy. Dù đứng trên quan điểm nào thì bất cứ ai cũng đềucó thể tạo ra cho mình một thể dạng tâm thức đầy yêu thương và từ bi hay đứctin vào lúc hấp hối. Vậy đối với Phật giáo thì ý nghĩa của tình thương là gì ? Tìnhthương hiểu theo Phật giáo là mong cầu hạnh phúc cho người khác. Nếu trong lúchấp hối mà ta đủ sức gợi lên trong tâm trí mình một lời nguyện cầu đơn giản nhưsau : "Tôi chỉ cầu mong sao cho tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc!", tức là " Tôi chỉ ước mong làm sao để giúp cho tất cả chúng sinh đạtđược hạnh phúc", thì lời nguyện cầu đó sẽ hướng ta vào một sự tái sinh tốtđẹp. Từ bi chính là ước vọng tất cả chúng sinh loại bỏ được khổ đau. Chẳng hạnnhư những ước vọng như sau đây : "Tôi cầu mong tất cả chúng sinh vượtthoát khỏi khổ đau, cầu xin cho họ đạt được một tâm thức luôn luôn an bình khôngcòn phải chiến đấu với khổ đau". Bất cứ một thể dạng tâm thức đạo hạnh nàocũng thế, dù đấy là đức tin hướng vào một vị Trời, vào Đức Phật hay là một vịThầy tâm linh, thì cũng đều mang lại hiệu quả. Mọi thể dạng tâm thức lợi ích đềugiúp cho cái chết được thanh thản và hướng vào một sự tái sinh thuận lợi. Một thểdạng tâm thức lợi ích không nhất thiết phải được quy định trong một khuôn khổhay một giới hạn nào cả mà có thể mở ra thật rộng lớn, chẳng hạn như ta có thểnguyện cầu như sau : "Tôi cầu mong cho hòa bình sẽ tỏa rộng và bao trùm lêncả thế gian này. Cầu mong sao cho tất cả nhân loại trên địa cầu đều được an bình.Ước mong sao cho tất cả mọi xung đột dù đang tác hại ở bất cứ nơi nào trên hànhtinh này cũng đều sẽ chấm dứt". Ta cũng có thể ước mong như sau : "Nếutrong kiếp sống này tôi không thể giúp được nhiều chúng sinh như tôi hằng nguyệncầu thì xin cho tôi được tái sinh trong một kiếp sống thuận lợi hơn để có thể giúpđược nhiều chúng sinh hơn nữa".

Ngoài ra cũng không nên quên rằng chúngta phải làm sao để thể dạng tâm thức lợi ích đó được hiển hiện khi mà chúng tavẫn còn thì giờ, tức là không nên chờ đợi đến giây phút chót khi quá trình củacái chết đã bắt đầu xảy ra . Cái chết sẽ xảy ra khi cơ sở vật chất trở nên quá suyyếu hoặc rơi vào một tình trạng quá tệ hại không còn đủ sức chuyển tải được tâmthức nữa. Tuy nhiên thì trước đó cũng sẽ qua một giai đoạn mà cơ sở vật chất trởnên suy thoái thật nặng nề và tâm thức không còn sử dụng được các khả năng củanó một cách bình thường như trước, thì trong tình trạng đó tâm thức sẽ rơi vàomột trạng thái trung hòa (mê man). Vì thế phải hành động ngay để tạo ra một thểdạng tâm thức tích cực và lợi ích trước khi nó rơi vào tình trạng trung hòa nhưtrên đây. Phải làm hiển hiện thể dạng tâm thức lợi ích trước khi đến giai đoạn suythoái nặng nề thì thể dạng lợi ích ấy mới có thể tác động và ảnh hưởng đến tìnhtrạng tâm thức trung hòa khi đã gần kề cái chết. Thể dạng tâm thức lợi ích sẽgiúp tăng cường thêm sức mạnh cho các nghiệp tích cực và cũng từ đó sẽ hướng vàomột sự tái sinh thuận lợi.

Những điều vừa được trình bày trên đâycó thể xem là kết quả mang lại từ một sự chuẩn bị thật lâu dài, có nghĩa là từ khimà ta còn đang khoẻ mạnh. Không phải chờ đến lúc hấp hối ta mới bắt đầu tập thươngyêu người khác và làm hiển hiện lên trong ta lòng từ bi. Tình thương và lòng từbi chỉ có thể hiển hiện lên trong lúc nguy kịch khi mà chúng đã được thấm nhuầntừ trước bằng những cố gắng lâu dài. Nói một cách khác là ta nên tập luyện ngaybây giờ để quen dần với thể dạng tâm thức đó dù đấy là tình thương yêu, lòng từbi, đạo đức, hay đức tin cũng thế. Phải tập thế nào để tất cả những thứ ấy trởthành thói quen và chúng sẽ tự động hiển hiện lên vào giây phút mà ta sắp ra đi.

Khi phải đối đầu với những thử tháchkhó khăn tức vào những lúc sắp gặp nguy cấp thì các phản ứng dưới các thể dạngtâm thức quen thuộc nhất thường sẽ được biểu lộ. Phản ứng của một đứa bé là mộtthí dụ điển hình hơn cả. Khi đứa bé cảmthấy nguy hiểm thì tiếng kêu cứu đầu tiên phát ra từ miệng nó là tiếng gọi :"Mẹ ơi !". Đơn giản chỉ vì mẹ là người thân thiết nhất của nó, gầngũi nhất với nó, luôn hiện hữu trong tâm thức nó. Chỉ cần vấp ngã hay va đầuvào vật gì làm cho nó đau đớn thì nó khóc và kêu lên : "Mẹ ơi !".

Phải chọn lựa một thể dạng thích hợpnhất với bản tính của mình để làm hiển hiện ra trong tâm thức - chẳng hạn như tìnhnhân ái, tình thương yêu người khác, v.v... - phải luyện tập thường xuyên để giúpchúng ngày càng vững mạnh hơn. Tập nhưthế cho đến khi nào thể dạng tâm thức đó trở thành một phản ứng tự nhiên và độtphát khi ta phải bất thần đối đầu với những tình huống đang xảy ra. Ta có thể tậpluyện để phát huy tâm thức ấy, dù cho trên thực tế ta không thể giúp đỡ ngườikhác một cách cụ thể đi nữa. Chỉ cần tạo được thói quen trong tâm thức luôn luônnghĩ đến người khác, lúc nào cũng cảm thấy gần gũi với người khác và trực tiếpliên đới với hạnh phúc của người khác. Như thế đến khi hấp hối thì những ý nghĩvà xúc cảm đó sẽ hiển hiện lên một cách tự nhiên trong tâm thức ta.

