Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

13. Lạm Bàn Về Khái Niệm "Khổ Đau" Trong Phật Giáo

29/12/201112:00(Xem: 1239)
13. Lạm Bàn Về Khái Niệm "Khổ Đau" Trong Phật Giáo
PHẬT GIÁO
TRONG THẾ GIỚI TÂN TIẾN NGÀY NAY
Hoang Phong biên soạn và chuyển ngữ
(ấn bản thứ hai)

LẠM BÀN VỀ KHÁI NIỆM «KHỔ ĐAU»TRONG PHẬT GIÁO
Hoang Phong


Nhiều thuậtngữ trong Đạo Pháp mang tính cách thật căn bản chẳng hạn như Giác ngộ hay sựQuán thấy sáng suốt(Bodhi),Vô thường(Anitya), sự Tương liêngiữamọi hiện tượng hay Lý duyên khởi(Pratityamutpada), v.v... Trong số này cómột thuật ngữ khá quan trọng là Khổ đau(Duhkha), tuy nhiên thuật ngữ này tươngđối ít được tìm hiểu cặn kẽ, có lẽ vì khổ đau là những gì quá hiển nhiên ai cũngbiết. Thật vậy tất cả chúng sinh đều gặp khó khăn nhiều hay ít không có một ngoạilệ nào cả.

Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng Phậtgiáo không phải là một tín ngưỡng yếm thế hay tiêu cực, trái lại luôn tin tưởngvào khả năng tích cực của con người và nhất thiết chủ trương mang lại cho conngười sự kết hợp hài hòa giữa hiểu biết và tình thương, giữa suy tư và lòng tintưởng. Sự sống tự nó không phải là một sự bất ổn, chính các thể dạng tâm thức củachúng ta làm phát sinh ra khổ đau hay an vui trong cuộc sống của chính mình. Nhưvậy thì chúng ta phải hiểu như thế nào về từ "Khổ đau" hay "Duhkha"trong giáo lý nhà Phật?

Nguồngốc và từ nguyên của chữ "duhkha"

Duhkha là một từ tiếng Phạn gồm hai từghép lại là : duh kha. Khacó nghĩa là cái lỗ tròn ở giữa bánh xe dùng để đưa cái trục xe vào đó. Duh có nghĩa là "bất ổn", "bấtan", "rối loạn" (mal-aise, ill-being, faintness, dis-comfort...). Chữ "dys"trong cổ ngữ Hy lạp phát xuất từ tiếng Phạn duhvà mang cùng ý nghĩa trên đây. Người ta thường thấy trong các ngôn ngữ Tây phươngnhững từ như : dys-fonctionnement, dys-function (sự vận hành rối loạn), dys-harmonie,dis-harmony (sự lệch lạc, bất hài hòa), v.v... Trong lãnh vực y khoa có một từchuyên môn về một bệnh lý gọi là "rốiloạn dys"(dyspraxie - dyspraxia) thường thấy nơitrẻ em. Một số trẻ em gặp nhiều khó khăn và rối loạn trong việc học hành thí dụnhư đánh vần khó khăn, viết chữ lộn ngược, không làm tính được. Bậc cha mẹ haythầy cô không hiểu đấy là căn bệnh rối loạn của chúng nên la rầy, đánh đập chúngvà như thế càng đẩy chúng vào tình trạng rối loạn hơn, tạo ra mặc cảm, lo âu, sợsệt mang lại những khổ đau vô cùng lớn lao cho chúng.

Chữ duh trong duhkhaám chỉ mộtcái lỗ bánh xe bị lệch, méo mó, không đều đặn. Khi lắp bánh xe vào trục thì bánhxe sẽ bị lệch, quay không đều, khập khiễng, toàn bộ chiếc xe khi chạy sẽ lắc lưvà không đi xa được. Đấy là hình ảnh tượng trưng cho khổ đau và sự vận hành khôngsuông sẻ của nhân loại. Tất cả mọi sự vật và biến cố trong thế gian này khôngđược "lắp ráp" một cách khít khao và ăn khớp với nhau đúng với nhữnggì chúng ta hằng mong muốn, thế nhưng dục vọng lại muốn mọi sự phải suông sẻ,trơn tru, trường tồn và bất biến. Chính vì thế mà sinh ra khổ đau.

Trong bài thuyết giảng đầu tiên tạiBa-la-nại Đức Phật đã nêu ra Bốn Sự ThậtCao quý(Tứ Diệu Đế), và trong Sự Thật thứ nhấtĐức Phật nêu lên khái niệm về khổ đau và vô thường, đấy lànhững gì làm nền tảng cho giáo lý. Dựa trên nền tảng đó Bốn Sự Thật liên kết chặtchẽ và mạch lạc với nhau giúp hình thành toàn bộ Đạo Pháp. Bốn sự thật ấy nhưsau :

1- Sự sống là khổ đau, bởi vì tất cảđều vô thường

2- Nguồn gốc của khổ đau phát sinh từdục vọng

3- Phương thuốc chữa chạy là đình chỉmọi dục vọng

3- Có một con đườngmang lại sự chấm dứt đó, đấy là con đườnggồm tám giới luật (Bátchánh đạo).

Bốn Sự Thật Cao quý được ghi chép bằngchữ viết khoảng hai trăm năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Sau đó thì các lời giảngấy liên tục được bình giải và khai triển thêm, mang ra áp dụng dưới muôn ngàn hìnhthức khác nhau và làm thay đổi bộ mặt của Á châu suốt hơn hai mươi thế kỷ, vàngày nay dường như cũng đang làm thay đổi cả xã hội phương Tây. Vì thế duhkhahay khổ đaumà Đức Phật nêu lên cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm vẫncòn là một Sự Thật đối với nhân loại. Vậy duhkhahay khổ đauthật sự là gì ?

Địnhnghĩa của khổ đau hay duhkha

Khổ đauhay duhkhalà " những gì khổ nhọc và bất toại nguyện mà con người phải chịu đựng"trong sự sống, trái ngược lại với "nhữngsự cảm nhận hài hòa và trọn vẹn". Có tám cảnh huống mang lại sự bất toạinguyện : 1) sự sinh, 2) già nua, 3) bệnh tật, 4) cái chết, 5) phải kết hợp vớinhững gì hay với những người mà mình không thích, 6) phải xa lìa những gì hay nhữngngười mà mình yêu quý, 7) không thực hiện được hạnh phúc mà mình ước mơ, 8) phảigánh chịu sự biến động của năm thứ cấu hợp hay ngũ uẩn. Ngũ uẩn gồm có một cấu hợp vật chất tạo ra thân xác và bốncấu hợp thuộc lãnh vực tâm thần, tất cả kết hợp với nhau tạo ra cá thể con người.

Tám thứ khổ đau trên đây được phân bố dưới ba thể dạng :

a) khổ đau thể xác và tinh thần (bất toại nguyện 1 đến 5)

b) khổ đau vì bản chất vô thường của mọi hiện tượng và biếncố (bất toại nguyện 6-7)

c) khổ đauliên hệ đến sự hiện hữu trói buộc trong điều kiện (bất toại nguyện 8)

*Thể dạng thứ nhất củakhổ đau gọi là duhkha duhkha("khổ đau của khổ đau") tượng trưngcho những thứ khổ đau đơn giản và thô thiển nhất, đấy là sự sinh, già nua, bệnhtật, cái chết, phải kết hợp với những gì mình không thích. Thể dạng khổ đau nàygồm luôn cả những khổ đau phát sinh từ sự cố gắng muốn vượt thoát các thứ khổ đautrên đây.

*Thể dạng thứ hai củakhổ đau gọi là viparinama duhkhata("khổ đau của sự đổi thay")có nghĩa là mọi hiện tượng cấu hợp đều phù du tức là vô thường, và chính sự vôthường đó mang lại khổ đau. Chúng ta lúc nào cũng muốn trẻ đẹp, luôn giữ được cáckhả năng tinh thần và thể xác, thế nhưng hiện tượng vô thường đã ăn sâu vào ngũ uẩnkhiến ta không thể nào bảo tồnđược mãi mãi những gì trên thân xác và trong tâm thức. Ta cố bám víu vào nhữnggì yêu quý, nhưng vô thường cuốn trôi tất cả. Sự cảm nhận về hiện tượng phù duđó gọi là khổ đau.

*Thể dạng thứ ba củakhổ đau là samskaraduhkhata("khổ đau của sự hình thành" còn gọilà "khổ đau thường xuyên")phát sinh từ năm thể dạng cấu hợp của sự bám víu do điều kiện mà có, tức là ngũ uẩn. Đó là sự bất toại nguyện sâu kínvề sự hiện hữu của ta trong thế giới ta bà. Những khổ đau đó phát sinh từ cảm tínhthiếu trọn vẹn và hoàn hảo về sự hiện hữu của mình và những sinh hoạt bất thànhđúng theo sự mong muốn của mình, đấy là những gì phản ảnh sự thiếu thỏa mãn sâukín của bản năng. Trong bài thuyết giảng đầu tiên và trong Sự Thật Cao quý thứnhất Đức Phật đã cho biết "năm thứ cấuhợp của sự bám víu là khổ đau" : bám víu vào thân xác, bám víu vào tưduy và xúc cảm hiển hiện lên trong tâm thức của mình.

Khổ đau là mộtbệnh lý

Những gì vừa trình bày trên đây chẳngqua cũng chỉ là diễn biến của bệnh trạng nơi con người. Y khoa tân tiến ngàynay khám phá ra một số các triệu chứng bệnh lý phát sinh từ thân xác và tâm thứcvà sử dụng một số phương pháp chữa chạy mang lại ít nhiều hiệu quả. Hơn hai ngàn năm trăm năm trước Đức Phật đãchẩn bệnh cho con người và mô tả những khổ đau mà con người thường xuyên phải gánhchịu trên thân xác và trong tâm thức. Ngài phân tích cho chúng ta thấy nguyênnhân sâu kín của đủ mọi thứ bệnh tật đang đày đọa con người và kê ra một toathuốc hóa giải tận cội rễ của tất cả các thứ khổ đau ấymà Ngài gọichung là duhkha. Thế nhưng không mấy ai trong chúng ta biết đem cái toathuốc ấy ra mà dùng.

Cái toa thuốc gồm có bốn thể dạng, từchẩn bịnh cho đến các vị thuốc kê khai. Thật ra cách trị bệnh ấy cũng khá tươngtợ với nền y học cổ truyền Ấn độ : 1- đấy là bệnh gì?, 2- bệnh ấy sinh ra từnguyên nhân nào?, 3- làm thế nào để ngăn chận được nguyên nhân ấy?, 4- phải chữachạy ra sao để làm cho nguyên nhân ấy chấm dứt? Phật giáo gọi cách chẩn bệnh vàtoa thuốc ấy là Tứ Diệu Đếvà các vịthuốc mà Đức Phật kê khai cho chúng ta là Bát Chánh Đạo.

"Đế thứ nhất" là sự chẩn bịnh : chúng sinh đang bị tám thứ ốm đauhoành hành từ thể xác đến tâm thần : "Nàycác tỳ kheo, đây là Sự Thật Cao quý về khổ đau : sinh là khổ đau, già là khổđau, bệnh tật là khổ đau, cái chết là khổ đau, bắt buộc phải kết hợp với nhữnggì mình không thích là khổ đau, xa lìa những gì mình yêu quý là khổ đau, khôngđạt được những gì mình thèm muốn là khổ đau, tóm lại năm thứ cấu hợp của sự bámvíu là khổ đau". (Theo bản dịch của W. Rahula trong quyển L'Enseignement du Bouddha, Seuil, 1961).

