Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

10. Bombay, ngày 3 tháng 3 năm 1965

01/07/201100:59(Xem: 2510)
10. Bombay, ngày 3 tháng 3 năm 1965

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ THƯỢNG ĐẾ
Nguyên tác: ON GOD - Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2008

BÀN VỀ THƯỢNG ĐẾ

Bombay, ngày 3 tháng 3 năm 1965

Đối với tôi có vẻ rằng qua quá nhiều thế kỷ con người đã luôn luôn tìm kiếm hòa bình, tự do, và một trạng thái hạnh phúc vô cùng mà anh ấy gọi là Thượng đế. Anh ấy đã tìm kiếm nó dưới nhiều danh tính khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử, và rõ ràng chỉ một ít người đã tìm được ý thức bên trong của an bình, tự do vô hạn đó, và trạng thái đó mà con người đã gọi là Thượng đế. Trong thời hiện đại nó trở thành sự việc chẳng quan trọng bao nhiêu; chúng ta sử dụng từ ngữ Thượng đế mà chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa. Chúng ta luôn luôn đang tìm kiếm một trạng thái của hạnh phúc vô cùng, an bình và tự do khỏi thế giới này, và chúng ta bay bổng trong những hình thức khác nhau khỏi thế giới này để tìm ra cái gì đó mà sẽ vĩnh cửu, mà sẽ cho chúng ta thiêng liêng và thiên đàng, mà sẽ cho chúng ta một ý thức nào đó của tĩnh lặng thăm thẳm bên trong. Dù người ta tin tưởng Thượng đế hay không đều lệ thuộc vào ảnh hưởng tinh thần, truyền thống, môi trường sống. Muốn tìm ra trạng thái hạnh phúc vô cùng đó, tự do đó, an bình lạ thường đó, nó phải là một sự việc đang sống. Tôi nghĩ người ta phải hiểu rõ tại sao người ta không thể đối diện sự kiện và thay đổi sự kiện, và nhờ vậy vượt khỏi nó.

Tôi muốn, nếu tôi được phép nói – hay đúng hơn cùng nhau chuyển tải – tại sao chúng ta luôn luôn trao nhiều quan trọng như thế cho ý tưởng chứ không phải hành động. Mặc dù chúng ta đã nói về nó trong nhiều cách khác nhau và vào những thời điểm khác nhau, tôi muốn tìm hiểu nó trong một cách khác, bởi vì dường như đối với tôi chúng ta có trách nhiệm hoàn toàn, tổng thể đối với xã hội trong đó chúng ta đang sống. Đối với sự đau khổ, sự hoang mang, sự hung bạo khủng khiếp của sự tồn tại hiện đại, mỗi người chúng ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và tổng thể. Chúng ta không thể tẩu thoát nó; chúng ta phải thay đổi nó. Con người là bộ phận của xã hội và đã tạo ra xã hội này – anh ấy hoàn toàn và tổng thể chịu trách nhiệm cho việc này – anh ấy phải thay đổi nó; và tạo ra một chuyển đổi, một thay đổi bên trong chính anh ấy và nhờ vậy bên trong khuôn mẫu của xã hội, chỉ có thể được khi anh ấy hoàn toàn kết thúc sự tẩu thoát vào những ý tưởng.

Thượng đế là một ý tưởng lệ thuộc vào môi trường sống, hoàn cảnh, và truyền thống mà trong đó bạn đã được nuôi dưỡng. Trong thế giới Cộng sản, lệ thuộc vào những hoàn cảnh đó, con người không tin tưởng Thượng đế. Ở đây bạn lệ thuộc vào những hoàn cảnh của bạn, vào cuộc sống của bạn, và vào truyền thống của bạn, và bạn đã dựng lên ý tưởng của bạn. Người ta phải tự giải thoát chính mình khỏi những hoàn cảnh này, khỏi xã hội; chỉ đến lúc đó, trong tự do này, một con người mới có thể tìm được cái là sự thật. Nhưng chỉ tẩu thoát vào một ý tưởng được gọi là Thượng đế không giải quyết được vấn đề gì cả.