Không phải cứ chuyên cần tập luyệntheo các giờ giấc đều đặn trong ngày là đủ mà đúng hơn phải cố gắng hơn thế nữađể theo dõi tư duy hiển hiện ra trong tâm thức mình vào bất cứ lúc nào. Chúng takhông ngừng múa may tay chân, nói năng huyên thiên, đàm thoại với hết người nàyđến người khác, đi tới rồi lại đi lui... Nên cố gắng nhìn lại chính mình gầnhơn để nhận thấy mình và thốt lên : "À thì ra không ngờ trong đầu lại có lắmthứ tư duy đến thế, thật là nhiều và đủ loại và chúng đang bộc phát ra trongtâm thức ta. Một số thì tốt, một số thì kém hơn, hoặc có thể rõ ràng vô phươngchối cãi là rất tệ hại, hoặc một số khác thì chỉ có tính cách trung hòa". Khita có thể nhận biết và phân loại được chúng thì đó là lúc mà ta đã đạt được mộtbước tiến bộ rồi đấy. Cả ba thể loại tư duy ấy đều là những gì thật tự nhiên,tuy thế nếu khi nào đã đủ sức phân loại được tư duy nào là tốt, xấu hay trung hòa,thì cũng nhân đó mà so sánh tỷ lệ xuất hiện của chúng trong đầu ta ra sao để xácđịnh xem ta có xu hướng tốt một cách tự nhiên, hay ngược lại ta chỉ là một ngườicó xu hướng xấu hoặc trung hòa. Sau khi xác định được như thế ta phải cố cảnhgiác trong từng giây phút một trong cuộc sống để chủ động tâm thức mình, kiểm soátnhững tư duy của mình. Cuộc sống thường nhật buộc ta phải nói năng với người khác,dù những lời đàm thoại đó mang nội dung như thế nào thì ta cũng nên tự hỏi tạisao ta lại thốt lên những lời như thế. Nếu nhận thấy rằng những lời mà ta thốt ramang chủ đích mong muốn người đối thoại được hạnh phúc và trong lòng ta cầumong cho họ gặp được những điều tốt đẹp, như thế thật không còn gì để nói thêm! Nếu trong trường hợp ta phải nói một cách máy móc vì nghề nghiệp để thực hiệnmột công việc nào đó, thì chủ đích những lời nói ấy chỉ mang tính cách trung hòa.Tuy nhiên nếu ta ngỏ lời với một người nào đó mà lại chỉ cầu cho họ gặp những điềubất hạnh và trong thâm tâm ta chỉ muốn làm hại người ấy, thì đấy thật rõ ràng làkhông tốt. Nếu nhận biết được như thế thì dần dần về sau chúng ta cũng sẽ khôngphát ra những ngôn từ thuộc vào loại đó nữa, tức là những ngôn từ bề ngoài khôngnhất thiết là xấu, nhưng bên trong thì lại tiềm ẩn những ý đồ tiêu cực.

Khi đã quen với sự cảnh giác để luônluôn tự hỏi chủ đích của mình là gì, thì đến một lúc nào đó ta sẽ có thể chủ độnghoàn toàn được tâm thức của mình và cả những hành động phát sinh từ thân xác củamình nữa.

Phải thú nhận rằng hầu hết chúng ta khôngmấy ai có thể tự cho rằng mình hoàn toàn được tự do, bởi vì chưa ai có thể bảo đảmrằng mình có thể hành động theo đúng như ý mình muốn. Thật sự mà nói là ta vẫn thườngxuyên bị tâm thức khống chế, nó chỉ huy và ra lệnh cho ta phải hành động theonhững quyết định của nó. Nhưng nếu nghĩ kỹ thì chính tâm thức ta cũng lại bị nôlệ bởi sự khống chế của những yếu tố bấn loạn, sự yếu đuối và các thứ dục vọngcủa chính nó. Chính đấy là những gì đã đứng ra điều khiển nó ! Hãy lấy thí dụ vềsự giận dữ, và tiếc thay đôi khi chúng ta vẫn còn giận dữ, và khi đã giận dữthì ta sẽ hoàn toàn bị nó khống chế. Khi cơn giận đã bộc phát ra rồi thì takhông thể cưỡng lại được nữa. Nó kiềm tỏa tất cả và chỉ huy mọi tư duy của ta, xúidục ta phạm vào những hành động mà chính ta không muốn. Kích động bởi sự giận dữ,ta sẽ phát ra những ngôn từ làm mếch lòng người khác, chỉ trích và nguyền rủangười khác, thế rồi ta không còn tự chủ lấy mình được nữa.

Đừng nghĩ rằng trong thoáng chốc làta có thể loại bỏ được sự giận dữ vì giận dữ là một thành phần của tâm thức, tiềmẩn trong tâm thức và đã quen tác oai tác quái quá lâu đời. Ta đâu có thể loại bỏchúng dễ dàng như thế được.

Trước hết ta phải tập khám phá thậtsớm sự xuất hiện của giận dữ. Nếu thấy nó vừa ló dạng thì tức thời ta phải tự cảnhgiác ngay vì biết rằng sự bực bội đang tìm cách xâm chiếm ta và nếu cứ để cho nóbùng lên thì ta sẽ không còn cưỡng lại được nữa. Ý thức được điều đó có nghĩa làta đã đạt được một bước tiến đáng kể. Nếu tiếp tục tập luyện theo cách đó thì dầndần ta cũng sẽ loại bỏ được các yếu tố bấn loạn, chẳng hạn như sự giận dữ, đồngthời lại phát huy được các phẩm tính tốt của mình, và rồi ta sẽ cảm thấy hạnhphúc hơn.

Một người dễ nổi nóng sẽ thường xuyêngây ra tình trạng căng thẳng và xung đột với những người chung quanh, suốt ngàyhọ cãi vã trong gia đình, với đồng nghiệp và họ hàng, họ chẳng bao giờ biết an vuilà gì. Đối với trường hợp như thế thì cách tập luyện trên đây sẽ giúp họ làm giảmbớt sự nóng giận. Sự giao tiếp với người chung quanh do đó cũng sẽ được cải thiệnhơn và cuộc sống hằng ngày cũng sẽ thay đổi tốt hơn: họ cảm thấy an vui hơn, côngviệc mang lại nhiều kết quả hơn...