"Đế thứ hai" tìm hiểu nguyên nhân của bệnh lý :"Này các tỳ kheo, đây là Sự Thật Cao quý vềnguồn gốc của khổ đau. Đấy là sự thèm khát được tái sinh, được tiếp tục hìnhthành, sự thèm khát đó liên hệ mật thiết với sự đam mê quá đáng trong sự tìm kiếmnhững lạc thú của giác cảm, hết nơi này đến nơi khác, trong sự hiện hữu và sựhình thành, và cả trong thể dạng không-hiện-hữu", (cùng trích dẫn trênđây, id).

"Đế thứ ba" trình bày về phương thuốc giúp chấm dứt khổ đau. ĐứcPhật dùng các chữ "ngưng nghỉ"hay "đình chỉ" (nirodha) để chỉ thể dạng phi-hiển-hiệncủa mọi thứ dục vọng trên đườngtu tập, làm dịu xuống và lắng xuống những thể dạng phát sinh từ những điều kiệntrói buộc. Đức Phật gọi kết quả mang lại là niết-bàn(nirvana), có nghĩa là sự "tắt nghỉ " hay đơn giản là "hết bệnh" : "Này các tỳ kheo, đây là Sự Thật Cao quý về sựchấm dứt khổ đau. Đấy là sự đình chỉ hoàn toàn của sự thèm khát, buông bỏ nó, từbỏ nó, tự giải thoát ra khỏi nó, tách rời ra khỏi nó", (cùng trích dẫntrên đây, id).

"Đế thứ tư" là phần kê khai các "vị thuốc" diệt trừkhổ đau. Các "vị thuốc" ấy gồm có tám thứ và phải đồng loạt đem ra ápdụng : "Này các tỳ kheo, đây là SựThật Cao quý của sự diệt trừ khổ đau. Đấy là Con Đường Cao quý gồm có támnhánh, ấy là sự quán thấy đúng, tư duy đúng, ngôn từ đúng, hành động đúng,phương tiện sinh sống đúng, cố gắng đúng, chú tâm đúng, sự tĩnh tâm đúng",(cùng trích dẫn trên đây, id).

Tám nhánh của Bát Chánh Đạo được phânra làm ba nhóm :

1- Nhóm thứ nhấtthuộc về đạo đức hay giới luật (sila) gồm có :

a) ngôn từ đúng: không nói dối, không dèmpha, không nói những lời hung bạo, không nguyền rủa, không ba hoa vô ích.

b) hành động đúng: không sát sinh, khôngtrộm cắp, tôn trọng luân lý trong lãnh vực tính dục, giúp đỡ người khác biết sốngmột cách ngay thật.

c) phương tiện sinh sống đúng: không sinhsống bằng những nghề làm hại đến người khác và các chúng sinh khác (chẳng hạnnhư buôn bán khí giới, lường gạt, làm nghề đồ tể, chăn nuôi súc vật để giết thịt,phá rừng, v.v...), nói chung là phải biết tôn trọng sự sống và kính trọng tất cảchúng sinh.

2- Nhóm thứ haithuộc sự tĩnh tâm hay thiền định (samadhi) gồm có :

a) cố gắng đúng: ngăn chận các thói quen tâmthần kém đạo đức phát sinh trở lại, không để cho các thứ dục vọng độc hại mớiphát sinh và điều khiển mình, cố gắng tạo ra các thể dạng tâm thức lành mạnh vàtốt đẹp, phát huy thêm những thể dạng tâm thức tốt sẵn có.

b) chú tâm đúng: ý thức và chú tâm vào thânxác, giác cảm, sự sinh hoạt tâm thần, tư duy và các khái niệm.

c) tập trung tâm thức đúng: đây là lãnh vựcthiền định, chẳng hạn như sự tập trung tâm thức bằng hơi thở.

3- Nhóm thứ balà sự hiểu biết tối thượng hay bát nhã(prajna) gồm có :

a) tư duy đúng: tức là từ bỏhay là quên chính mình, không ích kỷ, yêu thương tất cả chúng sinh và bấtbạo động.

b) sự hiểu biết đúng: thấu triệt được TứDiệu Đế.

Lời kết

Trong phần trên đây có đề cập đến mộtthứ bệnh lý gọi là "bệnh rối loạndys" của trẻ em làm cho chúng không học hành được. Bậc cha mẹ, thầy côthường không hề giúp đỡ chúng còn la rầy và đánh đập khiến chúng thêm khổ sở vàmặc cảm. Bậc cha mẹ và thầy cô phải nhìn thấy nguyên nhân mang lại những rối loạnđó của chúng để thương yêu và giúp đỡ chúng. Về phần chúng ta, không có ai la rầyhay đánh đập vì những sai lầm và những thể dạng bệnh hoạn như nóng giận, ăn nóivà hành động điên rồ chi phối chúng ta, họa chăng đôi khi luật pháp cũng trừngphạt khi hậu quả do những thể dạng ấy mang lại trở nên quá nặng nề. Vì thế chúngta cũng nên ý thức và tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa nào mang lại khổ đaucho chính mình để loại bỏ chúng. Đức Phật kê sẵn cho chúng ta toa thuốc và cáchđiều trị, hãy đem ra mà dùng.

Khi có một người cầm gậy đánh ta, takhông oán trách cây gậy làm cho ta đau đớn, ta cũng không oán trách người cầm gậyđánh ta bởi vì người ấy cũng chỉ là nạn nhân của những bấn loạn đang điều khiểnhọ. Điều mà chúng ta oán trách là nguyên nhân mang lại những xúc cảm hung bạochi phối người cầm gậy. Vì thế bổn phận của chúng ta là mang cái toa thuốc màchúng ta đang sử dụng để cố gắng khuyên những người đang gánh chịu khổ đau, đangbị sự rối loạn chi phối nên theo đấy mà điều trị.

Bures-Sur-Yvette, 14.11.10

HoangPhong

CHUẨN BỊ NHƯ THẾ NÀO
CHO CÁI CHẾT CỦA MÌNH
Dagpo Rimpoché
(Hoang Phong chuyển ngữ)

DagpoRinpoche-02Lời giới thiệu của người dịch :

Khi vừa mới một tuổi thì Dagpo Rimpoché đã được Đức Đạt-Lai Lạt-Mathứ XIII xác nhận là vị hóa thân (toulku) của Ngài Mã-nhĩ-ba (Marpa, 1012-1097)một vị Đại sư của Tây tạng và là thầy của Đại sư Mật-lặc Nhật-ba (Milarepa, 1052-1135).Dagpo Rimpoché sinh năm 1932, vào chùa từ lúc sáu tuổi, học tại các tu viện đạihọc danh tiếng nhất ở Tây tạng, tốt nghiệp tiến sĩ Phật học. Ngài rời Tây Tạngvượt sang Ấn vào năm 1959 và sau đó thì lưu trú tại Pháp từ năm 1960. Hiện nayDagpo Rimpoché là một gương mặt lớn của Phật giáo Tây tạng tại Âu châu.

Bài chuyển ngữ dưới đây được trích từ một tài liệu ghi chép lạibuổi thuyết trình của ông ngày 19 tháng 9 năm 2003 tại một ngôi chùa Tây tạngtrên đất Pháp. Thông dịch viên : Marie-StelleBoussemart. Ghi chép : LaurenceHarié, Michel Langlois, Cathérine Baguet, Marie-Stella Boussemart.

Trong số quý vị đến đây hôm nay tôinhận ra một vài người đã đến nghe tôi thuyết giảng tại Genève cách đây khoảng haihay ba năm. Các vị khác thì có lẽ mới đến nghe lần đầu. Ngoài ra tôi cũng được gặplại vài người bạn cũ mà từ nhiều năm nay tôi chưa có dịp gặp lại. Thật vô cùngvui sướng cho tôi được tiếp xúc tối nay với từng vị một.

Thật là một niềm hân hoan khi đượctiếp xúc với quý vị. Tuy nhiên nếu tôi chỉ biết hân hoan khi gặp lại bạn cũ và đượcquen thêm bạn mới thì e rằng điều đó chưa tương xứng với tầm quan trọng của buổihội ngộ hôm nay. Tất nhiên là quý vị đã phải cố gắng rất nhiều để đến đây thamdự, như vậy để có thể bù đắp được phần nào cho sự cố gắng ấy thì tôi phải làm gìđây để mang lại một chút gì thiết thực mà quý vị có thể đem ra áp dụng vào đờisống thường nhật, hoặc biết đâu cũng có thể áp dụng được ngay tối nay.

Chúng ta sẽ bàn luận với nhau về mộtvài quan điểm. Tuy nhiên điều quan trọng hơn hết vẫn là niềm ước mong quý vị cóthể rút tỉa được từ cuộc bàn luận này một vài ứng dụng trong đời sống gia đình,trong sự giao tiếp với bè bạn, đồng nghiệp... Nếu những quan điểm mà chúng ta sắptrao đổi rồi đây sẽ có thể góp phần tích cực để cải thiện phần nào cuộc sống hằngngày giúp cho quý vị giao tiếp dễ dàng hơn với những người chung quanh thì thậtlà không có gì mong mỏi hơn.

Muốn thực hiện được những mong mỏinày thì chúng ta phải hội đủ một số điều kiện cần thiết nào đó. Tuy nhiên dùcho chúng ta có khả năng hội đủ được những điều kiện tất yếu ấy đi nữa thì trướchết và ngay trong lúc này quý vị và cả tôi phải tạo ra một "thể dạng tâm thức lợi ích". (état d'esprit bénéfique)

Vậy thì thế nào là một " thể dạng tâm thức lợi ích" ?Thể dạng tâm thức đó không nhất thiết phải được thực hiện trong khuôn khổ của mộttôn giáo hay một tín ngưỡng nào cả. Tuy nhiên nếu có thể hình dung được trong lãnhvực của một tín ngưỡng thì vẫn tốt hơn, mặc dầu cũng có thể đặt thể dạng tâm thứcđó vào một bối cảnh tổng quát và toàn cầu hơn. Trong trường hợp có thể giới hạnnó trong khuôn khổ của một tôn giáo thì một người Phật tử đương nhiên sẽ phải hiểurằng tạo ra một thể dạng tâm thức đúng như mong muốn có nghĩa là tạo ra một dòngtư duy thật minh bạch. Những người Phật giáo đang ngồi trong gian phòng này tấtnhiên sẽ hiểu tôi muốn nói đến điều gì. Các vị khác có thể là người Thiên Chúagiáo hoặc cũng có thể không theo một tôn giáo nào cả, nhưng dù trong bất cứ trườnghợp nào thì tất cả đều có thể tự tạo ra cho mình một thể dạng tâm thức lợi ích,tức là một tâm thức biết quan tâm đến hạnh phúc của mọi người và của cả ta nữa.Chúng ta tự nhủ rằng : "Trong lúc này đây tôi đang được hưởng mọi sự an lành,vì thế trong lúc mà những điều kiện tốt đẹp đang hội đủ thì tôi cũng muốn nhânđấy mà làm được một điều gì ích lợi cho thật nhiều người và cả cho tôi". Mộtngười Phật giáo sẽ phải nghĩ rằng : "Tôi vẫn hằng ước mơ giúp đỡ người khácmột cách thiết thực vì thế mà tối hôm nay tôi cố gắng đến đây nghe giảng để biếtđâu nhờ đó mà tôi sẽ thực hiện được những gì tôi ước mơ". Suy nghĩ như thếtức là biết tự đặt mình vào một thể dạng tâm thức lợi ích. Thể dạng tâm thức ấysẽ mang lại những thành quả cụ thể và hết sức lớn lao cho quý vị.