“Thượng đế” – hay bất kỳ cái tên nào khác mà bạn muốn sử dụng – là sự sáng chế ma mãnh của con người, và chúng ta che đậy sự sáng chế đó, sự ma mãnh đó,, bằng hương trầm, bằng lễ nghi, bằng nhiều hình thức khác nhau của niềm tin, những giáo điều, tách rời con người như những người Thiên chúa giáo, những người Ấn độ giáo, những người Hồi giáo, những người Parsis, những người Phật giáo – tất cả cấu trúc ma mãnh khôn ngoan được sáng chế bởi con người. Con người, vì đã sáng chế ra nó, bị trói buộc trong nó. Nếu không hiểu rõ thế giới hiện nay, thế giới anh ấy sống trong nó – thế giới đau khổ của anh ấy, thế giới hoang mang, sầu muộn, lo âu, thất vọng của anh ấy và sự thống khổ của tồn tại, cô độc hoàn toàn, ý thức của sự vô ích hoàn toàn của cuộc sống – nếu không hiểu rõ tất cả việc đó, chỉ có vô số những ý tưởng, dù thỏa mãn đến chừng nào, không giá trị gì cả.

Rất quan trọng phải hiểu rõ tại sao chúng ta tạo ra hay hình thành một ý tưởng. Tại sao cái trí hình thành một ý tưởng? Tôi có ý qua từ ngữ đang hình thành, đang tạo ra một cấu trúc của những ý tưởng thuộc triết lý hay lý luận hay nhân văn hay duy vật. Ý tưởng là tư tưởng đã được tổ chức; trong tư tưởng, niềm tin, ý tưởng đã được tổ chức đó, con người sống. Đó là điều gì tất cả chúng ta đều làm, dù chúng ta là người tôn giáo hay không tôn giáo. Tôi nghĩ rất quan trọng phải tìm ra tại sao con người qua bao nhiêu thời đại đã cho một quan trọng lạ kỳ như thế đến những ý tưởng. Tại sao chúng ta hình thành những ý tưởng?… Chúng ta hình thành những ý tưởng, nếu người ta quan sát chính mình, khi không có chú ý. Khi bạn hoàn toàn năng động, mà đòi hỏi chú ý tổng thể – mà là hành động – trong đó không có ý tưởng; bạn đang hành động.

Làm ơn, nếu tôi được phép đề nghị, chỉ lắng nghe. Đừng chấp nhận hay phủ nhận; đừng dựng lên những phòng vệ để ngăn cản lắng nghe, bằng cách có những tư tưởng, những niềm tin, những mâu thuẫn riêng của bạn, và tất cả việc đó. Nhưng chỉ lắng nghe. Chúng ta không đang cố gắng thuyết phục bạn về bất kỳ điều gì; chúng ta không đang cưỡng bách bạn qua bất kỳ phương tiện nào để tuân phục vào một ý tưởng, hay một khuôn mẫu, hay một hành động đặc biệt. Chúng ta chỉ đang phát biểu những sự kiện – dù bạn ưa thích hay không ưa thích nó – và điều quan trọng là học hỏi về sự kiện. “Học hỏi” ngụ ý lắng nghe tổng thể, một quan sát trọn vẹn. Khi bạn lắng nghe âm thanh của con quạ (trong cây cối nơi ông ta đang nói), đừng lắng nghe bằng những ồn ào riêng của bạn, bằng những sợ hãi riêng của bạn, bằng những tư tưởng, bằng những ý kiến riêng của bạn, bằng những quan điểm riêng của bạn. Vậy là bạn sẽ thấy rằng không có ý tưởng gì cả, nhưng bạn đang thực sự lắng nghe.

Trong cùng cách, nếu tôi được phép đề nghị, chỉ lắng nghe. Chỉ lắng nghe, không chỉ tầng ý thức bên ngoài nhưng cả tầng ý thức sâu thẳm – mà có lẽ còn quan trọng hơn nhiều. Hầu hết chúng ta đều bị ảnh hưởng. Chúng ta có thể phủ nhận những ảnh hưởng của tầng ý thức bên ngoài; nhưng xóa sạch những ảnh hưởng của tầng ý thức bên trong còn khó khăn vô vàn. Khi bạn đang lắng nghe trong cách này, lúc đó nó là lắng nghe không có cả tầng ý thức bên ngoài lẫn bên trong. Lúc đó bạn chú ý tổng thể. Và chú ý không là chú ý của bạn hay của tôi; nó không thuộc quốc gia, không thuộc tôn giáo, nó không thể phân chia được. Khi bạn đang lắng nghe tổng thể như thế, không ý tưởng; chỉ có một trạng thái lắng nghe. Hầu hết chúng ta làm việc này khi chúng ta đang lắng nghe một điều gì đó khá hay ho, khi có tiếng nhạc cuốn hút, hay khi bạn đang thấy một hòn núi, ánh sáng chiều hôm, hay ánh sáng trên dòng nước, hay một đám mây. Vậy thì trong trạng thái chú ý đó, trong trạng thái đang lắng nghe, đang thấy đó, không có ý tưởng.