Nói một cách khác, nếu muốn chuẩn bịcho cái chết thì ngay lúc này trong cuộc sống thường nhật ta cũng nên bắt đầu tậpcho quen dần với các thể dạng tâm thức lợi ích, và các thể dạng lợi ích ấy cũngsẽ mang lại cho ta nhiều điều cải thiện trong cuộc sống hằng ngày của ta. Tanên sống như thế nào để đến lúc lâm chung thì thể dạng tâm thức thuận lợi sẽ đếnvới ta một cách tự nhiên. Nếu không đủ sức tạo cho mình một cuộc sống như thế,thì ít ra cũng cố tránh không để cho tâm thức bị dao động và tràn ngập bởi sự giậndữ hay bám víu. Một tâm thức an bình sẽ trợ giúp cho ta hay cho bất cứ ai tronggiây phút hấp hối. Vì thế, khi đang ở cạnh người sắp ra đi thì ta phải tránh tấtcả những gì có thể làm cho người ấy bị rối loạn hay dao động tức là tránh tạora cho họ một thể dạng tâm thức tiêu cực. Cố gắng giúp họ tạo ra một thể dạng tâmthức lợi ích và tích cực. Nếu biết được họ theo tôn giáo nào thì cứ nhắc đến tínngưỡng của họ, giúp họ phát lộ đức tin. Dù trong bất cứ trường hợp nào thì cũngcố gắng giúp người hấp hối yên lòng, nhắc cho họ biết là họ đã sống một cuộc sốngtrọn vẹn, đã làm được nhiều điều tốt đẹp, mục đích là giúp cho họ ra đi trongan bình và mãn nguyện, dù cho những lời khuyên nhủ của ta có đúng với sự thậthay không. Ngay cả trong trường hợp mà ta biết là người ấy có một cuộc sống khôngmấy tốt lành đi nữa thì ta cũng không nên nhắc đến những gì kém tốt đẹp trongcuộc sống trước đây của họ. Trái lại phải an ủi họ, nói với họ là họ đã từng làmhết sức mình, đã thực hiện được nhiều điều tích cực trong đời họ và giờ đây thìhọ có thể yên lòng ra đi. Phải cố gắng giúp họ ra đi thật thanh thản và êm ả.

Ta cũng phải cẩn thận trong từng cửchỉ, phải chú ý đến sự dịu dàng trong từng lời nói để cho người hấp hối vữngtâm . Không nên tỏ ra bồn chồn hay khóc lóc, không nên nói lớn tiếng, cũng khôngnên lay người hấp hối. Tiếc thay đó lại là phản ứng rất thường thấy của nhữngngười thân thuộc chung quanh. Đôi khi người thân ôm người hấp hối vào lòng. Mộtsố người thường có những cử chỉ như thế, họ ôm người hấp hối và thốt lên :"Không, đừng ra đi, hãy ở lại với chúng tôi...". Nên tránh những cửchỉ thô bạo như thế. Trái lại phải làm thế nào để tạo ra một bầu không khí êm dịu,thanh thản và an bình chung quanh người sắp ra đi, bằng một giọng thật thấp hãynói với người hấp hối những lời lẽ ngọt ngào.

Tóm lại, tất cả chúng ta đều ướcmong đạt được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau. Vậy nếu muốn thực hiện được điềuđó thì phải tìm hiểu chính mình, theo dõi được những gì đang diễn biến trong tâmthức của mình. Dù ta đang hạnh phúc hay khổ đau thì cả hai thể dạng ấy đều phátsinh từ rất nhiều nguyên nhân và điều kiện, và những nguyên nhân và điều kiệnchính yếu hơn hết tạo ra các thể dạng ấy lại tùy thuộc vào tâm thức của chính mình,phát sinh từ tâm thức của chính mình. Tạo ra những thể dạng tâm thức tích cực sẽmang lại cho ta sự thư giãn và hạnh phúc và cũng sẽ giúp cho ta làm giảm bớt tácđộng của những thể dạng tâm thức tiêu cực mang lại khổ đau. Thực hiện được như thế là cách giúp cho ta chuẩnbị cho lúc lâm chung và đồng thời cũng tạo ra những tác động tích cực ngaytrong cuộc sống thường nhật của ta trong lúc này.

Cách tập luyện vừa trình bày trên đâykhông nhất thiết là những gì đặc thù dành riêng cho Phật giáo, mà bất cứ ai cũngcó thể tập được, không cần phải tin vào một tôn giáo nào cả. Bất cứ một sinh linhnào hàm chứa một tâm thức đều nên tìm hiểu chính mình để chủ động lấy tâm thứccủa mình.

Thật vậy, không phải chỉ cần vơ vétcủa cải vật chất cho thật nhiều là có thể tìm thấy hạnh phúc. Không phải nhữngngười giàu sụ đương nhiên là những người hạnh phúc. Hạnh phúc không nhất thiết lệthuộc vào của cải và những gì ta chiếm hữu, mà tùy thuộc vào những tư duy đangdiễn biến trong tâm thức của mình. Dù thật giàu có nhưng ta lại không đủ sức tạora cho mình một khả năng cảm nhận đúng đắn về mọi sự vật thì của cải của tacũng sẽ không thể cứu ta thoát khỏi những khổ đau khủng khiếp. Có những ngườigiàu có nhưng lại vô cùng khổ sở không đủ nghị lực để vượt lên những hành động tuyệtvọng, như tự tử chẳng hạn. Những chuyện đại loại như thế vẫn thường xuyên đượcbáo chí đưa tin. Ngược lại, có nhiều người phải đối đầu với những khó khăn vậtchất, sống trong hoàn cảnh khiêm tốn, nhưng lại tỏ ra hết sức hạnh phúc, chẳngqua đấy là vì họ biết nhìn mọi sự một cách khác hơn.

Chủ đề nêu lên được trình bày khábao quát và có phần vắn tắt. Vậy có quí vị nào cần hỏi thêm hay chăng ?

Phần Hỏi - Đáp

- Một thính giả(người ghi chép có thể không nghe rõ nhưng người thuyết giảng theo dõi đượccâu hỏi, có lẽ vì ban tổ chức không dự trù "micro" cho người hỏi ngồibên dưới - ghi chú thêm của người dịch): [...lời phát biểu quá nhỏ không nghe rõ... ]

- Rimpoché: Như đã được trình bày trong bài thuyết trình, cái chết là một hiện tượng xảyra vào lúc mà cơ sở vật chất dùng để chống đỡ tâm thức bị thoái hóa, và sựthoái hóa đó có thể xảy ra vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống. Không nhấtthiết là phải xảy ra khi già nua, mà cả lúc còn trẻ, chẳng hạn các trường hợp bịtai nạn. Trong trường hợp tai nạn xe cộ hay bất cứ một tai nạn vì một nguyên nhânnào khác, thì cơ sở vật chất đang trong thể dạng hoạt động đột nhiên mất hết nhữngkhả năng bình thường của nó và không còn chuyển tải tâm thức được nữa.

- Một thính giả: Tôi không phân biệt được thế nào là hạnh phúc và thế nào là sung sướng. Có thểdùng chữ "hài hòa" thì có lẽ thích hợp hơn chăng ?

- Rimpoché: Khi nói đến hạnh phúc thì đấy cũng chỉ là quy ước mà thôi, chẳng qua cũng làmột cách phát biểu dựa vào ngôn từ, dầu sao thì đấy cũng chỉ là một sự cảm nhậntrong thế giới ta-bà, và ta-bà có nghĩa là chu kỳ của sự hiện hữu mà ta phải gánhchịu. Dù phát biểu rằng đấy là sự hài hòa nội tâm hay hạnh phúc nội tâm hay mộtthứ gì khác nữa thì tất cả cũng không phải là hạnh phúc thật sự, không phải làmột thể dạng hân hoan tuyệt đối và trường tồn. Dầu sao thì tất cả cũng chỉ là quy ước,chỉ đơn giản là một cách chọn chữ, nếu muốn thay chữ hạnh phúc bằng chữ hài hòanội tâm thì cũng không có vấn đề gì cả.