Vậy thì mỗi người trong chúng ta trướchết nên tạo ra cho riêng mình một thể dạng tâm thức lợi ích. Sau đó thì chúngta sẽ cố gắng tìm hiểu nhau, vì nếu tôi chỉ biết nhắm mắt thuyết giảng những điềutối mịt rồi chẳng ai hiểu gì cả thì thật là hoài công cho quý vị và cho cả tôi.Vì thế chúng ta nên thảo luận với nhau như thế nào để mỗi vị đều có thể hiểu đượcmột cách minh bạch từng điểm một, vì sẽ thật đáng tiếc là nếu ngày mai đây khi quývị gặp bạn bè và nói với họ rằng : "Tôi hôm qua tôi có đi dự một buổi diễnthuyết, người ta giới thiệu diễn giả là một vị lạt-ma Tây tạng, nhưng thật ra thìsuốt một tiếng hay một tiếng rưỡi đồng hồ ông ta nói cho có nói vậy thôi. Xin đừnghỏi tôi rằng ông ấy nói gì vì tôi chẳng nhớ gì hết. Chỉ toàn là những chuyện mơhồ chẳng có ai hiểu gì cả". Nếu đúng như thế thì quý vị đã đánh mất thì giờmột cách vô ích.

Tôi xin đề nghị ngay với quý vị các phươngpháp giúp chúng có thể bàn thảo với nhau một cách hiệu quả. Trước hết chúng tanên tìm cách tránh bớt những tình trạng bất lợi, chẳng hạn như tôi cứ nói, ngườithông dịch cứ dịch, quý vị thì cứ nghe, nhưng thật ra thì chẳng có gì lọt vàotai quý vị. Như thế thật đáng tiếc, và để khỏi rơi vào tình trạng đó, trước hếttôi sẽ trình bày một số quan điểm và sau đó thì xin quý vị cứ mạnh dạn phát biểuvà nêu lên các thắc mắc. Nếu đủ sức trả lời thì tôi sẽ rất vui mà trả lời ngay.Nếu các thắc mắc của quý vị vượt quá tầm hiểu biết của tôi thì tôi cũng sẽ xinthành thật thú nhận. Ngoài ra hôm nay cũng thật may mắn cho chúng ta là có mộtvài người Tây tạng cùng tham dự trong gian phòng này nếu cần thì tôi cũng có thểnhờ họ giúp được.

Ngoài ra tôi cũng muốn nói rõ thêm lànếu như quý vị không có câu hỏi nào để đặt ra thì tôi cũng sẽ có nhiều câu hỏiđể nêu lên với quý vị đấy.

Vậy thì chúng ta hãy đi thẳng vào vấnđề : ta phải chuẩn bị cho cái chết củachính mình như thế nào?Thật ra thì chuẩn bị cho cái chết lại có nghĩa là phảitập sống thế nào để tạo ra cho kiếp nhân sinh này được tốt đẹp hơn và để kiếp sausẽ tái sinh trong những hoàn cảnh hạnh phúc hơn. Thiết nghĩ rằng nếu muốn trìnhbày thỏa đáng một chủ đề bao quát như thế thì bắt buộc chúng ta phải tìm hiểu cặnkẽ toàn bộ những lời giảng huấn của Đức Phật. Vì thế trong phạm vi một buổi nóichuyện như hôm nay chúng ta đành phải tóm lược và đơn giản vấn đề đi rất nhiều.

Nếu vậy thì chúng ta hãy đặt lại câuhỏi ngắn gọn hơn : tại sao người ta lạichết ? Câu trả lời thật là đơn giản : chỉvì người ta đã được sinh ra, chỉ có thế thôi. Nói một cách khác và bằng nhữngthuật ngữ khác thì sẽ là : chúng sẽ phảichết bởi vì chúng ta là những hiện tượng cấu hợp, tạo ra từ sự kết hợp của nhiềuthành phần, sự kết hợp ấy liên hệ đến một số nguyên nhân và điều kiện nào đó. Trong từng giây phút một, các cấu hợp biếnđổi không ngừng, và các biến đổi ấy một lúc nào đó sẽ kết thúc bằng một hiện tượngmà người ta gọi là cái chết.

Cách nay khoảng 2700 năm, Đức PhậtThích-ca Mâu-ni đã giảng rằng bất cứ một hiện tượng cấu hợp nào cũng đều là vôthường. Đức Phật đã khám phá ra quy luật đó nhờ vào sự suy nghiệm trong tri thứccủa Ngài, căn cứ vào những gì Ngài quan sát được và các kết quả suy tư của Ngài.Ngày nay thì khoa học và kỹ thuật có thể sử dụng các phương pháp thực nghiệm đểchứng minh điều đó một cách dễ dàng.

Chúngta không thể làm gì khác hơn là phải chết bởi vì chúng ta đã được sinh ra. Như vậy đối với Phật giáo thì sinh đươcđịnh nghĩa như thế nào ? Sinh có nghĩa là giây phút xảy ra thụ thai : đó là lúchai tế bào của cha và của mẹ kết hợp lại và đồng thời thâm nhập vào đó một dòngtiếp nối liên tục tâm thần (continuum mental) hay tri thức (conscience-conciousness).Tóm lại thụ thai hay sự sinh xảy ra khi dòng tiếp nối liên tục tâm thần thâm nhậpvào sự kết hợp giữa hai tế bào của cha và của mẹ.

Theo quan điểm Phật giáo thì bất cứ mộtvật thể nào cũng đều được cấu tạo bởi vô số các thành phần kết hợp lại vớinhau. Đúng vào giây phút thụ thai tức là giây phút mà bào thai được cấu tạo thìnăm thứ cấu hợp (1) cũng xuất hiện và dựa vào đó một cá thể cũng được hình thành.Từ sự kết hợp đó phát sinh ra sáu cơ sở hiểu biết (2) và bốn thành phần (3). Tấtcả gồm có hai mươi bốn chất liệu vật chất tạo ra cơ sở chuyển tải dòng lưu chuyểncủa tri thức, và dòng tri thức lại bám víu vào cơ sở chuyển tải ấy và xem đấy làcủa nó. Đấy là căn bản sơ khởi tạo ra một cá thể. Cái cá thể ấy lại tiếp tục biếndạng, lớn lên và phát triển thêm. Nhờ vào cơ sở vật chất dòng tiếp nối liên tụccủa tri thức cũng phát triển theo để đảm trách những sinh hoạt ngày càng phức tạphơn. Đấy là gì mà người ta gọi là sự sống, nó tương ứng với khoảng thời gian màdòng tiếp nối liên tục tâm thần còn sử dụng một cơ sở vật chất để chuyển tải nó.

Tuy nhiên các thành phần vật chất cũnglà những cấu hợp, vì thế không những chúng biến đổi trong từng giây phút một màchúng còn phải gánh chịu hiện tượng già nua và hao mòn. Sau một khoảng thờigian nào đó có thể dài hay ngắn thì các thành phần kết hợp lúc thụ thai sau khiđã phát triển trong suốt cuộc sống sẽ bắt đầu suy thoái. Các thành phần vật chấtsuy thoái dần và khả năng chuyển tải dòng tiếp nối liên tục tâm thần của chúngcũng theo đó mà suy giảm đi. Dòng tiếp nối liên tục tâm thần vì thế cũng trở nên"thu hẹp" hơn và mất đi một số tính năng, và các tính năng này cũng sẽtiếp tục tan biến dần. Cuối cùng thì đến một lúc nào đó cơ sở vật chất sẽ suythoái đến độ không còn đủ sức chuyển tải dòng tiếp nối liên tục tâm thần nữa.Dòng tiếp nối tâm thần bắt buộc phải rời bỏ cơ sở vật chất của nó, và chính vàothời điểm ấy thì cái chết sẽ đến với sự sống hiện tại này.

Vậy thì cái chết là sự tách rời giữatri thức (hay dòng tiếp nối liên tục tâm thần) và cơ sở vật chất. Theo quan điểmPhật giáo thì dòng tiếp nối liên tục đó không chấm dứt. Dù nó không thể tiếp tụclưu trú trong cơ sở vật chất thô thiển nữa nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại. Tùytheo trường hợp, nó có thể chuyển sang một thể dạng trung gian gọi là bardo(trung ấm) hay là không. Dầu sao đi nữa thì nó sẽ hướng vào một sự tái sinh mới.Nó hướng vào một cơ sở vật chất mới, thâm nhập vào đấy và làm phát sinh ra mộtsự thụ thai mới, tức là điểm khởi đầu của một cuộc sống mới. Cuộc sống mới ấy sẽkéo dài một thời gian nào đó và rồi cũng sẽ chấm dứt, và cứ tiếp tục như thế.Người ta gọi đấy là chu kỳ của những sự hiện hữu phát sinh do điều kiện, nghĩalà do nghiệp mà ra (4). Thật ra thì nhữnggì xui khiến dòng tiếp nối liên tục của tri thức hướng vào một cơ sở vật chất cábiệt nào đó không tùy thuộc vào quyết tâm của một cá thể - ít ra thì đây cũng làtrường hợp của những cá thể bình thường - mà duy nhất do sự tác động của nghiệp mà cá thể ấy đã tích lũy từ trước.

Đối với một người chấp nhận sự táisinh thì khi cái chết gần kề sẽ hiểu rằng tâm thức của mình sẽ rời bỏ cơ sở vậtchất của nó. Dòng tiếp nối liên tục tâm thần của mình sẽ tiếp tục tồn tại, vậytrong giây phút đó những gì quan trọng hơn hết ? Có phải là thân xác mình, củacải, gia đình, danh vọng hay uy quyền...? Tất cả những thứ ấy không có một giátrị nào cả, vì người sắp ra đi sẽ bỏ lại tất cả những thứ ấy.

Chỉcó dòng tiếp nối liên tục tâm thần là tồn tại và những gì mà nó có thể mangtheo là những vết hằn (của nghiệp) đã in sâu vào nó. Những gì tiếp tục tồn tạivà kéo dài từ kiếp sống này sang kiếp sống khác trên dòng liên tục tâm thần chínhlà nghiệp của chúng ta. Dù đấy là nghiệp tốt hay nghiệp xấu thì cũng đều gomlại thành một tổng hợp các vết hằn hay là các tiềm năng hay xu hướng mà dòng tiếpnối tâm thần sẽ mang theo với nó. Đối với quý vị nào trước đây chưa hề hiểu nghiệplà gì thì cũng xin giải thích thêm đấy là những xu hướng tích tụ trên dòng tiếp nối liên tục tâm thần. Những xuhướng ấy mang tính cách "tích cực" khi chúng có khả năng mang lại nhữnggiác cảm hạnh phúc, những cảm nhận về hạnh phúc. Ngược lại thì những nghiệp"tiêu cực" là những vết hằnhay những tiềm năng lắng đọng trong tâm thức mà chúng sẽ mang lại những cảm nhậnkhổ đau.