Giống như vậy, nếu bạn có thể lắng nghe thật thanh thản, đầy chú ý không nỗ lực đó, vậy thì có lẽ bạn sẽ thấy được sự quan trọng quá nhiều của ý tưởng và hành động. Hầu hết chúng ta hình thành những ý tưởng khi không chú ý. Chúng ta tạo ra hay lập thành những ý tưởng khi những ý tưởng đó cho chúng ta sự an toàn, một ý thức của vĩnh cửu. Và ý thức của vĩnh cửu đó, ý thức của an toàn đó, tạo ra những ý tưởng, và chúng ta tẩu thoát vào những ý tưởng đó; và vì vậy không có hành động. Chúng ta sáng chế hay hình thành những ý tưởng khi chúng ta hoàn toàn không hiểu rõ cái là. Vì vậy những ý tưởng trở thành quan trọng nhiều hơn sự kiện.

Muốn tìm ra, thực sự muốn tìm ra sự thật – liệu có Thượng đế, hay không có Thượng đế, những ý tưởng không có ý nghĩa gì cả. Dù bạn tin tưởng hay không tin tưởng, dù bạn là người có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không có ý nghĩa gì cả. Muốn tìm ra, bạn cần tất cả năng lượng của bạn, năng lượng mà không bị vấy bẩn, không bị hỗn tạp, năng lượng mà không bị biến chất, không bị hư hỏng.

Vì vậy muốn hiểu rõ, muốn tìm ra liệu có một sự việc gọi là sự thật đó mà con người đã tìm kiếm trong nhiều triệu năm, người ta phải có năng lượng – năng lượng tổng thể nguyên vẹn, không bị vấy bẩn. Và để mang lại năng lượng đó, chúng ta phải hiểu rõ nỗ lực.

Hầu hết chúng ta dành cuộc sống của chúng ta trong nỗ lực, trong đấu tranh, và nỗ lực, đấu tranh, cố gắng, là một lãng phí của năng lượng đó. Con người, xuyên suốt lịch sử, đã nói rằng muốn tìm ra sự thật hay Thượng đế đó – bất kỳ cái tên gì có lẽ anh ấy tặng cho nó – bạn phải là một người trong trắng; đó là, bạn phải giữ lời thề sống trong trắng và đè nén, kiểm soát, tranh đấu không ngừng nghỉ với chính bạn suốt cuộc đời để giữ lời thề của bạn. Hãy nhìn sự lãng phí qua năng lượng! Nó cũng là sự lãng phí năng lượng khi buông thả. Và nó còn có ý nghĩa nhiều hơn nữa khi bạn đè nén. Nỗ lực bị lãng phí trong đè nén, trong kiểm soát, trong khước từ ham muốn của bạn này, làm biến dạng cái trí của bạn, và qua biến dạng đó bạn có một ý thức nào đó của mộc mạc, mà trở nên khổ hạnh. Làm ơn hãy lắng nghe. Quan sát nó trong chính bạn và quan sát những con người quanh bạn. Và quan sát sự lãng phí của năng lượng này, sự đấu tranh – không phải những hàm ý của ái ân, không phải hành động thực sự, nhưng những lý tưởng, những hình ảnh, vui thú – sự suy nghĩ liên tục về chúng là một lãng phí của năng lượng. Và hầu hết con người lãng phí năng lượng của họ hoặc qua khước từ, hoặc qua một lời thề trong trắng, hoặc suy nghĩ về nó liên tục.

Con người chịu trách nhiệm – bạn và tôi chịu trách nhiệm – cho sự quy định của xã hội trong đó chúng ta sống. Bạn chịu trách nhiệm, không phải những nhà chính trị của bạn bởi vì bạn đã biến những nhà chính trị thành cái gì họ là – ma mãnh, tự tôn vinh chính họ, tìm kiếm chức vụ và thanh danh – mà là cái gì chúng ta đang làm trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta chịu trách nhiệm cho xã hội. Cấu trúc tâm lý của xã hội còn quan trọng hơn phía bên ngoài được tổ chức của xã hội. Cấu trúc tâm lý của xã hội được dựa vào tham lam, đố kị, thâu lợi, ganh đua, tham vọng, sợ hãi, sự đòi hỏi liên tục này của một con người muốn được an toàn trong mọi liên hệ của anh ấy, an toàn trong tài sản, an toàn trong liên hệ của anh ấy với con người, an toàn trong liên hệ của anh ấy với những ý tưởng. Đó là cấu trúc của xã hội mà con người đã tạo ra. Và sau đó xã hội áp đặt thuộc tâm lý cấu trúc của nó vào mỗi người chúng ta. Tham lam, ganh tị, tham vọng, ganh đua, tất cả việc đó là một lãng phí của năng lượng, bởi vì trong nó luôn luôn có xung đột – xung đột vô tận, như trong một con người ganh tị.