- Một thính giả: Tôi không có ý muốn nói là có một sựkhác biệt giữa hai chữ !

- Rimpoché:Vậy thì bạn có thể giải thích minh bạch hơn hay không ? Bạn có thể hình dung đượcmột người đang thụ hưởng hạnh phúc theo đúng với ý nghĩa thông thường của nó màlại không có sự hài hòa nội tâm hay chăng ?

- Một thính giả: Nếu biểu lộ sự thương cảm đối với thế giới này, đối với con người và muôn thúthì đến một lúc nào đó người ta sẽ nhận ra sự bất hạnh của người khác, theo tôithì một thứ tình cảm hiện lên [...nghe không rõ...]. Tôi chỉ thấy đấy là lãnh vựccủa sự hài hòa hơn là một sự thán phục [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Bạn đưa ra một số các thể dạng tâm thức khác biệt nhau và đề cập đến lòng thươngcảm và cả các phản ứng có thể xảy ra khi nhìn thấy sự đau khổ của người khác. Cólẽ bạn muốn nêu lên lòng từ bi, và nhất là những gì bạn vừa nêu lên lại thuộc vàomột thể dạng tâm thức khá chuyên biệt. Nhất định là không thể phát biểu đấy làmột một sự thán phục. Hơn nữa còn có thể xem đấy là một cách phát biểu lạc đề. Đúnghơn thì đấy chỉ là một thể dạng hài hòa nội tâm giúp cho mình cảm nhận được ngườikhác đang phải gánh chịu khổ đau. Thật hiển nhiên là bạn đang mở rộng sự suy tưtheo một chiều hướng nào đó.

- Một thính giả: Xin nêu lên một câu hỏi liên quan đến dòng tiếp nối liên tục tâm thần. Nhữnggì tôi không hiểu được là tại sao [...không nghe rõ...] lại không phát sinh từcác kiếp trước của mình ?

- Rimpoché:Đề cập đến dòng tiếp nối liên tục tâm thần không nhất thiết phải liên kết vớihiện tượng chuyển tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Ngay cả trong kiếpsống hiện tại, từ lúc mà chúng ta bước vào gian phòng này cho đến giây phút này,tâm thức chúng ta hoạt động không ngưng nghỉ. Vậy theo bạn thì tâm thức của chúng ta đang trong tình trạng hoạt động ngaytrong giây phút này có giống với tình trạng tâm thức của chúng ta khi chúng ta vừabước vào gian phòng này hay không ?

Như vừa trình bày trên đây, ít ra thìchúng ta cũng đồng ý với nhau trên một điểm là tâm thức biến đổi liên tục, do đódùng cụm từ "dòng tiếp nối liên tụctâm thần"(continuum mental) có lẽ thích nghi hơn là dùng chữ "tâm thức" (esprit- mind - spirit) vì chữ tâm thức hàm chứa ý nghĩa quá tĩnh lặng hoặc quá bao quát.Mặt khác, dòng tiếp nối liên tục tâm thần còn hàm chứa một ý nghĩa khác nữa đólà thể dạng tâm thức vào một thời điểm nhất định nào đó không phải tự nhiên mà vụtxuất hiện ra như thế một cách vô cớ mà đúng hơn chỉ là một sự tiếp nối của mộthiện tượng cùng một bản chất với nó đã xuất hiện trước nó, bản chất chung ấy làbản chất tâm thần. Hơn nữa bạn có nói là bạn nhớ lại được những sự kiện xảy ra đốivới bạn và những gì mà tâm thức của bạn đã suy nghĩ vào lúc mà chúng ta cùng bướcvào gian phòng này. Sở dĩ bạn có được những ký ức đó là chính nhờ vào dòng tiếpnối liên tục tâm thần của riêng bạn, và cũng chính vì thế mà những ký ức của bạnkhông giống với những ký ức của tôi.

Bạn nói rằng điều đó làm cho bạn mơước được biết về các kiếp trước của bạn, bởi vì bạn không còn nhớ gì cả. Thế thìbạn còn nhớ được tất cả các tư duy của bạn khi còn nhỏ hay không, bởi vì sau mộtthời gian dài thì vô số những sinh hoạt và tư duy khác dồn dập hiện ra làm chomột số tư duy trước đây phải bị gạt sang một bên. Tình trạng đó tạo ra sự quênlãng tức là không còn nhớ được một số sự kiện nào đó ngay cả trong kiếp sống này.

- Một thính giả: Vậy thì dòng tiếp nối liên tục còn có ích lợigì nếu tôi không còn nhớ lại những gì trong kiếp trước của tôi. Nếu ngày mai tôichết và tái sinh, tôi sẽ trở thành một đứa bé và tôi sẽ có một não bộ của một đứabé. Vậy thì tôi chất chứa được những gì từ các kiếp trước ?

- Rimpoché: Theo cách nhìn của Phật giáo thì vào đúng giây phút tái sinh dòng tiếp nối tâmthần thâm nhập vào tế bào của cha và của mẹ thuộc trong kiếp sống sắp tới, dòngtiếp nối đó không phải là một dòng tiếpnối hoàn toàn mới mẻ. Thực ra thì nó chuyên chở theo nó vô số những vết hằn tíchlũy từ các kiếp trước. Có phải điều đó có nghĩa là bào thai bắt buộc phải ghinhớ tất cả các thứ ấy hay không ? Nhất định là không. Bào thai có sẵn một số vốnnhưng nó lại còn đang trong tình trạng vô thức. Nếu muốn bào thai có đủ khả năngý thức thì bào thai phải là một cá thể đã được tập luyện tích cực trên phươngdiện tinh thần. Nếu dùng thuật ngữ thông thường để nói thì cá thể ấy phải biếtsuy tư thật mãnh liệt, tóm lại chỉ bằng cách đó thì bào thai mới có thể nhớ lạimột cách hiển nhiên và minh bạch những gì mà nó đã từng làm trong các kiếp trước.

- Một thính giả: Vậy cái vốn liếng đó sẽ phát hiện như thế nào ?

- Rimpoché: Nhiều trường hợp có thể xảy ra, tất cảtùy thuộc vào sức mạnh của các tiềm năng. Nếu tiềm năng cực mạnh thì ngay tuổi ấuthơ chỉ cần một chút gì đó khơi động cũng đủ mang lại cho đứa bé mọi thứ hiểubiết, giúp nó hiểu được những chủ đề thật sâu sắc làm ngạc nhiên người lớn chungquanh. Nếu những vết hằn tương đối mạnh nhưng vẫn còn thiếu cường lực, thì đứabé chỉ cần học qua loa là đủ khơi động lại cho nó những gì mà nó có từ trước vàtừ đó nó sẽ suy luận để biết được nhiều hơn. Đối với những người mang những vếthằn kém cường lực thì phải cố gắng thật nhiều để tập tành và tiến bộ.