Chủ đề buổi nói chuyện tối nay là"Chuẩn bị cho cái chết". Vậychúng ta hãy đi thẳng vào chủ đề đó. Chúng ta hãy xét xem điều gì có thể giúpích cho chúng ta khi hấp hối và khi phải hướng vào một sự tái sinh mới. Có rấtnhiều phương pháp kể cả một lô các phương pháp đặc thù của Phật giáo. Tuy nhiênkhông cần bắt buộc phải là một người Phật giáo mà chỉ cần tin có sự tái sinh thìcũng đủ để hiểu rằng cái chết không phải là một sự chấm dứt vĩnh viễn vì sau đósẽ còn phải hướng vào một sự tái sinh mới, và trong trường hợp đó thì bất cứ aicũng đều hiểu rằng cái thể dạng tâm thức cuối cùng đúng vào lúc sắp chết sẽ giữmột vai trò vô cùng quan trọng. Nếu vào giây phút đó ta tạo ra cho mình một thểdạng tâm thức tốt thì nó sẽ giúp ta hướng vào một sự tái sinh thuận lợi.

Nói một cách khác là ta phải làm thếnào để gợi lên cho ta một thể dạng tâm thức lợi ích đúng vào lúc mà ta sắp chết.Phương pháp ấy có thể áp dụng cho bất cứ ai, không nhất thiết phải là người Phậtgiáo mới làm được. Bất cứ ai cũng có thể là một người tốt được, dù cho họ theomột tín ngưỡng nào cũng vậy. Dù đứng trên quan điểm nào thì bất cứ ai cũng đềucó thể tạo ra cho mình một thể dạng tâm thức đầy yêu thương và từ bi hay đứctin vào lúc hấp hối. Vậy đối với Phật giáo thì ý nghĩa của tình thương là gì ? Tìnhthương hiểu theo Phật giáo là mong cầu hạnh phúc cho người khác. Nếu trong lúchấp hối mà ta đủ sức gợi lên trong tâm trí mình một lời nguyện cầu đơn giản nhưsau : "Tôi chỉ cầu mong sao cho tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc!", tức là " Tôi chỉ ước mong làm sao để giúp cho tất cả chúng sinh đạtđược hạnh phúc", thì lời nguyện cầu đó sẽ hướng ta vào một sự tái sinh tốtđẹp. Từ bi chính là ước vọng tất cả chúng sinh loại bỏ được khổ đau. Chẳng hạnnhư những ước vọng như sau đây : "Tôi cầu mong tất cả chúng sinh vượtthoát khỏi khổ đau, cầu xin cho họ đạt được một tâm thức luôn luôn an bình khôngcòn phải chiến đấu với khổ đau". Bất cứ một thể dạng tâm thức đạo hạnh nàocũng thế, dù đấy là đức tin hướng vào một vị Trời, vào Đức Phật hay là một vịThầy tâm linh, thì cũng đều mang lại hiệu quả. Mọi thể dạng tâm thức lợi ích đềugiúp cho cái chết được thanh thản và hướng vào một sự tái sinh thuận lợi. Một thểdạng tâm thức lợi ích không nhất thiết phải được quy định trong một khuôn khổhay một giới hạn nào cả mà có thể mở ra thật rộng lớn, chẳng hạn như ta có thểnguyện cầu như sau : "Tôi cầu mong cho hòa bình sẽ tỏa rộng và bao trùm lêncả thế gian này. Cầu mong sao cho tất cả nhân loại trên địa cầu đều được an bình.Ước mong sao cho tất cả mọi xung đột dù đang tác hại ở bất cứ nơi nào trên hànhtinh này cũng đều sẽ chấm dứt". Ta cũng có thể ước mong như sau : "Nếutrong kiếp sống này tôi không thể giúp được nhiều chúng sinh như tôi hằng nguyệncầu thì xin cho tôi được tái sinh trong một kiếp sống thuận lợi hơn để có thể giúpđược nhiều chúng sinh hơn nữa".

Ngoài ra cũng không nên quên rằng chúngta phải làm sao để thể dạng tâm thức lợi ích đó được hiển hiện khi mà chúng tavẫn còn thì giờ, tức là không nên chờ đợi đến giây phút chót khi quá trình củacái chết đã bắt đầu xảy ra . Cái chết sẽ xảy ra khi cơ sở vật chất trở nên quá suyyếu hoặc rơi vào một tình trạng quá tệ hại không còn đủ sức chuyển tải được tâmthức nữa. Tuy nhiên thì trước đó cũng sẽ qua một giai đoạn mà cơ sở vật chất trởnên suy thoái thật nặng nề và tâm thức không còn sử dụng được các khả năng củanó một cách bình thường như trước, thì trong tình trạng đó tâm thức sẽ rơi vàomột trạng thái trung hòa (mê man). Vì thế phải hành động ngay để tạo ra một thểdạng tâm thức tích cực và lợi ích trước khi nó rơi vào tình trạng trung hòa nhưtrên đây. Phải làm hiển hiện thể dạng tâm thức lợi ích trước khi đến giai đoạn suythoái nặng nề thì thể dạng lợi ích ấy mới có thể tác động và ảnh hưởng đến tìnhtrạng tâm thức trung hòa khi đã gần kề cái chết. Thể dạng tâm thức lợi ích sẽgiúp tăng cường thêm sức mạnh cho các nghiệp tích cực và cũng từ đó sẽ hướng vàomột sự tái sinh thuận lợi.

Những điều vừa được trình bày trên đâycó thể xem là kết quả mang lại từ một sự chuẩn bị thật lâu dài, có nghĩa là từ khimà ta còn đang khoẻ mạnh. Không phải chờ đến lúc hấp hối ta mới bắt đầu tập thươngyêu người khác và làm hiển hiện lên trong ta lòng từ bi. Tình thương và lòng từbi chỉ có thể hiển hiện lên trong lúc nguy kịch khi mà chúng đã được thấm nhuầntừ trước bằng những cố gắng lâu dài. Nói một cách khác là ta nên tập luyện ngaybây giờ để quen dần với thể dạng tâm thức đó dù đấy là tình thương yêu, lòng từbi, đạo đức, hay đức tin cũng thế. Phải tập thế nào để tất cả những thứ ấy trởthành thói quen và chúng sẽ tự động hiển hiện lên vào giây phút mà ta sắp ra đi.

Khi phải đối đầu với những thử tháchkhó khăn tức vào những lúc sắp gặp nguy cấp thì các phản ứng dưới các thể dạngtâm thức quen thuộc nhất thường sẽ được biểu lộ. Phản ứng của một đứa bé là mộtthí dụ điển hình hơn cả. Khi đứa bé cảmthấy nguy hiểm thì tiếng kêu cứu đầu tiên phát ra từ miệng nó là tiếng gọi :"Mẹ ơi !". Đơn giản chỉ vì mẹ là người thân thiết nhất của nó, gầngũi nhất với nó, luôn hiện hữu trong tâm thức nó. Chỉ cần vấp ngã hay va đầuvào vật gì làm cho nó đau đớn thì nó khóc và kêu lên : "Mẹ ơi !".

Phải chọn lựa một thể dạng thích hợpnhất với bản tính của mình để làm hiển hiện ra trong tâm thức - chẳng hạn như tìnhnhân ái, tình thương yêu người khác, v.v... - phải luyện tập thường xuyên để giúpchúng ngày càng vững mạnh hơn. Tập nhưthế cho đến khi nào thể dạng tâm thức đó trở thành một phản ứng tự nhiên và độtphát khi ta phải bất thần đối đầu với những tình huống đang xảy ra. Ta có thể tậpluyện để phát huy tâm thức ấy, dù cho trên thực tế ta không thể giúp đỡ ngườikhác một cách cụ thể đi nữa. Chỉ cần tạo được thói quen trong tâm thức luôn luônnghĩ đến người khác, lúc nào cũng cảm thấy gần gũi với người khác và trực tiếpliên đới với hạnh phúc của người khác. Như thế đến khi hấp hối thì những ý nghĩvà xúc cảm đó sẽ hiển hiện lên một cách tự nhiên trong tâm thức ta.

Không phải cứ chuyên cần tập luyệntheo các giờ giấc đều đặn trong ngày là đủ mà đúng hơn phải cố gắng hơn thế nữađể theo dõi tư duy hiển hiện ra trong tâm thức mình vào bất cứ lúc nào. Chúng takhông ngừng múa may tay chân, nói năng huyên thiên, đàm thoại với hết người nàyđến người khác, đi tới rồi lại đi lui... Nên cố gắng nhìn lại chính mình gầnhơn để nhận thấy mình và thốt lên : "À thì ra không ngờ trong đầu lại có lắmthứ tư duy đến thế, thật là nhiều và đủ loại và chúng đang bộc phát ra trongtâm thức ta. Một số thì tốt, một số thì kém hơn, hoặc có thể rõ ràng vô phươngchối cãi là rất tệ hại, hoặc một số khác thì chỉ có tính cách trung hòa". Khita có thể nhận biết và phân loại được chúng thì đó là lúc mà ta đã đạt được mộtbước tiến bộ rồi đấy. Cả ba thể loại tư duy ấy đều là những gì thật tự nhiên,tuy thế nếu khi nào đã đủ sức phân loại được tư duy nào là tốt, xấu hay trung hòa,thì cũng nhân đó mà so sánh tỷ lệ xuất hiện của chúng trong đầu ta ra sao để xácđịnh xem ta có xu hướng tốt một cách tự nhiên, hay ngược lại ta chỉ là một ngườicó xu hướng xấu hoặc trung hòa. Sau khi xác định được như thế ta phải cố cảnhgiác trong từng giây phút một trong cuộc sống để chủ động tâm thức mình, kiểm soátnhững tư duy của mình. Cuộc sống thường nhật buộc ta phải nói năng với người khác,dù những lời đàm thoại đó mang nội dung như thế nào thì ta cũng nên tự hỏi tạisao ta lại thốt lên những lời như thế. Nếu nhận thấy rằng những lời mà ta thốt ramang chủ đích mong muốn người đối thoại được hạnh phúc và trong lòng ta cầumong cho họ gặp được những điều tốt đẹp, như thế thật không còn gì để nói thêm! Nếu trong trường hợp ta phải nói một cách máy móc vì nghề nghiệp để thực hiệnmột công việc nào đó, thì chủ đích những lời nói ấy chỉ mang tính cách trung hòa.Tuy nhiên nếu ta ngỏ lời với một người nào đó mà lại chỉ cầu cho họ gặp những điềubất hạnh và trong thâm tâm ta chỉ muốn làm hại người ấy, thì đấy thật rõ ràng làkhông tốt. Nếu nhận biết được như thế thì dần dần về sau chúng ta cũng sẽ khôngphát ra những ngôn từ thuộc vào loại đó nữa, tức là những ngôn từ bề ngoài khôngnhất thiết là xấu, nhưng bên trong thì lại tiềm ẩn những ý đồ tiêu cực.

Khi đã quen với sự cảnh giác để luônluôn tự hỏi chủ đích của mình là gì, thì đến một lúc nào đó ta sẽ có thể chủ độnghoàn toàn được tâm thức của mình và cả những hành động phát sinh từ thân xác củamình nữa.