Ganh tị là một ý tưởng. Ý tưởng và sự kiện là hai sự việc khác hẳn. Làm ơn hãy lắng nghe. Bạn tiếp cận cảm thấy được gọi là “ganh tị” qua ý tưởng. Bạn không tiếp cận trực tiếp cùng cảm thấy được gọi là ganh tị. Nhưng bạn tiếp cận sự ganh tị qua ký ức của một từ ngữ nào đó mà bạn đã hình thành trong cái trí của bạn như ganh tị. Nó trở thành một ý tưởng, và ý tưởng đó ngăn cản bạn không tiếp xúc trực tiếp cùng cảm thấy đó mà bạn gọi là ganh tị. Lại nữa, đây là một sự kiện. Vì vậy công thức, ý tưởng, ngăn cản bạn không tiếp xúc trực tiếp cùng cảm thấy đó và vì vậy ý tưởng làm lãng phí năng lượng này.

Vì chúng ta chịu trách nhiệm cho đau khổ, cho nghèo đói, cho chiến tranh, cho thiếu vắng hoàn toàn của hòa bình, một con người tôn giáo không tìm kiếm Thượng đế. Con người tôn giáo quan tâm đến sự thay đổi xã hội mà là chính anh ấy. Con người tôn giáo không là con người mà làm vô số những lễ nghi, tuân theo những truyền thống, sống trong một văn hóa quá khứ và chết rồi, giải thích vô tận kinh Gita hay kinh Bible, liên tục cầu kinh, hay giữ những lời thề. Đó không là một con người tôn giáo; một con người như thế đang tẩu thoát những sự kiện. Con người tôn giáo quan tâm tổng thể, trọn vẹn đến sự hiểu rõ xã hội mà là chính anh ấy. Anh ấy không tách rời xã hội. Tạo ra trong chính anh ấy một thay đổi tổng thể, trọn vẹn có nghĩa là kết thúc trọn vẹn tham lam, ganh tị, tham vọng; và vì vậy anh ấy không lệ thuộc vào những hoàn cảnh, mặc dù anh ấy là kết quả của những hoàn cảnh – thực phẩm anh ấy ăn, những quyển sách anh ấy đọc, những cuộn phim anh ấy xem, những giáo điều, những niềm tin, những nghi lễ tôn giáo, và tất cả những việc như thế. Anh ấy có trách nhiệm; và vì vậy con người tôn giáo phải hiểu rõ chính anh ấy, mà là sản phẩm của xã hội do chính anh ấy đã tạo ra. Vì vậy muốn tìm ra sự thật anh ấy phải khởi đầu ở đây, không phải trong một ngôi đền, không phải trong một hình ảnh – dù hình ảnh đó được chạm khắc bởi bàn tay hay bởi cái trí. Nếu không làm thế nào anh ấy có thể tìm ra một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, một trạng thái mới mẻ?

Hòa bình không là sự mở rộng của luật pháp hoặc quyền lực cai trị. Hòa bình là một cái gì hoàn toàn khác hẳn; nó là một trạng thái bên trong mà không thể đến được bằng cách sửa đổi những hình ảnh bên ngoài, mặc dù thay đổi những hình ảnh bên ngoài cũng cần thiết. Nhưng nó phải khởi đầu bên trong để tạo ra một thế giới khác hẳn. Và muốn tạo ta một thế giới khác hẳn bạn cần năng lượng vô hạn, và lúc này lăng lượng đó đang bị lãng phí trong xung đột liên tục. Vì vậy người ta phải hiểu rõ xung đột này.