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Đối với những người bị bệnh tâm thần thì trong khoảng thời gian trước khi chếthọ không còn kiểm soát được tư duy của mình nữa thì việc gì sẽ xảy ra ? Tất nhiênlúc đó họ không còn khả năng nào để phát huy một tâm thức lợi ích nữa. Tuy nhiêntrước khi bị bệnh nếu họ đã từng tập luyện thì đến lúc hấp hối các điều kiệnthuận lợi sẽ hội đủ (5), dù cho vào thời điểm đó tình trạng tâm thần của họ đãsa sút. Trong trường hợp một người từng tích lũy được nhiều nghiệp thật thuận lợitừ trước thì đến khi hấp hối tình thương hay lòng từ bi cũng có thể tự nhiên hiểnhiện ra trong tâm thức họ đúng theo những gì mà họ đã tập luyện được trước khi ngãbệnh.

- Một thính giả: Sự giúp đỡ của một người khác có thể ích lợi hay không ?

- Rimpoché: Nhất định là có. Sự giúp đỡ từ bên ngoài có thể giúp ích được, với điều kiệnlà sự giúp đỡ đó phải được thực hiện thật đúng. Vai trò của những người thânchung quanh thật quan trọng, những người đang hiện diện bên cạnh người hấp hốiphải ân cần và tránh cho người hấp hối mọi dao động, nói lên với họ những lời thậtthích nghi. Tuy nhiên những gì tối cần thiết là người bên cạnh họ phải tràn đầylòng nhân từ và tình thương đối với họ, bởi vì người hấp hối sẽ cảm nhận được điềuđó. Nếu như người giúp đỡ thành thực, thì sự giúp đỡ sẽ hữu ích.

- Một thính giả: Người bên cạnh có thể trấn an người hấp hối, nói với họ là trước đây họ đã từngcó một cuộc sống trọn vẹn. Tuy nhiên tôi tự hỏi có nên nhắc nhở họ một cách thẳngthắn và không có ý kết án họ, những lỗi lầm trong những hành động tiêu cực củahọ trước đây hay không ? Sự hối hận có phải là một thể dạng thuận lợi hay không?

- Rimpoché: Trong hoàn cảnh bìnhthường thì tất nhiên là có lợi, cảm thấy sự hối tiếc vì một hành động tiêu cựclà một thể dạng tâm thức tích cực. Tuy nhiên trong trường hợp được đề cập lạilà một trường hợp quá sức đặc biệt, nó liên quan đến giây phút đang xảy ra cáichết. Thông thường rất khó cho một người hấp hối cảm thấy ân hận về những lỗi lầmcủa mình và chuyển sự ân hận ấy thành một thể dạng tâm thức ích lợi. Nhắc nhở ngườihấp hối những chuyện sai lầm của họ có thể phạm vào nguy cơ mang lại một tâm thứctiêu cực cho người sắp ra đi. Ngược lại, một người nào đó từng phạm nhiều hànhđộng tiêu cực vô cùng tệ hại trong cuộc sống của mình, nhưng vẫn có thể vụt thayđổi hẳn và làm được những việc thiện. Nếu trước đây người giúp đỡ có quen biết đôichút với người hấp hối thì hãy cố nhớ lại xem người này đã từng làm được nhữnggì tốt lành để thuật lại với họ, dù đó chỉ là những việc nhỏ nhoi đi nữa.

- Một thính giả: Có phải dòng tiếp nối liên tục đồng nghĩa với tri thức hay không... ?

- Rimpochésự tiếp nối liên tục tâm thầncontinuum mental) và tri thứcconscience - consciousness), riêng tri thức cũng có một sự tiếp nốiliên tục của nó. Tri thức mang bản thể tâm thần, do đó có thể hình dung nó nhưlà một sự tiếp nối liên tục và trong trường hợp này thì lại gọi đấy là sự tiếpnối liên tục của tri thức. Có một phần trùng hợp giữa hai thứ, tuy nhiên hai thứkhông hoàn toàn giống nhau. Để trả lời cho phần câu hỏi là dòng tiếp nối liên tụctâm thần và tri thức có phải là những hiện tượng cá biệt riêng cho mỗi cá thểhay không, câu trả lời là đúng như thế ! : Nhất định là có một sự liên hệ giữa cái mà người ta gọi là ( (

- Một thính giả: Riêng đối với tôi thì tôi có thể bịa ra mọi chuyện chẳng hạn như tưởng tượngra mọi sự tốt đẹp để hướng vào tất cả chúng sinh, ước mong tất cả chúng sinh đềuthoát khỏi khổ đau và các nguyên nhân mang lại khổ đau. Nhất định là phải ngungốc lắm mới có thể tin vào đấy để ra đi trong những điều kiện thuận lợi, đạtđược một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai. Vậy làm thế nào để biết được nhữngước vọng ấy là đích thực ?

- Rimpoché: Bạn hoàn toàn có lý, chính vì thế nên phải tập cho quen dần với một số tư duynào đó. Tuy nhiên không nên hiểu đấy là một thứ phản ứng có mục đích lập đi lậplại một câu nói hay một công thức rỗng tuếch, mà đúng hơn là phải tự đặt mìnhtrong một thể dạng tâm thức thành thực và tự nhiên mà mình đã quen thuộc. Nếuchỉ biết lập đi lập lại như một câu kinh cầu nguyện hay làm phát hiện những tưduy giả tạo thì sẽ chẳng mang lại một kết quả nào cả. Chính vì thế mà phải luyệntập lâu dài từ trước. Phải tập luyện như thế nào để làm hiển hiện trong ta nhữngphẩm tính thật sự chẳng hạn như tình thương và lòng từ bi.

- Một thính giả: Vào ngày hôm trước thì tôi cảm thấy phát lộ trong lòng một chút từ bi, một ýtốt nào đó, sang ngày hôm sau bỗng nhiên, đùng một cái.... Thế thì phải làm saođể có thể thẩm định được sự tiến bộ ?

- Rimpoché: Bạn hoàn toàn có lý. Bất cứ ai không cần tập luyện gì cả vẫn có thể một hôm nàođó vụt phát lộ được lòng từ bi, nhưng sang hôm sau thì lại rơi vào một thể dạngtâm thức hoàn toàn khác hẳn. Đó là dấu hiệu cho thấy ta chưa hoàn toàn quen thuộcvới loại tâm thức lợi ích, chưa hội đủ được sự bền vững và kiên trì. Trên một bình diện khác thì sự tập luyện để cải thiệnchính mình thuộc vào lãnh vực tâm linh, vì thế phải cần đến một số phương phápthích nghi, do đó khó mà tự mình có thể khám phá ra được. Vì vậy phải cần nhờ đếnmột người nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn. Tuy nhiên nếu chỉ biết nghe theo những lờichỉ dẫn thì quả thật không đủ, phải đem chúng ra để áp dụng, để suy tư cho đếnkhi nào tất cả đều hiển hiện ra một cách tự nhiên.

- Một thính giả: [...không nghe rõ...]