Phải thú nhận rằng hầu hết chúng ta khôngmấy ai có thể tự cho rằng mình hoàn toàn được tự do, bởi vì chưa ai có thể bảo đảmrằng mình có thể hành động theo đúng như ý mình muốn. Thật sự mà nói là ta vẫn thườngxuyên bị tâm thức khống chế, nó chỉ huy và ra lệnh cho ta phải hành động theonhững quyết định của nó. Nhưng nếu nghĩ kỹ thì chính tâm thức ta cũng lại bị nôlệ bởi sự khống chế của những yếu tố bấn loạn, sự yếu đuối và các thứ dục vọngcủa chính nó. Chính đấy là những gì đã đứng ra điều khiển nó ! Hãy lấy thí dụ vềsự giận dữ, và tiếc thay đôi khi chúng ta vẫn còn giận dữ, và khi đã giận dữthì ta sẽ hoàn toàn bị nó khống chế. Khi cơn giận đã bộc phát ra rồi thì takhông thể cưỡng lại được nữa. Nó kiềm tỏa tất cả và chỉ huy mọi tư duy của ta, xúidục ta phạm vào những hành động mà chính ta không muốn. Kích động bởi sự giận dữ,ta sẽ phát ra những ngôn từ làm mếch lòng người khác, chỉ trích và nguyền rủangười khác, thế rồi ta không còn tự chủ lấy mình được nữa.

Đừng nghĩ rằng trong thoáng chốc làta có thể loại bỏ được sự giận dữ vì giận dữ là một thành phần của tâm thức, tiềmẩn trong tâm thức và đã quen tác oai tác quái quá lâu đời. Ta đâu có thể loại bỏchúng dễ dàng như thế được.

Trước hết ta phải tập khám phá thậtsớm sự xuất hiện của giận dữ. Nếu thấy nó vừa ló dạng thì tức thời ta phải tự cảnhgiác ngay vì biết rằng sự bực bội đang tìm cách xâm chiếm ta và nếu cứ để cho nóbùng lên thì ta sẽ không còn cưỡng lại được nữa. Ý thức được điều đó có nghĩa làta đã đạt được một bước tiến đáng kể. Nếu tiếp tục tập luyện theo cách đó thì dầndần ta cũng sẽ loại bỏ được các yếu tố bấn loạn, chẳng hạn như sự giận dữ, đồngthời lại phát huy được các phẩm tính tốt của mình, và rồi ta sẽ cảm thấy hạnhphúc hơn.

Một người dễ nổi nóng sẽ thường xuyêngây ra tình trạng căng thẳng và xung đột với những người chung quanh, suốt ngàyhọ cãi vã trong gia đình, với đồng nghiệp và họ hàng, họ chẳng bao giờ biết an vuilà gì. Đối với trường hợp như thế thì cách tập luyện trên đây sẽ giúp họ làm giảmbớt sự nóng giận. Sự giao tiếp với người chung quanh do đó cũng sẽ được cải thiệnhơn và cuộc sống hằng ngày cũng sẽ thay đổi tốt hơn: họ cảm thấy an vui hơn, côngviệc mang lại nhiều kết quả hơn...

Nói một cách khác, nếu muốn chuẩn bịcho cái chết thì ngay lúc này trong cuộc sống thường nhật ta cũng nên bắt đầu tậpcho quen dần với các thể dạng tâm thức lợi ích, và các thể dạng lợi ích ấy cũngsẽ mang lại cho ta nhiều điều cải thiện trong cuộc sống hằng ngày của ta. Tanên sống như thế nào để đến lúc lâm chung thì thể dạng tâm thức thuận lợi sẽ đếnvới ta một cách tự nhiên. Nếu không đủ sức tạo cho mình một cuộc sống như thế,thì ít ra cũng cố tránh không để cho tâm thức bị dao động và tràn ngập bởi sự giậndữ hay bám víu. Một tâm thức an bình sẽ trợ giúp cho ta hay cho bất cứ ai tronggiây phút hấp hối. Vì thế, khi đang ở cạnh người sắp ra đi thì ta phải tránh tấtcả những gì có thể làm cho người ấy bị rối loạn hay dao động tức là tránh tạora cho họ một thể dạng tâm thức tiêu cực. Cố gắng giúp họ tạo ra một thể dạng tâmthức lợi ích và tích cực. Nếu biết được họ theo tôn giáo nào thì cứ nhắc đến tínngưỡng của họ, giúp họ phát lộ đức tin. Dù trong bất cứ trường hợp nào thì cũngcố gắng giúp người hấp hối yên lòng, nhắc cho họ biết là họ đã sống một cuộc sốngtrọn vẹn, đã làm được nhiều điều tốt đẹp, mục đích là giúp cho họ ra đi trongan bình và mãn nguyện, dù cho những lời khuyên nhủ của ta có đúng với sự thậthay không. Ngay cả trong trường hợp mà ta biết là người ấy có một cuộc sống khôngmấy tốt lành đi nữa thì ta cũng không nên nhắc đến những gì kém tốt đẹp trongcuộc sống trước đây của họ. Trái lại phải an ủi họ, nói với họ là họ đã từng làmhết sức mình, đã thực hiện được nhiều điều tích cực trong đời họ và giờ đây thìhọ có thể yên lòng ra đi. Phải cố gắng giúp họ ra đi thật thanh thản và êm ả.

Ta cũng phải cẩn thận trong từng cửchỉ, phải chú ý đến sự dịu dàng trong từng lời nói để cho người hấp hối vữngtâm . Không nên tỏ ra bồn chồn hay khóc lóc, không nên nói lớn tiếng, cũng khôngnên lay người hấp hối. Tiếc thay đó lại là phản ứng rất thường thấy của nhữngngười thân thuộc chung quanh. Đôi khi người thân ôm người hấp hối vào lòng. Mộtsố người thường có những cử chỉ như thế, họ ôm người hấp hối và thốt lên :"Không, đừng ra đi, hãy ở lại với chúng tôi...". Nên tránh những cửchỉ thô bạo như thế. Trái lại phải làm thế nào để tạo ra một bầu không khí êm dịu,thanh thản và an bình chung quanh người sắp ra đi, bằng một giọng thật thấp hãynói với người hấp hối những lời lẽ ngọt ngào.

Tóm lại, tất cả chúng ta đều ướcmong đạt được hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau. Vậy nếu muốn thực hiện được điềuđó thì phải tìm hiểu chính mình, theo dõi được những gì đang diễn biến trong tâmthức của mình. Dù ta đang hạnh phúc hay khổ đau thì cả hai thể dạng ấy đều phátsinh từ rất nhiều nguyên nhân và điều kiện, và những nguyên nhân và điều kiệnchính yếu hơn hết tạo ra các thể dạng ấy lại tùy thuộc vào tâm thức của chính mình,phát sinh từ tâm thức của chính mình. Tạo ra những thể dạng tâm thức tích cực sẽmang lại cho ta sự thư giãn và hạnh phúc và cũng sẽ giúp cho ta làm giảm bớt tácđộng của những thể dạng tâm thức tiêu cực mang lại khổ đau. Thực hiện được như thế là cách giúp cho ta chuẩnbị cho lúc lâm chung và đồng thời cũng tạo ra những tác động tích cực ngaytrong cuộc sống thường nhật của ta trong lúc này.

Cách tập luyện vừa trình bày trên đâykhông nhất thiết là những gì đặc thù dành riêng cho Phật giáo, mà bất cứ ai cũngcó thể tập được, không cần phải tin vào một tôn giáo nào cả. Bất cứ một sinh linhnào hàm chứa một tâm thức đều nên tìm hiểu chính mình để chủ động lấy tâm thứccủa mình.

Thật vậy, không phải chỉ cần vơ vétcủa cải vật chất cho thật nhiều là có thể tìm thấy hạnh phúc. Không phải nhữngngười giàu sụ đương nhiên là những người hạnh phúc. Hạnh phúc không nhất thiết lệthuộc vào của cải và những gì ta chiếm hữu, mà tùy thuộc vào những tư duy đangdiễn biến trong tâm thức của mình. Dù thật giàu có nhưng ta lại không đủ sức tạora cho mình một khả năng cảm nhận đúng đắn về mọi sự vật thì của cải của tacũng sẽ không thể cứu ta thoát khỏi những khổ đau khủng khiếp. Có những ngườigiàu có nhưng lại vô cùng khổ sở không đủ nghị lực để vượt lên những hành động tuyệtvọng, như tự tử chẳng hạn. Những chuyện đại loại như thế vẫn thường xuyên đượcbáo chí đưa tin. Ngược lại, có nhiều người phải đối đầu với những khó khăn vậtchất, sống trong hoàn cảnh khiêm tốn, nhưng lại tỏ ra hết sức hạnh phúc, chẳngqua đấy là vì họ biết nhìn mọi sự một cách khác hơn.

Chủ đề nêu lên được trình bày khábao quát và có phần vắn tắt. Vậy có quí vị nào cần hỏi thêm hay chăng ?

Phần Hỏi - Đáp

- Một thính giả(người ghi chép có thể không nghe rõ nhưng người thuyết giảng theo dõi đượccâu hỏi, có lẽ vì ban tổ chức không dự trù "micro" cho người hỏi ngồibên dưới - ghi chú thêm của người dịch): [...lời phát biểu quá nhỏ không nghe rõ... ]

- Rimpoché: Như đã được trình bày trong bài thuyết trình, cái chết là một hiện tượng xảyra vào lúc mà cơ sở vật chất dùng để chống đỡ tâm thức bị thoái hóa, và sựthoái hóa đó có thể xảy ra vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống. Không nhấtthiết là phải xảy ra khi già nua, mà cả lúc còn trẻ, chẳng hạn các trường hợp bịtai nạn. Trong trường hợp tai nạn xe cộ hay bất cứ một tai nạn vì một nguyên nhânnào khác, thì cơ sở vật chất đang trong thể dạng hoạt động đột nhiên mất hết nhữngkhả năng bình thường của nó và không còn chuyển tải tâm thức được nữa.

- Một thính giả: Tôi không phân biệt được thế nào là hạnh phúc và thế nào là sung sướng. Có thểdùng chữ "hài hòa" thì có lẽ thích hợp hơn chăng ?

- Rimpoché: Khi nói đến hạnh phúc thì đấy cũng chỉ là quy ước mà thôi, chẳng qua cũng làmột cách phát biểu dựa vào ngôn từ, dầu sao thì đấy cũng chỉ là một sự cảm nhậntrong thế giới ta-bà, và ta-bà có nghĩa là chu kỳ của sự hiện hữu mà ta phải gánhchịu. Dù phát biểu rằng đấy là sự hài hòa nội tâm hay hạnh phúc nội tâm hay mộtthứ gì khác nữa thì tất cả cũng không phải là hạnh phúc thật sự, không phải làmột thể dạng hân hoan tuyệt đối và trường tồn. Dầu sao thì tất cả cũng chỉ là quy ước,chỉ đơn giản là một cách chọn chữ, nếu muốn thay chữ hạnh phúc bằng chữ hài hòanội tâm thì cũng không có vấn đề gì cả.

- Một thính giả: Tôi không có ý muốn nói là có một sựkhác biệt giữa hai chữ !

- Rimpoché:Vậy thì bạn có thể giải thích minh bạch hơn hay không ? Bạn có thể hình dung đượcmột người đang thụ hưởng hạnh phúc theo đúng với ý nghĩa thông thường của nó màlại không có sự hài hòa nội tâm hay chăng ?