Nguyên nhân chính của xung đột là tẩu thoát – tẩu thoát qua ý tưởng. Làm ơn hãy quan sát chính bạn: thay vì giáp mặt – chúng ta tạm nói như thế – ganh tị, ghen tuông, thay vì tiếp xúc trực tiếp cùng nó, bạn nói rằng, “Làm thế nào tôi sẽ vượt khỏi nó? Tôi sẽ làm gì? Những phương pháp giúp đỡ tôi không thể ganh tị là gì?” – tất cả đều là những ý tưởng và vì vậy là một tẩu thoát khỏi sự kiện rằng bạn ganh tị, một chạy trốn khỏi sự kiện rằng bạn ganh tị. Chạy trốn khỏi sự kiện qua những ý tưởng không những lãng phí năng lượng của bạn, mà còn ngăn cản bạn không tiếp xúc trực tiếp cùng sự kiện đó. Bạn phải trao chú ý tổng thể của bạn không qua một ý tưởng. Ý tưởng, như chúng ta đã vạch rõ, ngăn cản chú ý. Vì vậy khi bạn quan sát, hay tỉnh thức được, cảm thấy của ganh tị này, và trao chú ý tổng thể vào nó mà không có những ý tưởng, vậy thì bạn sẽ thấy rằng không chỉ bạn tiếp xúc trực tiếp cùng cảm thấy đó, nhưng bởi vì bạn đã trao chú ý tổng thể của bạn, không qua những ý tưởng, nó không còn hiện diện. Vậy là bạn có năng lượng lớn lao hơn để gặp gỡ biến cố kế tiếp, hay cảm xúc kế tiếp, cảm thấy kế tiếp.

Muốn khám phá, muốn tạo ra một thay đổi trọn vẹn, bạn phải có năng lượng – không phải năng lượng được tạo ra qua đè nén, nhưng năng lượng đó mà đến với bạn khi không còn đang tẩu thoát qua những ý tưởng hay qua đè nén. Thật ra, nếu bạn suy nghĩ về nó, chúng ta biết chỉ có hai cách để gặp gỡ cuộc sống – hoặc chúng ta tẩu thoát khỏi nó hoàn toàn, mà là hình thức ngu dốt dẫn đến loạn thần kinh, hoặc chúng ta đè nén mọi thứ bởi vì chúng ta không hiểu rõ. Đó là tất cả mà chúng ta biết.

Đè nén không chỉ là đặt một nắp đậy lên trên bất kỳ cảm thấy hay bất kỳ cảm xúc nào, nhưng nó còn là một hình thức của giải thích, lý luận thuộc trí năng. Làm ơn hãy quan sát chính bạn và bạn sẽ thấy điều gì đang được nói đúng thực như thế nào. Vì vậy rất cần thiết rằng bạn phải không tẩu thoát. Và đó là một trong những sự việc quan trọng nhất phải tìm ra, không bao giờ tẩu thoát. Đó là một trong những sự việc khó khăn nhất – tìm ra – bởi vì chúng ta tẩu thoát khỏi sự kiện không chỉ bằng cách chạy đến một ngôi đền và mọi việc như thế, nhưng còn qua những từ ngữ, qua những tranh luận, những quan điểm, những đánh giá thuộc trí năng. Chúng ta có quá nhiều cách tẩu thoát khỏi sự kiện. Ví dụ, hãy đưa ra một sự kiện rằng người ta đần độn. Nếu người ta đần độn, đó là một sự kiện. Và khi bạn ý thức rằng bạn đần độn, sự tẩu thoát là cố gắng trở thành khôn ngoan. Nhưng để trở thành nhạy bén, đòi hỏi rằng tổng thể chú ý của bạn được điều khiển đến trạng thái của cái trí mà đần độn đó.

Vì vậy chúng ta cần năng lượng, mà không là kết quả của bất kỳ mâu thuẫn, bất kỳ căng thẳng, nhưng năng lượng hiện diện khi không có nỗ lực. Làm ơn hiểu rõ một sự thật rất thực sự và đơn giản này: chúng ta lãng phí năng lượng của chúng ta qua nỗ lực, và lãng phí của năng lượng đó qua nỗ lực ngăn cản chúng ta không tiếp xúc trực tiếp cùng sự kiện. Khi tôi đang tạo ra một nỗ lực khủng khiếp để lắng nghe bạn, mọi năng lượng của tôi đều dồn trong việc tạo ra nỗ lực, và tôi thực sự không đang lắng nghe. Khi tôi tức giận hay mất kiên nhẫn, mọi năng lượng của tôi đều dồn trong cố gắng để nói, “Tôi phải không tức giận.” Nhưng khi tôi chú ý tổng thể vào tức giận, hay trạng thái của cái trí đó, bằng cách không tẩu thoát qua những từ ngữ, qua những chỉ trích, qua những nhận xét, vậy thì trong trạng thái của chú ý đó có một tự do khỏi sự việc được gọi là tức giận đó. Vì vậy chú ý đó mà là tổng thể của năng lượng không là nỗ lực. Chỉ có cái trí không nỗ lực đó là cái trí tôn giáo. Và, vì vậy, chính cái trí đó một mình có thể tìm ra liệu rằng có, hay liệu rằng không có, Thượng đế.