- Rimpochémột: Nhất định là như thế, cùng một câu hỏi nhưng có thể hình dung dưới nhiều khíacạnh khác nhau. Theo quan điểm của Phật giáo thì dòng tiếp nối liên tục tâm thầnchính là tri thức (conscience - consciousness) khi hình dung nó liên hệ với chuỗidài lôi kéo của những khoảnh khắc nối tiếp nhau, không hơn không kém. Tuy nhiênkhông thể đồng hóa một cá thể (individu - individual) với dòng tiếp nối liên tụctâm thần (continuum mental), mà đúng hơn là một cá thể được tạo dựng bởi dòngtiếp nối liên tục tâm thần. Cá thể ấy hiện hữu dựa vào nền tảng của dòng tiếp nốiliên tục tâm thần, nhưng không phải hai thứ (cá thể và dòng tiếp nối liên tục tâmthần) kết hợp với nhau để trở thành ra thứ.

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Trước hết cũng phải công nhận là không phải ai cũng chết trong sự đau khổ. Cónhững người nhắm mắt hoàn toàn trong sự an bình, không hề cảm nhận một chút khổđau nào. Đó là trường hợp của những người biết suy tư và hiểu cái chết là gì, họý thức được cái chết là một quá trình tự nhiên, một sự chuyển tiếp như bất cứ mọisự chuyển tiếp nào khác, từ một cơ sở vật chất này sang một cơ sở vật chất khác.Họ cũng hiểu rằng những gì mà họ đã chuẩn bị từ trước sẽ giúp cho họ tiếp tụcbước theo con đường mà họ đã chọn, mọi sự sẽ xảy ra một cách tốt đẹp. Họ khôngcó một lý do nào để đau khổ khi hấp hối.

Trong trường hợp một người sắp lìa đờivà phải chịu đựng sự đau đớn thể xác quá mức thì hai trường hợp có thể xảy ra. Nếumột người đã tu tập tinh thông, thường xuyên thiền định và đã chuẩn bị sẵn thểdạng tâm thức mà mình muốn có khi hấp hối, thì trong trường hợp đó không nên dùngcác loại thuốc (chống đau đớn, như morphine...) có thể làm phương hại đến việcthiền định của họ, tốt hơn cứ để cho họ trực tiếp chống chỏi với sự đau đớn thểxác vì đấy cũng là một cách tập luyện nội tâm.

Ngược lại, nếu là một người không đượcchuẩn bị từ trước để đối diện với cái chết gần kề và không biết phải làm sao đểtạo ra cho mình một thể dạng tâm thức lợi ích trong lúc quá sức đau đớn, thì trongtrường hợp đó nếu có cho họ dùng thuốc để giảm bớt đau đớn thì cũng không làmcho tình thế thay đổi bao nhiêu. Vì thế cứ tìm cách giúp cho người ấy tránh khỏisự đau đớn quá mức.

Trở lại trường hợp của một người tutập tinh thông đã hoàn toàn kiểm soát được tâm thức của mình, thì sự đau đớn thểxác quá mức không hẳn là một trở ngại. Nhờ vào sự tu tập tâm linh từ trước, ngườinày sẽ biết nhìn vào những đau đớn mà mình đang chịu đựng để nghĩ đến người kháccũng phải chịu như thế và từ đó phát động lòng từ bi cầu mong cho sự đau đớn củachính mình sẽ hóa giải được hết sự đau đớn của người khác. Trong trường hợp nhậnchịu sự đau đớn như thế sẽ phát huy được những thể dạng tâm thức vô cùng lợi ích.

Xin một câu hỏi chót trước khi chiatay ?

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Chu kỳ về sự sinh và cái chết mà chúng ta vừa đề cập lệ thuộc vào nghiệp củachúng ta và nhất là các yếu tố bấn loạn, các thứ dục vọng và khiếm khuyết củachúng ta. Đúng thế, có thể làm cho chu kỳ ấy chấm dứt được và người ta gọi sựchấm dứt ấy là sự giải thoát khỏi thế giới ta-bà (6) : tức là không còn phải nhậnchịu sự tái sinh và cái chết ngoài ý muốn của mình.

Hãy lấy thí dụ trường hợp của mộtngười đã được giải thoát khỏi ta-bà. Tuy đã được giải thoát nhưng người này vẫntiếp tục hiện hữu, sự khác biệt là người này có thể chọn lựa sự tái sinh mới trong những điều kiện mới đúngvới ý muốn của mình. Tuy nhiên người ấy cũng có thể chấm dứt chuỗi dài tái sinhđể nhập vào một thứ gì khác và đấy cũng hoàn toàn do sự quyết định của người ấy.Tóm lại người ấy có thể tiếp tục sinh ra và chết đi nhưng không phải vì bắt buộcvà cũng sẽ không hề gánh chịu khổ đau.

Phương pháp mà Đức Phật Thích-ca Mâu-niđưa ra giúp giải thoát khỏi mọi khổ đau trong thế giới ta-bà là trước hết phải nhậnbiết những thứ gì đang trói buộc ta trong cái thế giới ấy, những thứ ấy là cộirễ của ta-bà. Sau khi đã hoàn toàn nhận biết được các mối dây buộc ta vào thếgiới ta-bà thì sau đó ta mới có thể xác định được các phương pháp hữu hiệu để loạibỏ chúng. Kết quả nghiên cứu của Phậtgiáo cho biết những gì buộc ta vào thế giới ta-bà chính là sự nắm bắt cái tôi.Phương cách đơn giản để hóa giải sự nắm bắt ấy là sự vắng mặt của một cái tôi(Tánh không). Đạt được sự hiểu biết đó tức là một sự hiểu biết gọi là trí tuệ, làcách giúp cho ta thoát ra khỏi chu kỳ lệ thuộc vào vô số điều kiện tức là cáichu kỳ mang lại khổ đau.

- Một thính giả: Có một cấp bậc cao hơn gọi là niết-bàn [...không nghe rõ...]

- Rimpoché: Niết-bàn (Nirvana) là một tiếng Phạn. Đó là một thuật ngữ gồm có hai cách hiểukhác nhau. Cách hiểu thứ nhất là chữ niết-bàn chỉ đơn giản có nghĩa là "giảithoát khỏi ta-bà", tức đạt được một cấp bậc nào đó cao hơn nhưng chưa phảilà tối hậu, dù sao thì ý nghĩa này không phải là ý nghĩa chính yếu của chữ niết-bàn.Cách hiểu thứ hai là niết-bàn hàm chứa một tính cách tối thượng có nghĩa là tươngđương với thể dạng của Phật.

- Một thính giả: Trên bình diện một con người như trường hợp của tôi đây thì sự bám víu vàogia đình, vào bạn hữu có vẻ hàm chứa một khía cạnh tích cực. Nhưng khi nghe nhữngngười Phật giáo nói chuyện thì tôi hiểu sự bám víu mang tính cách tiêu cực.