- Một thính giả: Nếu biểu lộ sự thương cảm đối với thế giới này, đối với con người và muôn thúthì đến một lúc nào đó người ta sẽ nhận ra sự bất hạnh của người khác, theo tôithì một thứ tình cảm hiện lên [...nghe không rõ...]. Tôi chỉ thấy đấy là lãnh vựccủa sự hài hòa hơn là một sự thán phục [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Bạn đưa ra một số các thể dạng tâm thức khác biệt nhau và đề cập đến lòng thươngcảm và cả các phản ứng có thể xảy ra khi nhìn thấy sự đau khổ của người khác. Cólẽ bạn muốn nêu lên lòng từ bi, và nhất là những gì bạn vừa nêu lên lại thuộc vàomột thể dạng tâm thức khá chuyên biệt. Nhất định là không thể phát biểu đấy làmột một sự thán phục. Hơn nữa còn có thể xem đấy là một cách phát biểu lạc đề. Đúnghơn thì đấy chỉ là một thể dạng hài hòa nội tâm giúp cho mình cảm nhận được ngườikhác đang phải gánh chịu khổ đau. Thật hiển nhiên là bạn đang mở rộng sự suy tưtheo một chiều hướng nào đó.

- Một thính giả: Xin nêu lên một câu hỏi liên quan đến dòng tiếp nối liên tục tâm thần. Nhữnggì tôi không hiểu được là tại sao [...không nghe rõ...] lại không phát sinh từcác kiếp trước của mình ?

- Rimpoché:Đề cập đến dòng tiếp nối liên tục tâm thần không nhất thiết phải liên kết vớihiện tượng chuyển tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Ngay cả trong kiếpsống hiện tại, từ lúc mà chúng ta bước vào gian phòng này cho đến giây phút này,tâm thức chúng ta hoạt động không ngưng nghỉ. Vậy theo bạn thì tâm thức của chúng ta đang trong tình trạng hoạt động ngaytrong giây phút này có giống với tình trạng tâm thức của chúng ta khi chúng ta vừabước vào gian phòng này hay không ?

Như vừa trình bày trên đây, ít ra thìchúng ta cũng đồng ý với nhau trên một điểm là tâm thức biến đổi liên tục, do đódùng cụm từ "dòng tiếp nối liên tụctâm thần"(continuum mental) có lẽ thích nghi hơn là dùng chữ "tâm thức" (esprit- mind - spirit) vì chữ tâm thức hàm chứa ý nghĩa quá tĩnh lặng hoặc quá bao quát.Mặt khác, dòng tiếp nối liên tục tâm thần còn hàm chứa một ý nghĩa khác nữa đólà thể dạng tâm thức vào một thời điểm nhất định nào đó không phải tự nhiên mà vụtxuất hiện ra như thế một cách vô cớ mà đúng hơn chỉ là một sự tiếp nối của mộthiện tượng cùng một bản chất với nó đã xuất hiện trước nó, bản chất chung ấy làbản chất tâm thần. Hơn nữa bạn có nói là bạn nhớ lại được những sự kiện xảy ra đốivới bạn và những gì mà tâm thức của bạn đã suy nghĩ vào lúc mà chúng ta cùng bướcvào gian phòng này. Sở dĩ bạn có được những ký ức đó là chính nhờ vào dòng tiếpnối liên tục tâm thần của riêng bạn, và cũng chính vì thế mà những ký ức của bạnkhông giống với những ký ức của tôi.

Bạn nói rằng điều đó làm cho bạn mơước được biết về các kiếp trước của bạn, bởi vì bạn không còn nhớ gì cả. Thế thìbạn còn nhớ được tất cả các tư duy của bạn khi còn nhỏ hay không, bởi vì sau mộtthời gian dài thì vô số những sinh hoạt và tư duy khác dồn dập hiện ra làm chomột số tư duy trước đây phải bị gạt sang một bên. Tình trạng đó tạo ra sự quênlãng tức là không còn nhớ được một số sự kiện nào đó ngay cả trong kiếp sống này.

- Một thính giả: Vậy thì dòng tiếp nối liên tục còn có ích lợigì nếu tôi không còn nhớ lại những gì trong kiếp trước của tôi. Nếu ngày mai tôichết và tái sinh, tôi sẽ trở thành một đứa bé và tôi sẽ có một não bộ của một đứabé. Vậy thì tôi chất chứa được những gì từ các kiếp trước ?

- Rimpoché: Theo cách nhìn của Phật giáo thì vào đúng giây phút tái sinh dòng tiếp nối tâmthần thâm nhập vào tế bào của cha và của mẹ thuộc trong kiếp sống sắp tới, dòngtiếp nối đó không phải là một dòng tiếpnối hoàn toàn mới mẻ. Thực ra thì nó chuyên chở theo nó vô số những vết hằn tíchlũy từ các kiếp trước. Có phải điều đó có nghĩa là bào thai bắt buộc phải ghinhớ tất cả các thứ ấy hay không ? Nhất định là không. Bào thai có sẵn một số vốnnhưng nó lại còn đang trong tình trạng vô thức. Nếu muốn bào thai có đủ khả năngý thức thì bào thai phải là một cá thể đã được tập luyện tích cực trên phươngdiện tinh thần. Nếu dùng thuật ngữ thông thường để nói thì cá thể ấy phải biếtsuy tư thật mãnh liệt, tóm lại chỉ bằng cách đó thì bào thai mới có thể nhớ lạimột cách hiển nhiên và minh bạch những gì mà nó đã từng làm trong các kiếp trước.

- Một thính giả: Vậy cái vốn liếng đó sẽ phát hiện như thế nào ?

- Rimpoché: Nhiều trường hợp có thể xảy ra, tất cảtùy thuộc vào sức mạnh của các tiềm năng. Nếu tiềm năng cực mạnh thì ngay tuổi ấuthơ chỉ cần một chút gì đó khơi động cũng đủ mang lại cho đứa bé mọi thứ hiểubiết, giúp nó hiểu được những chủ đề thật sâu sắc làm ngạc nhiên người lớn chungquanh. Nếu những vết hằn tương đối mạnh nhưng vẫn còn thiếu cường lực, thì đứabé chỉ cần học qua loa là đủ khơi động lại cho nó những gì mà nó có từ trước vàtừ đó nó sẽ suy luận để biết được nhiều hơn. Đối với những người mang những vếthằn kém cường lực thì phải cố gắng thật nhiều để tập tành và tiến bộ.

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Đối với những người bị bệnh tâm thần thì trong khoảng thời gian trước khi chếthọ không còn kiểm soát được tư duy của mình nữa thì việc gì sẽ xảy ra ? Tất nhiênlúc đó họ không còn khả năng nào để phát huy một tâm thức lợi ích nữa. Tuy nhiêntrước khi bị bệnh nếu họ đã từng tập luyện thì đến lúc hấp hối các điều kiệnthuận lợi sẽ hội đủ (5), dù cho vào thời điểm đó tình trạng tâm thần của họ đãsa sút. Trong trường hợp một người từng tích lũy được nhiều nghiệp thật thuận lợitừ trước thì đến khi hấp hối tình thương hay lòng từ bi cũng có thể tự nhiên hiểnhiện ra trong tâm thức họ đúng theo những gì mà họ đã tập luyện được trước khi ngãbệnh.

- Một thính giả: Sự giúp đỡ của một người khác có thể ích lợi hay không ?

- Rimpoché: Nhất định là có. Sự giúp đỡ từ bên ngoài có thể giúp ích được, với điều kiệnlà sự giúp đỡ đó phải được thực hiện thật đúng. Vai trò của những người thânchung quanh thật quan trọng, những người đang hiện diện bên cạnh người hấp hốiphải ân cần và tránh cho người hấp hối mọi dao động, nói lên với họ những lời thậtthích nghi. Tuy nhiên những gì tối cần thiết là người bên cạnh họ phải tràn đầylòng nhân từ và tình thương đối với họ, bởi vì người hấp hối sẽ cảm nhận được điềuđó. Nếu như người giúp đỡ thành thực, thì sự giúp đỡ sẽ hữu ích.

- Một thính giả: Người bên cạnh có thể trấn an người hấp hối, nói với họ là trước đây họ đã từngcó một cuộc sống trọn vẹn. Tuy nhiên tôi tự hỏi có nên nhắc nhở họ một cách thẳngthắn và không có ý kết án họ, những lỗi lầm trong những hành động tiêu cực củahọ trước đây hay không ? Sự hối hận có phải là một thể dạng thuận lợi hay không?

- Rimpoché: Trong hoàn cảnh bìnhthường thì tất nhiên là có lợi, cảm thấy sự hối tiếc vì một hành động tiêu cựclà một thể dạng tâm thức tích cực. Tuy nhiên trong trường hợp được đề cập lạilà một trường hợp quá sức đặc biệt, nó liên quan đến giây phút đang xảy ra cáichết. Thông thường rất khó cho một người hấp hối cảm thấy ân hận về những lỗi lầmcủa mình và chuyển sự ân hận ấy thành một thể dạng tâm thức ích lợi. Nhắc nhở ngườihấp hối những chuyện sai lầm của họ có thể phạm vào nguy cơ mang lại một tâm thứctiêu cực cho người sắp ra đi. Ngược lại, một người nào đó từng phạm nhiều hànhđộng tiêu cực vô cùng tệ hại trong cuộc sống của mình, nhưng vẫn có thể vụt thayđổi hẳn và làm được những việc thiện. Nếu trước đây người giúp đỡ có quen biết đôichút với người hấp hối thì hãy cố nhớ lại xem người này đã từng làm được nhữnggì tốt lành để thuật lại với họ, dù đó chỉ là những việc nhỏ nhoi đi nữa.

- Một thính giả: Có phải dòng tiếp nối liên tục đồng nghĩa với tri thức hay không... ?

- Rimpochésự tiếp nối liên tục tâm thầncontinuum mental) và tri thứcconscience - consciousness), riêng tri thức cũng có một sự tiếp nốiliên tục của nó. Tri thức mang bản thể tâm thần, do đó có thể hình dung nó nhưlà một sự tiếp nối liên tục và trong trường hợp này thì lại gọi đấy là sự tiếpnối liên tục của tri thức. Có một phần trùng hợp giữa hai thứ, tuy nhiên hai thứkhông hoàn toàn giống nhau. Để trả lời cho phần câu hỏi là dòng tiếp nối liên tụctâm thần và tri thức có phải là những hiện tượng cá biệt riêng cho mỗi cá thểhay không, câu trả lời là đúng như thế ! : Nhất định là có một sự liên hệ giữa cái mà người ta gọi là ( (

- Một thính giả: Riêng đối với tôi thì tôi có thể bịa ra mọi chuyện chẳng hạn như tưởng tượngra mọi sự tốt đẹp để hướng vào tất cả chúng sinh, ước mong tất cả chúng sinh đềuthoát khỏi khổ đau và các nguyên nhân mang lại khổ đau. Nhất định là phải ngungốc lắm mới có thể tin vào đấy để ra đi trong những điều kiện thuận lợi, đạtđược một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai. Vậy làm thế nào để biết được nhữngước vọng ấy là đích thực ?

- Rimpoché: Bạn hoàn toàn có lý, chính vì thế nên phải tập cho quen dần với một số tư duynào đó. Tuy nhiên không nên hiểu đấy là một thứ phản ứng có mục đích lập đi lậplại một câu nói hay một công thức rỗng tuếch, mà đúng hơn là phải tự đặt mìnhtrong một thể dạng tâm thức thành thực và tự nhiên mà mình đã quen thuộc. Nếuchỉ biết lập đi lập lại như một câu kinh cầu nguyện hay làm phát hiện những tưduy giả tạo thì sẽ chẳng mang lại một kết quả nào cả. Chính vì thế mà phải luyệntập lâu dài từ trước. Phải tập luyện như thế nào để làm hiển hiện trong ta nhữngphẩm tính thật sự chẳng hạn như tình thương và lòng từ bi.