Vậy thì có một nhân tố khác: chúng ta là những con người bắt chước. Không có gì khởi nguồn. Chúng ta là kết quả của thời gian, của nhiều, nhiều ngày hôm qua. Từ niên thiếu chúng ta đã được nuôi dưỡng để bắt chước, để vâng lời, sao chép lại truyền thống, tuân theo những quyển kinh thánh, tuân theo uy quyền. Chúng ta không đang nói về uy quyền của luật pháp mà phải được tuân theo, nhưng chúng ta đang nói về uy quyền của những quyển kinh thánh, uy quyền tinh thần, khuôn mẫu, công thức. Chúng ta vâng lời và bắt chước.

Khi bạn bắt chước – mà là tuân phục ở bên trong vào một khuôn mẫu, dù bị áp đặt bởi xã hội, hay bởi chính bạn qua trải nghiệm riêng của bạn – tuân phục như thế, bắt chước như thế, vâng lời như thế, hủy diệt sự tinh khiết của năng lượng. Bạn bắt chước, bạn tuân phục, bạn vâng lời uy quyền, bởi vì bạn bị sợ hãi. Một con người mà hiểu rõ, thấy rõ, rất chú ý, không sợ hãi; vì vậy anh ấy không có lý do để bắt chước. Anh ấy là chính anh ấy – dù anh ấy có là gì chăng nữa – tại mỗi khoảnh khắc.

Vì vậy bắt chước, tuân phục một khuôn mẫu tôn giáo, hay không tuân phục một khuôn mẫu tôn giáo nhưng tuân phục trải nghiệm riêng của người ta, vẫn còn là kết quả của sợ hãi. Và một con người bị sợ hãi – dù sợ hãi Thượng đế, dù sợ hãi xã hội, dù sợ hãi chính anh ấy – một con người như thế không là con người tôn giáo. Và một con người chỉ có được tự do khi không có sợ hãi. Vì vậy, anh ấy phải tiếp xúc trực tiếp cùng sợ hãi, không phải qua ý tưởng của sợ hãi.

Tổng thể của năng lượng cốt lõi, không băng hoại, không vấy bẩn chỉ có thể hiện diện khi bạn phủ nhận. Tôi không biết liệu bạn có thấy rằng khi bạn phủ nhận một cái gì đó không như một phản ứng, chính phủ nhận đó sáng tạo năng lượng. Khi bạn phủ nhận, ví dụ như, tham vọng – không phải bởi vì bạn muốn có tinh thần, không phải bởi vì bạn muốn sống an bình, không phải bởi vì bạn muốn Thượng đế hay bất kỳ điều gì khác, nhưng chỉ cho chính nó – khi bạn thấy bản chất hủy diệt hoàn toàn của xung đột liên quan trong tham vọng và phủ nhận nó, chính phủ nhận đó là năng lượng. Tôi không biết liệu có khi nào bạn phủ nhận bất kỳ điều gì không. Khi bạn phủ nhận một vui thú đặc biệt – ví dụ như thế, khi bạn phủ nhận vui thú hút thuốc lá, không phải bởi vì bác sĩ bảo bạn rằng nó không tốt cho hai lá phổi của bạn, không phải bởi vì bạn không có tiền để hút liên tục trong một ngày, không phải bởi vì bạn bị trói buộc trong một thói quen nô lệ, nhưng bởi vì bạn thấy nó không có ý nghĩa – khi bạn phủ nhận nó mà không có một phản ứng, chính phủ nhận đó mang lại một năng lượng. Tương tự như vậy, khi bạn phủ nhận một xã hội – không chạy trốn khỏi nó như một ẩn sĩ, thầy tu, mà những con người tạm gọi là tôn giáo thực hiện, khi bạn phủ nhận trọn vẹn cấu trúc tâm lý của xã hội – từ phủ nhận đó bạn có năng lượng vô biên. Chính động thái phủ nhận đó là năng lượng.

Lúc này vì chính bạn đã thấy, hay đã hiểu rõ, hay đã lắng nghe, bản chất của xung đột, nỗ lực, mà làm lãng phí năng lượng. Và bạn đã hiểu rõ hay đã nhận ra, không phải bằng từ ngữ nhưng thực sự, ý nghĩa của năng lượng này mà không là kết quả của xung đột, nhưng năng lượng mà hiện diện khi cái trí đã hiểu rõ toàn mạng lưới của những tẩu thoát, đè nén, xung đột, bắt chước, sợ hãi. Vậy thì bạn có thể tiến tới, vậy thì bạn có thể khởi đầu tìm ra cho chính bạn điều gì là sự thật, không phải như một tẩu thoát, không phải như một phương tiện lẩn tránh trách nhiệm của bạn trong thế giới này. Bạn chỉ có thể tìm ra điều gì là sự thật, điều gì là tốt lành – nếu có tốt lành – không phải qua niềm tin, nhưng qua thay đổi chính bạn trong liên hệ của bạn với tài sản của bạn, với con người, và với những ý tưởng, và vì vậy được tự do khỏi xã hội. Chỉ đến lúc đó bạn mới có năng lượng đó để tìm ra, không bằng tẩu thoát hay đè nén.