- Rimpoché: Thật ra đấy chỉ đơn giản là một vấn đề thuộc lãnh vực ngôn từ. Đối với Phậtgiáo thì "bám víu" có nghĩa là biểu lộ sự quan tâm đến người khác, nhưnglại không nhất thiết có nghĩa là âu lo cho hạnh phúc của người khác, chính thựcthì đấy chỉ có mục đích tìm kiếm quyền lợi cho riêng mình xuyên qua những ngườikhác. Thái độ đó được xem như mang tính cách thật ích kỷ và tiêu cực. Ngược lạinếu sự bám víu thực sự hướng lòng yêu thương, sự trìu mến, sự thân thiện vào ngườikhác, thì đấy là một thái độ không có gì tích cực hơn.

Chúng ta có dịp hội họp đông đảo nhưhôm nay để cùng nhau tìm hiểu thể dạng tâm thức tích cực. Chúng ta bàn thảo vớinhau để cùng suy tư trong mục đích đào sâu thêm một số khái niệm. Điều đó giúpchúng ta thực hiện được một chút gì tốt đẹp. Thuật ngữ Phật giáo gọi đấy là sựtích lũy những nghiệp lành. Chúng ta đây đều mang thân xác của con người, hàmchứa đủ loại cảm nhận, từ hạnh phúc cho đến bất hạnh. Nếu chúng ta tiếp tục cốgắng suy tư để tìm cách nắm bắt được cội nguồn của mọi sự vật, thì chúng ta sẽthấy rằng những cảm nhận của chúng ta lệ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài chúngta, nhưng thật ra thì từ nguyên thủy chúng bắt nguồn từ những gì xảy ra bêntrong tâm thức của chính mình. Vì thế dù chúng ta là người Phật giáo hay khôngphải Phật giáo, dù có chấp nhận hiện tượng tái sinh hay không thì tất cả chúngta cũng đều là những chúng sinh có giác cảm, hàm chứa một tâm thức, biết cảm nhậnkhổ đau và hạnh phúc, luôn ước vọng được khoẻ mạnh và tạo ra những tác động thuậnlợi đối với người khác. Phương pháp để giúp thực hiện những điều đó có lẽ là sựtập luyện để cải thiện lấy chính chúng ta, bất kể mục đích tối hậu của sự luyệntập ấy là gì, chỉ cần biết là nó có thể giúp chúng ta đạt được một cách nhanhchóng một số lợi ích nào đó cho chúng ta và cho người khác.

Tôi chỉ biết khuyên quý vị hãy cố gắngthêm một chút theo chiều hướng trên đây. Sự kiện quý vị đến dự buổi nói chuyện hômnay cho thấy quý vị có thể đã quan tâm một chút nào đó đến nền văn hóa Tây tạng.Đối với những người Tây tạng đang hiện diện hôm nay, tôi xin được nhân danh họ vớitư cách là những người đồng hương và cùng với tất cả những ngưởi đồng hương củatôi trong gian phòng này, chúng tôi cùng nhau xin nhân danh tất cả những ngườiTây tạng trên quê hương chúng tôi để xin được cám ơn quý vị.

Nếu chúng ta cùng nhau được hưởng mộtbuổi tối an bình, với mọi tiện nghi như thế này, ấy là nhờ một số người trongchúng ta đã đứng ra tổ chức. Tôi không nhìn thấy họ trong gian phòng này, nhưngtôi vẫn xin được cám ơn họ.

Bởi vì chúng ta cùng nhau trải qua mộtbuổi tối trong sự cố gắng chung, do đó chúng ta cũng tích lũy được một chútnghiệp tích cực. Để giúp cho những nghiệp tích cực đó được vững chắc và cường lựchơn, chúng ta hãy mang chúng ra để hồi hướng. Vậy hồi hướng có nghĩa là gì ? Đấy là cách biến những gì tốt đẹp mà chúng ta đãthực hiện được trở thành kết quả. Vậy chúng ta hồi hướng cho ai tất cả những điềuxứng đáng mà chúng ta vừa thực hiện được tối hôm nay ? Chúng ta thật đông, vậyhãy lợi dụng ngay lợi điểm đó : ấy là sự đoàn kết sẽ tạo ra sức mạnh. Chúng tanhận thấy hầu hết chúng sinh đang gặp phải khó khăn, đấy chỉ vì họ đang bị nhữngthể dạng tâm thức kém tốt đẹp chi phối. Chúng ta hãy hồi hướng tất cả nhữngnghiệp tích cực của chúng ta cho tất cả chúng sinh không phân biệt một chúngsinh nào, để giúp họ làm bớt đi mọi cảm nhận sai lầm và những suy tư tiêu cực,và để cầu mong cho tất cả chúng sinh phát huy được những thể dạng tâm thức vànhững sự cảm nhận đúng đắn và tốt đẹp.

Vì lẽ người ta gán cho tôi cái tướchiệu lạt-ma cho nên tôi đành phải xin phép quý vị mang cái tước hiệu đó ra đểnguyện cầu và ước vọng cho từng quý vị hôm nay tất cả đều thực hiện được bất cứhoài bão nào hay ước vọng nào của quý vị. Về phần quý vị cũng thế nếu muốn thựchiện được ước vọng của mình thì cũng phải cố gắng, bởi vì nếu tôi có cầu nguyệncho quý vị nhiều cách mấy đi nữa mà quý vị không động đậy gì cả thì cũng không manglại một hiệu quả nào...

Vài lời góp ý của người dịch :

Bàithuyết giảng trên đây mang tính cách khá đại chúng, thính giả gồm những ngườiPhật giáo và không Phật giáo. Vì thế những gì ngài Dagpo Rimpoché thuyết giảngmang tính cách rất thực tế giúp người hấp hối phản ứng một cách thuận lợi và đồngthời cũng giúp cải thiện được cuộc sống thường nhật của mỗi người chúng ta.

Mộttrong những đặc tính đặc thù của Phật giáo Tậy tạng là tính cách thực tế và tíchcực, đi thẳng vào áp dụng. Đối với Phật giáo Tây tạng tu tập phải đi đôi với cứucánh tức là phải mang lại kết quả. Từ bi phải mang lại trí tuệ. Nếu không có kếtquả và không thấy trí tuệ ở đâu cả thì sự tu tập cũng chỉ vô ích mà thôi.

Cácnhà sư Tây tạng cao thâm thường xuyên thiền định về cái chết, hội nhập vào quátrình diễn biến của cái chết. Đức Đạt-lai Lạt-ma cho biết là Ngài thiền định vềquá trình của cái chết từ 6 đến 7 lần mỗi ngày và Ngài tuyên bố thật khiêm tốn làtrên nguyên tắc thì Ngài đã thuộc lòng những gì sẽ xảy ra sau khi chết, nhưng đến lúc đó thì mới biết được là Ngài có chủ độngđược hay không.

Khicái chết xảy ra thì tứ đại tuần tự thoái hóa, tâm thức cũng thoái hóa, dòng tiếpnối liên tục tâm thần khi loại bỏ được các cấu hợp thô thiển trên đây cũng dầndần trở nên tinh khiết hơn và đạt được thể dạng gọi là "ánh sáng trong suốtcủa cái chết" trước khi quay trở lại trạng thái thô thiển của sự tái sinh haythụ thai, tức là giai đoạn hình thành. Người tu tập cao thâm có thể dừng lạitrong thể dạng ánh sáng trong suốtvàkhông tái sinh nữa, hoặc quyết định tái sinh nhưng sẽ tái sinh trong những điềukiện vô cùng thuận lợi để có thể giúp đỡ người khác.