- Một thính giả: Vào ngày hôm trước thì tôi cảm thấy phát lộ trong lòng một chút từ bi, một ýtốt nào đó, sang ngày hôm sau bỗng nhiên, đùng một cái.... Thế thì phải làm saođể có thể thẩm định được sự tiến bộ ?

- Rimpoché: Bạn hoàn toàn có lý. Bất cứ ai không cần tập luyện gì cả vẫn có thể một hôm nàođó vụt phát lộ được lòng từ bi, nhưng sang hôm sau thì lại rơi vào một thể dạngtâm thức hoàn toàn khác hẳn. Đó là dấu hiệu cho thấy ta chưa hoàn toàn quen thuộcvới loại tâm thức lợi ích, chưa hội đủ được sự bền vững và kiên trì. Trên một bình diện khác thì sự tập luyện để cải thiệnchính mình thuộc vào lãnh vực tâm linh, vì thế phải cần đến một số phương phápthích nghi, do đó khó mà tự mình có thể khám phá ra được. Vì vậy phải cần nhờ đếnmột người nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn. Tuy nhiên nếu chỉ biết nghe theo những lờichỉ dẫn thì quả thật không đủ, phải đem chúng ra để áp dụng, để suy tư cho đếnkhi nào tất cả đều hiển hiện ra một cách tự nhiên.

- Một thính giả: [...không nghe rõ...]

- Rimpochémột: Nhất định là như thế, cùng một câu hỏi nhưng có thể hình dung dưới nhiều khíacạnh khác nhau. Theo quan điểm của Phật giáo thì dòng tiếp nối liên tục tâm thầnchính là tri thức (conscience - consciousness) khi hình dung nó liên hệ với chuỗidài lôi kéo của những khoảnh khắc nối tiếp nhau, không hơn không kém. Tuy nhiênkhông thể đồng hóa một cá thể (individu - individual) với dòng tiếp nối liên tụctâm thần (continuum mental), mà đúng hơn là một cá thể được tạo dựng bởi dòngtiếp nối liên tục tâm thần. Cá thể ấy hiện hữu dựa vào nền tảng của dòng tiếp nốiliên tục tâm thần, nhưng không phải hai thứ (cá thể và dòng tiếp nối liên tục tâmthần) kết hợp với nhau để trở thành ra thứ.

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Trước hết cũng phải công nhận là không phải ai cũng chết trong sự đau khổ. Cónhững người nhắm mắt hoàn toàn trong sự an bình, không hề cảm nhận một chút khổđau nào. Đó là trường hợp của những người biết suy tư và hiểu cái chết là gì, họý thức được cái chết là một quá trình tự nhiên, một sự chuyển tiếp như bất cứ mọisự chuyển tiếp nào khác, từ một cơ sở vật chất này sang một cơ sở vật chất khác.Họ cũng hiểu rằng những gì mà họ đã chuẩn bị từ trước sẽ giúp cho họ tiếp tụcbước theo con đường mà họ đã chọn, mọi sự sẽ xảy ra một cách tốt đẹp. Họ khôngcó một lý do nào để đau khổ khi hấp hối.

Trong trường hợp một người sắp lìa đờivà phải chịu đựng sự đau đớn thể xác quá mức thì hai trường hợp có thể xảy ra. Nếumột người đã tu tập tinh thông, thường xuyên thiền định và đã chuẩn bị sẵn thểdạng tâm thức mà mình muốn có khi hấp hối, thì trong trường hợp đó không nên dùngcác loại thuốc (chống đau đớn, như morphine...) có thể làm phương hại đến việcthiền định của họ, tốt hơn cứ để cho họ trực tiếp chống chỏi với sự đau đớn thểxác vì đấy cũng là một cách tập luyện nội tâm.

Ngược lại, nếu là một người không đượcchuẩn bị từ trước để đối diện với cái chết gần kề và không biết phải làm sao đểtạo ra cho mình một thể dạng tâm thức lợi ích trong lúc quá sức đau đớn, thì trongtrường hợp đó nếu có cho họ dùng thuốc để giảm bớt đau đớn thì cũng không làmcho tình thế thay đổi bao nhiêu. Vì thế cứ tìm cách giúp cho người ấy tránh khỏisự đau đớn quá mức.

Trở lại trường hợp của một người tutập tinh thông đã hoàn toàn kiểm soát được tâm thức của mình, thì sự đau đớn thểxác quá mức không hẳn là một trở ngại. Nhờ vào sự tu tập tâm linh từ trước, ngườinày sẽ biết nhìn vào những đau đớn mà mình đang chịu đựng để nghĩ đến người kháccũng phải chịu như thế và từ đó phát động lòng từ bi cầu mong cho sự đau đớn củachính mình sẽ hóa giải được hết sự đau đớn của người khác. Trong trường hợp nhậnchịu sự đau đớn như thế sẽ phát huy được những thể dạng tâm thức vô cùng lợi ích.

Xin một câu hỏi chót trước khi chiatay ?

- Một thính giả: [...nghe không rõ...]

- Rimpoché: Chu kỳ về sự sinh và cái chết mà chúng ta vừa đề cập lệ thuộc vào nghiệp củachúng ta và nhất là các yếu tố bấn loạn, các thứ dục vọng và khiếm khuyết củachúng ta. Đúng thế, có thể làm cho chu kỳ ấy chấm dứt được và người ta gọi sựchấm dứt ấy là sự giải thoát khỏi thế giới ta-bà (6) : tức là không còn phải nhậnchịu sự tái sinh và cái chết ngoài ý muốn của mình.

Hãy lấy thí dụ trường hợp của mộtngười đã được giải thoát khỏi ta-bà. Tuy đã được giải thoát nhưng người này vẫntiếp tục hiện hữu, sự khác biệt là người này có thể chọn lựa sự tái sinh mới trong những điều kiện mới đúngvới ý muốn của mình. Tuy nhiên người ấy cũng có thể chấm dứt chuỗi dài tái sinhđể nhập vào một thứ gì khác và đấy cũng hoàn toàn do sự quyết định của người ấy.Tóm lại người ấy có thể tiếp tục sinh ra và chết đi nhưng không phải vì bắt buộcvà cũng sẽ không hề gánh chịu khổ đau.

Phương pháp mà Đức Phật Thích-ca Mâu-niđưa ra giúp giải thoát khỏi mọi khổ đau trong thế giới ta-bà là trước hết phải nhậnbiết những thứ gì đang trói buộc ta trong cái thế giới ấy, những thứ ấy là cộirễ của ta-bà. Sau khi đã hoàn toàn nhận biết được các mối dây buộc ta vào thếgiới ta-bà thì sau đó ta mới có thể xác định được các phương pháp hữu hiệu để loạibỏ chúng. Kết quả nghiên cứu của Phậtgiáo cho biết những gì buộc ta vào thế giới ta-bà chính là sự nắm bắt cái tôi.Phương cách đơn giản để hóa giải sự nắm bắt ấy là sự vắng mặt của một cái tôi(Tánh không). Đạt được sự hiểu biết đó tức là một sự hiểu biết gọi là trí tuệ, làcách giúp cho ta thoát ra khỏi chu kỳ lệ thuộc vào vô số điều kiện tức là cáichu kỳ mang lại khổ đau.

- Một thính giả: Có một cấp bậc cao hơn gọi là niết-bàn [...không nghe rõ...]

- Rimpoché: Niết-bàn (Nirvana) là một tiếng Phạn. Đó là một thuật ngữ gồm có hai cách hiểukhác nhau. Cách hiểu thứ nhất là chữ niết-bàn chỉ đơn giản có nghĩa là "giảithoát khỏi ta-bà", tức đạt được một cấp bậc nào đó cao hơn nhưng chưa phảilà tối hậu, dù sao thì ý nghĩa này không phải là ý nghĩa chính yếu của chữ niết-bàn.Cách hiểu thứ hai là niết-bàn hàm chứa một tính cách tối thượng có nghĩa là tươngđương với thể dạng của Phật.

- Một thính giả: Trên bình diện một con người như trường hợp của tôi đây thì sự bám víu vàogia đình, vào bạn hữu có vẻ hàm chứa một khía cạnh tích cực. Nhưng khi nghe nhữngngười Phật giáo nói chuyện thì tôi hiểu sự bám víu mang tính cách tiêu cực.

- Rimpoché: Thật ra đấy chỉ đơn giản là một vấn đề thuộc lãnh vực ngôn từ. Đối với Phậtgiáo thì "bám víu" có nghĩa là biểu lộ sự quan tâm đến người khác, nhưnglại không nhất thiết có nghĩa là âu lo cho hạnh phúc của người khác, chính thựcthì đấy chỉ có mục đích tìm kiếm quyền lợi cho riêng mình xuyên qua những ngườikhác. Thái độ đó được xem như mang tính cách thật ích kỷ và tiêu cực. Ngược lạinếu sự bám víu thực sự hướng lòng yêu thương, sự trìu mến, sự thân thiện vào ngườikhác, thì đấy là một thái độ không có gì tích cực hơn.

Chúng ta có dịp hội họp đông đảo nhưhôm nay để cùng nhau tìm hiểu thể dạng tâm thức tích cực. Chúng ta bàn thảo vớinhau để cùng suy tư trong mục đích đào sâu thêm một số khái niệm. Điều đó giúpchúng ta thực hiện được một chút gì tốt đẹp. Thuật ngữ Phật giáo gọi đấy là sựtích lũy những nghiệp lành. Chúng ta đây đều mang thân xác của con người, hàmchứa đủ loại cảm nhận, từ hạnh phúc cho đến bất hạnh. Nếu chúng ta tiếp tục cốgắng suy tư để tìm cách nắm bắt được cội nguồn của mọi sự vật, thì chúng ta sẽthấy rằng những cảm nhận của chúng ta lệ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài chúngta, nhưng thật ra thì từ nguyên thủy chúng bắt nguồn từ những gì xảy ra bêntrong tâm thức của chính mình. Vì thế dù chúng ta là người Phật giáo hay khôngphải Phật giáo, dù có chấp nhận hiện tượng tái sinh hay không thì tất cả chúngta cũng đều là những chúng sinh có giác cảm, hàm chứa một tâm thức, biết cảm nhậnkhổ đau và hạnh phúc, luôn ước vọng được khoẻ mạnh và tạo ra những tác động thuậnlợi đối với người khác. Phương pháp để giúp thực hiện những điều đó có lẽ là sựtập luyện để cải thiện lấy chính chúng ta, bất kể mục đích tối hậu của sự luyệntập ấy là gì, chỉ cần biết là nó có thể giúp chúng ta đạt được một cách nhanhchóng một số lợi ích nào đó cho chúng ta và cho người khác.

Tôi chỉ biết khuyên quý vị hãy cố gắngthêm một chút theo chiều hướng trên đây. Sự kiện quý vị đến dự buổi nói chuyện hômnay cho thấy quý vị có thể đã quan tâm một chút nào đó đến nền văn hóa Tây tạng.Đối với những người Tây tạng đang hiện diện hôm nay, tôi xin được nhân danh họ vớitư cách là những người đồng hương và cùng với tất cả những ngưởi đồng hương củatôi trong gian phòng này, chúng tôi cùng nhau xin nhân danh tất cả những ngườiTây tạng trên quê hương chúng tôi để xin được cám ơn quý vị.