Nếu bạn đã đi xa như thế rồi, vậy thì bạn phải bắt đầu tìm ra bản chất của kỷ luật, mộc mạc mà người ta có, hoặc do truyền thống, hoặc bởi vì bạn đã hiểu rõ. Có một tiến hành tự nhiên của mộc mạc, một tiến hành tự nhiên của kỷ luật, mà không là khổ hạnh, mà không là tuân phục, mà không chỉ đang bắt chước một thói quen vui thú đặc biệt. Và khi bạn đã làm được việc này, bạn sẽ phát giác rằng có một thông minh trong hình thái tột đỉnh của nhạy cảm. Nếu không có nhạy cảm này, bạn không có vẻ đẹp.

Một cái trí tôn giáo phải tỉnh thức được ý thức lạ thường này của nhạy cảm và vẻ đẹp. Cái trí tôn giáo mà chúng ta đang nói hoàn toàn khác hẳn cái trí tôn giáo của truyền thống. Bởi vì đối với một cái trí tôn giáo của truyền thống không có vẻ đẹp; anh ấy hoàn toàn không ý thức về thế giới trong đó chúng ta sống – vẻ đẹp của thế giới, vẻ đẹp của quả đất, vẻ đẹp của quả đồi, vẻ đẹp của một cái cây, vẻ đẹp của một khuôn mặt xinh xinh với nụ cười trên nó. Đối với anh ấy vẻ đẹp là quyến rũ; đối với anh ấy vẻ đẹp là người phụ nữ, mà anh ấy phải lẩn tránh bằng mọi cách để tìm ra Thượng đế. Một cái trí như thế không là một cái trí tôn giáo, bởi vì nó không nhạy cảm đến thế giới – đến thế giới của vẻ đẹp, đến thế giới của dơ bẩn. Bạn không chỉ nhạy cảm đến vẻ đẹp, bạn cũng phải nhạy cảm đến bẩn thỉu, đến dơ dáy, đến cái trí con người vô tổ chức. Nhạy cảm có nghĩa nhạy cảm tổng thể, không chỉ trong một phương hướng đặc biệt. Vì vậy một cái trí mà trong chính nó không ý thức được vẻ đẹp này, không thể tiến xa thêm nữa. Phải có chất lượng nhạy cảm này.

Vậy thì một cái trí như thế, mà là cái trí tôn giáo, hiểu rõ bản chất của chết. Bởi vì nếu nó không hiểu rõ chết, nó không hiểu rõ tình yêu. Chết không là sự kết thúc của cuộc sống. Chết không là một sự kiện bị tạo ra bởi bệnh tật, bởi lão suy, bởi tuổi già, hay bởi tai nạn. Chết là một cái gì đó mà bạn sống hàng ngày cùng nó, bởi vì bạn đang chết mỗi ngày với mọi sự việc mà bạn biết. Nếu bạn không biết chết, bạn sẽ không bao giờ biết tình yêu là gì.

Tình yêu không là ký ức, tình yêu không là một biểu tượng, một bức tranh, một ý tưởng; tình yêu không là một hành động từ thiện; tình yêu không là một đức hạnh. Nếu có tình yêu bạn là người có đức hạnh; bạn không phải đấu tranh để có đức hạnh. Nhưng không có tình yêu, bởi vì bạn không bao giờ hiểu rõ chết là gì – chết đi trải nghiệm của bạn, chết đi những vui thú của bạn, chết đi hình thái đặc biệt của ký ức bí mật mà bạn không ý thức được. Và khi bạn mang ra tất cả việc đó và chết đi mỗi phút – chết đi ngôi nhà của bạn, chết đi những ký ức của bạn, chết đi những vui thú của bạn – một cách tự nguyện và dễ dàng và không nỗ lực, lúc đó bạn sẽ biết tình yêu là gì.