Bàithuyết giảng của ngài Dagpo Rimpoché chỉ nêu lên giai đoạn khởi đầu của quá trìnhcái chết và khuyên chúng ta phải chuẩn bị như thế nào để tái sinh trong một kiếpsống thuận lợi. Thật vậy nếu tái sinh trong một môi trường mà chung quanh khôngai biết đến Đạo Pháp là gì thì sẽ khó cho ta tiếp tục tu tập trong kiếp sau. Vìthế ngoài những điều chỉ dạy của ngài Dagpo Rimpoché chúng ta cũng nên hằng nhắcnhở với mình ước vọng sẽ được tái sinh trong một môi trường có thể giúp cho mìnhbiết được Đạo Pháp để tiếp tục tu nữa, vì chắc chắn là còn lâu lắm ánh sáng củatrí tuệ mới hé lộ ra trong tâm thức đầy dục vọng, hận thù và bấn loạn của chúngta.

(ĐứcĐạt-lai Lạt-ma có thuyết giảng về vấn đề này và các lời giảng của Ngài đã đượcin thành sách. Ấn bản tiếng Anh: Advice on Dying, and Living a betterlife,Vaincre la mort et vivreune vie meilleure, nhà xuất bản Plon, 2003. Hoang Phong chuyển ngữ dưới tựađề : Chủ động cái chết để tái sinh trongmột kiếp sống tốt đẹp hơn, hiện được lưu trữ tại các trang web Thư Viện HoaSen, Quảng Đức, v.v...) nhà xuất bản Atria Books, 2002. Ấnbản tiếng Pháp :

Ghi chú :

1-Tức là ngũ uẩn, gồm có: hình tướng,giác cảm, sự nhận biết, sự diễn đạt và tri thức, tức là những gì tạo ra thân xácvà tâm thức của một cá thể.

2-Sáu cơ sở hiểu biết là : thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác vàtri thức.

3-Bốn thành phần là : đất, nước, lửa và khí.

4-Chữ nghiệp "karma" bao gồmnhiều nghĩa, các nghĩa chính là :

a)"yếu tố" hay "tác nhân" tâm thần đảm trách sự linh động củatri thức hướng vào một vật thể.

b)"một vết hằn" hay một "tiềm năng" hay "một "xu hướng"tàng ẩn trong tâm thức.

5-Nếu một người biết tập luyện và phát huy một tâm thức an bình và lợi ích thì rấtcó thể họ sẽ không bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên trên phương diện y học cũng phảichấp nhận là các loại bệnh tâm thần có nhiều nguyên nhân khác nhau và theo quanđiểm Phật giáo thì các nguyên nhân ấy là do nghiệp mà ra. Phát huy một tâm thứcan bình và lợi ích cũng có thể là một cách trực tiếp hóa giải các nguyên nhân ấy.

6-Ta-bà có nghĩa là phải sinh ra và phải chết đi ngoài ý muốn của mình, lệ thuộcvà chi phối bởi tác động của nghiệp và các yếu tố bấn loạn của tâm thức. Yếu tốbấn loạn chính yếu và quan trọng hơn hết là vô minh (sự hiểu biết sai lầm).

Bures-Sur-Yvette, 20.10.10

Hoang Phong

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/201408:27(Xem: 6937)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
18/08/201407:36(Xem: 19729)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
12/03/201407:34(Xem: 8975)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/03/201411:24(Xem: 9400)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
17/10/201307:24(Xem: 16343)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
20/02/201407:38(Xem: 7515)
Chiều hôm nay, tôi đang ở trong cốc thì Thầy Viện Trưởng đến, Thầy gọi tôi và đưa cho tôi quyển sách này, Thầy nói: "Thầy thấy Từ Đức thích dịch sách của ngài Đạt Lai Lạt Ma nên Thầy mua quyển sách này, con đọc rồi dịch, khi nào xong thì đưa cho Thầy!" Tôi thích quá, thật khó tả. Tôi chỉ mĩm cười, khẻ nói "Dạ" và cầm lấy quyển sách. Thế là ngay hôm ấy tôi liền bắt tay vào dịch những dòng đầu tiên của quyển sách để lấy ngày, 20 – 11 – 2010.
25/08/201718:43(Xem: 2593)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
03/03/201809:16(Xem: 1780)
CHÁNH PHÁP Số 76, tháng 03.2018 Hình bìa của Google Images NỘI DUNG SỐ NÀY: ¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ VU VƠ, CAFÉ PALOMA (thơ Nguyễn Bá Trạc), trang 8 ¨ NỘI DUNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ ĐIỂM HẸN, MƯỢN TỪ ĐÂU (thơ NT Khánh Minh), trang 12 ¨ CŨNG LẠI LÀ TIM SEN (ĐNT Tín Nghĩa), trang 13 ¨ XUÂN ĐẠO, HƯƠNG XUÂN (thơ Chúc Hiền), trang 15 ¨ THƯ MỜI THAM DỰ LỄ HÚY NHẬT ĐLHT. THÍCH TRÍ CHƠN (TT. Thích Hải Chánh), trang 16 ¨ TÂM THƯ VẬN ĐỘNG MUA CƠ SỞ MỚI LÀM CHÙA BÁT NHà (HT. Thích Nguyên Trí) 17 ¨ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (Tuệ Uyển dịch), trang 18 ¨ MÙA XUÂN & CỎ HOA (thơ Mặc Phương Tử), trang 21 ¨ Ở ĐỜI VUI ĐẠO (Nguyễn Thế Đăng), trang 22 ¨ ĐÊM NGHE CHUÔNG VỌNG (thơ Huệ Trân), trang 23 ¨ MÙA XUÂN, THI CA VÀ THIỀN ĐẠO (Sakya Minh Quang), trang 24 ¨ TA ÚP MẶT (thơ Quách Thoại), trang 27 ¨ FRANCIS STORY (1910 – 1971) (H
03/06/201813:32(Xem: 1029)
CHÁNH PHÁP Số 79, tháng 06.2018 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3  THÁNG SÁU EM VỀ HẠ CHỨA CHAN (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 7  CÚNG DƯỜNG CHÁNH PHÁP (Sa môn Thích Tín Nghĩa), trang 8
14/12/201306:50(Xem: 13855)
Năm 2006, khi tôi viết thư xin phép Thiền sư Bhante H. Gunaratana để dịch quyển tự truyện cuộc đời ngài, Hành Trình Đến Chánh Niệm (Journey To Mindfulness), Thiền sư không những đã từ bi hoan hỷ cho phép, mà còn giới thiệu về quyển sách mới của ngài, Eight Mindful Steps To Happiness. Do duyên lành đó hôm nay bản dịch của quyển sách trên được đến tay độc giả với tựa Bát Chánh Đạo: Con Đường Đến Hạnh Phúc.