Nếu chúng ta cùng nhau được hưởng mộtbuổi tối an bình, với mọi tiện nghi như thế này, ấy là nhờ một số người trongchúng ta đã đứng ra tổ chức. Tôi không nhìn thấy họ trong gian phòng này, nhưngtôi vẫn xin được cám ơn họ.

Bởi vì chúng ta cùng nhau trải qua mộtbuổi tối trong sự cố gắng chung, do đó chúng ta cũng tích lũy được một chútnghiệp tích cực. Để giúp cho những nghiệp tích cực đó được vững chắc và cường lựchơn, chúng ta hãy mang chúng ra để hồi hướng. Vậy hồi hướng có nghĩa là gì ? Đấy là cách biến những gì tốt đẹp mà chúng ta đãthực hiện được trở thành kết quả. Vậy chúng ta hồi hướng cho ai tất cả những điềuxứng đáng mà chúng ta vừa thực hiện được tối hôm nay ? Chúng ta thật đông, vậyhãy lợi dụng ngay lợi điểm đó : ấy là sự đoàn kết sẽ tạo ra sức mạnh. Chúng tanhận thấy hầu hết chúng sinh đang gặp phải khó khăn, đấy chỉ vì họ đang bị nhữngthể dạng tâm thức kém tốt đẹp chi phối. Chúng ta hãy hồi hướng tất cả nhữngnghiệp tích cực của chúng ta cho tất cả chúng sinh không phân biệt một chúngsinh nào, để giúp họ làm bớt đi mọi cảm nhận sai lầm và những suy tư tiêu cực,và để cầu mong cho tất cả chúng sinh phát huy được những thể dạng tâm thức vànhững sự cảm nhận đúng đắn và tốt đẹp.

Vì lẽ người ta gán cho tôi cái tướchiệu lạt-ma cho nên tôi đành phải xin phép quý vị mang cái tước hiệu đó ra đểnguyện cầu và ước vọng cho từng quý vị hôm nay tất cả đều thực hiện được bất cứhoài bão nào hay ước vọng nào của quý vị. Về phần quý vị cũng thế nếu muốn thựchiện được ước vọng của mình thì cũng phải cố gắng, bởi vì nếu tôi có cầu nguyệncho quý vị nhiều cách mấy đi nữa mà quý vị không động đậy gì cả thì cũng không manglại một hiệu quả nào...

Vài lời góp ý của người dịch :

Bàithuyết giảng trên đây mang tính cách khá đại chúng, thính giả gồm những ngườiPhật giáo và không Phật giáo. Vì thế những gì ngài Dagpo Rimpoché thuyết giảngmang tính cách rất thực tế giúp người hấp hối phản ứng một cách thuận lợi và đồngthời cũng giúp cải thiện được cuộc sống thường nhật của mỗi người chúng ta.

Mộttrong những đặc tính đặc thù của Phật giáo Tậy tạng là tính cách thực tế và tíchcực, đi thẳng vào áp dụng. Đối với Phật giáo Tây tạng tu tập phải đi đôi với cứucánh tức là phải mang lại kết quả. Từ bi phải mang lại trí tuệ. Nếu không có kếtquả và không thấy trí tuệ ở đâu cả thì sự tu tập cũng chỉ vô ích mà thôi.

Cácnhà sư Tây tạng cao thâm thường xuyên thiền định về cái chết, hội nhập vào quátrình diễn biến của cái chết. Đức Đạt-lai Lạt-ma cho biết là Ngài thiền định vềquá trình của cái chết từ 6 đến 7 lần mỗi ngày và Ngài tuyên bố thật khiêm tốn làtrên nguyên tắc thì Ngài đã thuộc lòng những gì sẽ xảy ra sau khi chết, nhưng đến lúc đó thì mới biết được là Ngài có chủ độngđược hay không.

Khicái chết xảy ra thì tứ đại tuần tự thoái hóa, tâm thức cũng thoái hóa, dòng tiếpnối liên tục tâm thần khi loại bỏ được các cấu hợp thô thiển trên đây cũng dầndần trở nên tinh khiết hơn và đạt được thể dạng gọi là "ánh sáng trong suốtcủa cái chết" trước khi quay trở lại trạng thái thô thiển của sự tái sinh haythụ thai, tức là giai đoạn hình thành. Người tu tập cao thâm có thể dừng lạitrong thể dạng ánh sáng trong suốtvàkhông tái sinh nữa, hoặc quyết định tái sinh nhưng sẽ tái sinh trong những điềukiện vô cùng thuận lợi để có thể giúp đỡ người khác.

Bàithuyết giảng của ngài Dagpo Rimpoché chỉ nêu lên giai đoạn khởi đầu của quá trìnhcái chết và khuyên chúng ta phải chuẩn bị như thế nào để tái sinh trong một kiếpsống thuận lợi. Thật vậy nếu tái sinh trong một môi trường mà chung quanh khôngai biết đến Đạo Pháp là gì thì sẽ khó cho ta tiếp tục tu tập trong kiếp sau. Vìthế ngoài những điều chỉ dạy của ngài Dagpo Rimpoché chúng ta cũng nên hằng nhắcnhở với mình ước vọng sẽ được tái sinh trong một môi trường có thể giúp cho mìnhbiết được Đạo Pháp để tiếp tục tu nữa, vì chắc chắn là còn lâu lắm ánh sáng củatrí tuệ mới hé lộ ra trong tâm thức đầy dục vọng, hận thù và bấn loạn của chúngta.

(ĐứcĐạt-lai Lạt-ma có thuyết giảng về vấn đề này và các lời giảng của Ngài đã đượcin thành sách. Ấn bản tiếng Anh: Advice on Dying, and Living a betterlife,Vaincre la mort et vivreune vie meilleure, nhà xuất bản Plon, 2003. Hoang Phong chuyển ngữ dưới tựađề : Chủ động cái chết để tái sinh trongmột kiếp sống tốt đẹp hơn, hiện được lưu trữ tại các trang web Thư Viện HoaSen, Quảng Đức, v.v...) nhà xuất bản Atria Books, 2002. Ấnbản tiếng Pháp :

Ghi chú :

1-Tức là ngũ uẩn, gồm có: hình tướng,giác cảm, sự nhận biết, sự diễn đạt và tri thức, tức là những gì tạo ra thân xácvà tâm thức của một cá thể.

2-Sáu cơ sở hiểu biết là : thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác vàtri thức.

3-Bốn thành phần là : đất, nước, lửa và khí.

4-Chữ nghiệp "karma" bao gồmnhiều nghĩa, các nghĩa chính là :

a)"yếu tố" hay "tác nhân" tâm thần đảm trách sự linh động củatri thức hướng vào một vật thể.

b)"một vết hằn" hay một "tiềm năng" hay "một "xu hướng"tàng ẩn trong tâm thức.

5-Nếu một người biết tập luyện và phát huy một tâm thức an bình và lợi ích thì rấtcó thể họ sẽ không bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên trên phương diện y học cũng phảichấp nhận là các loại bệnh tâm thần có nhiều nguyên nhân khác nhau và theo quanđiểm Phật giáo thì các nguyên nhân ấy là do nghiệp mà ra. Phát huy một tâm thứcan bình và lợi ích cũng có thể là một cách trực tiếp hóa giải các nguyên nhân ấy.

6-Ta-bà có nghĩa là phải sinh ra và phải chết đi ngoài ý muốn của mình, lệ thuộcvà chi phối bởi tác động của nghiệp và các yếu tố bấn loạn của tâm thức. Yếu tốbấn loạn chính yếu và quan trọng hơn hết là vô minh (sự hiểu biết sai lầm).

Bures-Sur-Yvette, 20.10.10

Hoang Phong

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/201408:27(Xem: 6937)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
18/08/201407:36(Xem: 19735)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
12/03/201407:34(Xem: 8975)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/03/201411:24(Xem: 9401)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
17/10/201307:24(Xem: 16344)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
20/02/201407:38(Xem: 7516)
Chiều hôm nay, tôi đang ở trong cốc thì Thầy Viện Trưởng đến, Thầy gọi tôi và đưa cho tôi quyển sách này, Thầy nói: "Thầy thấy Từ Đức thích dịch sách của ngài Đạt Lai Lạt Ma nên Thầy mua quyển sách này, con đọc rồi dịch, khi nào xong thì đưa cho Thầy!" Tôi thích quá, thật khó tả. Tôi chỉ mĩm cười, khẻ nói "Dạ" và cầm lấy quyển sách. Thế là ngay hôm ấy tôi liền bắt tay vào dịch những dòng đầu tiên của quyển sách để lấy ngày, 20 – 11 – 2010.
25/08/201718:43(Xem: 2593)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
03/03/201809:16(Xem: 1781)
CHÁNH PHÁP Số 76, tháng 03.2018 Hình bìa của Google Images NỘI DUNG SỐ NÀY: ¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ VU VƠ, CAFÉ PALOMA (thơ Nguyễn Bá Trạc), trang 8 ¨ NỘI DUNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ ĐIỂM HẸN, MƯỢN TỪ ĐÂU (thơ NT Khánh Minh), trang 12 ¨ CŨNG LẠI LÀ TIM SEN (ĐNT Tín Nghĩa), trang 13 ¨ XUÂN ĐẠO, HƯƠNG XUÂN (thơ Chúc Hiền), trang 15 ¨ THƯ MỜI THAM DỰ LỄ HÚY NHẬT ĐLHT. THÍCH TRÍ CHƠN (TT. Thích Hải Chánh), trang 16 ¨ TÂM THƯ VẬN ĐỘNG MUA CƠ SỞ MỚI LÀM CHÙA BÁT NHà (HT. Thích Nguyên Trí) 17 ¨ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (Tuệ Uyển dịch), trang 18 ¨ MÙA XUÂN & CỎ HOA (thơ Mặc Phương Tử), trang 21 ¨ Ở ĐỜI VUI ĐẠO (Nguyễn Thế Đăng), trang 22 ¨ ĐÊM NGHE CHUÔNG VỌNG (thơ Huệ Trân), trang 23 ¨ MÙA XUÂN, THI CA VÀ THIỀN ĐẠO (Sakya Minh Quang), trang 24 ¨ TA ÚP MẶT (thơ Quách Thoại), trang 27 ¨ FRANCIS STORY (1910 – 1971) (H
03/06/201813:32(Xem: 1030)
CHÁNH PHÁP Số 79, tháng 06.2018 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3  THÁNG SÁU EM VỀ HẠ CHỨA CHAN (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 7  CÚNG DƯỜNG CHÁNH PHÁP (Sa môn Thích Tín Nghĩa), trang 8
14/12/201306:50(Xem: 13855)
Năm 2006, khi tôi viết thư xin phép Thiền sư Bhante H. Gunaratana để dịch quyển tự truyện cuộc đời ngài, Hành Trình Đến Chánh Niệm (Journey To Mindfulness), Thiền sư không những đã từ bi hoan hỷ cho phép, mà còn giới thiệu về quyển sách mới của ngài, Eight Mindful Steps To Happiness. Do duyên lành đó hôm nay bản dịch của quyển sách trên được đến tay độc giả với tựa Bát Chánh Đạo: Con Đường Đến Hạnh Phúc.