Và nếu không có vẻ đẹp, nếu không có ý thức của chết, nếu không có tình yêu, bạn sẽ không bao giờ tìm được sự thật; dù bạn làm gì chăng nữa, đi đến mọi đền chùa, theo sau mọi vị đạo sư bị sáng chế bởi mọi con người dốt nát, bạn sẽ không bao giờ tìm ra sự thật theo lối đó. Sự thật là sáng tạo.

Sáng tạo không có nghĩa sinh ra những em bé, hay vẽ một bức tranh, hay viết một bài thơ, hay nấu một món ăn ngon. Đó không là sáng tạo, đó chỉ là kết quả của tài năng đặc biệt, một thiên tài hay học một kỹ thuật đặc biệt. Một sáng chế không là sáng tạo. Sáng tạo chỉ có thể được khi bạn chết đi thời gian; đó là khi không có ngày mai. Sáng tạo chỉ có thể xảy ra khi có sự tập hợp toàn bộ của năng lượng mà không có chuyển động nào bên trong hay bên ngoài.

Làm ơn theo sát điều này. Dù bạn hiểu rõ hay không hiểu rõ nó đều không đặt thành vấn đề. Cuộc sống của chúng ta quá tầm thường, quá đau khổ; có quá nhiều thất vọng và quá nhiều phiền muộn. Chúng ta đã sống được hai triệu năm, và chẳng có gì mới mẻ cả. Chúng ta chỉ biết lặp lại, nhàm chán, và sự vô ích hoàn toàn của mỗi hành động mà chúng ta làm. Muốn tạo ra một cái trí mới mẻ, một ý thức của hồn nhiên, một ý thức của trong sáng, phải có nhạy cảm này, chết và tình yêu này, và sáng tạo đó. Sáng tạo đó chỉ có thể xảy ra khi có năng lượng tổng thể này mà không có chuyển động trong bất kỳ phương hướng nào.

Hãy nhìn! Khi cái trí đối diện một vấn đề, nó luôn luôn đang tìm kiếm một phương cách ra khỏi bằng cách cố gắng giải quyết nó, thắng thế nó, đi quanh nó hay vượt khỏi nó hay trên nó, bằng cách luôn luôn làm một cái gì đó với vấn đề, chuyển động bên ngoài hay bên trong. Nếu nó không chuyển động trong bất kỳ phương hướng nào – khi không có chuyển động gì cả, bên trong hay bên ngoài, nhưng chỉ có vấn đề đó – vậy thì sẽ có một nổ tung trong vấn đề đó. Bỗng nhiên bạn làm việc đó và bạn sẽ thấy sự thật của điều gì đang được nói – mà bạn không phải tin tưởng, tranh cãi hay không tranh cãi. Không có uy quyền ở đây.

Vì vậy khi có sự tập hợp năng lượng này mà là kết quả của không nỗ lực, và khi năng lượng đó không chuyển động trong bất kỳ phương hướng nào, tại khoảnh khắc đó có sáng tạo. Và sáng tạo đó là sự thật, Thượng đế, hay bất kỳ điều gì bạn muốn – lúc đó từ ngữ không có ý nghĩa gì. Vậy thì nổ tung đó, sáng tạo đó, là hòa bình; bạn không phải tìm kiếm hòa bình. Sáng tạo đó là vẻ đẹp. Sáng tạo đó là tình yêu.

Chỉ một cái trí tôn giáo như thế có thể tạo ra một trật tự trong thể giới đau khổ, hỗn loạn này. Và đó là trách nhiệm của bạn – của bạn mà không phải của ai khác – khi đang sống trong thế giới này, tạo ra một cuộc sống sáng tạo như thế. Và chỉ một cái trí như thế là cái trí tôn giáo và cái trí thiêng liêng.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/06/2022(Xem: 336)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
07/12/2021(Xem: 1735)
Triết học Phật giáo và Cơ học Lượng tử luôn có sự hỗ tương cho nhau. * Sự kỳ lạ của Cơ học Lượng tử đến mức thách thức các nhà khoa học và triết học tìm hiểu một số nhận thức sâu sắc hơn về bản chất của thực tế. * Một nỗ lực để tìm cách diễn giải Copenhagen, và một số người tin rằng cách lý giải này dựa vào Thế giới quan Phật giáo. * Mặc dù tôi là một Phật tử nhưng tôi phản bác quan điểm vật lý học chứng minh Thế giới quan Phật giáo.
17/11/2021(Xem: 6707)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
14/11/2021(Xem: 5346)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 3615)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/2021(Xem: 4271)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/2021(Xem: 3976)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/2021(Xem: 6235)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
22/08/2021(Xem: 1569)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/2021(Xem: 1848)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
91,799,309